tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19306559
11.04.2013
Hà Văn Thùy
Tìm cội nguồn qua di truyền học (8)

Cuốn sách nhỏ bàn vấn đề lớn


PGS, TS Hoàng Xuân Chinh


Tìm lại cội nguồn văn hoá Việt (NXB Văn học. 2007) có độ dày khá khiêm tốn, chỉ trên 180 trang khổ 14,5cm x 20,5cm được chia làm 2 phần. Phần đầu bàn về Nguồn gốc người Việt, phần sau bàn về Cội nguồn văn hoá Việt Nam.


Chỉ hai phần đơn giản thế thôi, song trong đó chứa đựng tư liệu của rất nhiều bộ môn cả khoa học xã hội lẫn khoa học tự nhiên như nhân chủng học, di truyền học, khảo cổ học, sử học, ngôn ngữ học, địa chất học.v.v... Tác giả đã sử dụng tư liệu từ xa xưa như Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Việt sử tiêu án của Ngô Thời Sĩ, những tư liệu trước Cách mạng Tháng 8 như Việt Nam sử lược của Trân Trọng Kim, của L. Aurousseau và khá nhiều tư liệu của các học giả ở miền Nam trước ngày đất nước thống nhất năm 1975 như cuốn Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam của Bình Nguyên Lộc, các cuốn sử của Phạm Văn Sơn, sách của Kim Định, Nguyễn Đăng Thục, v.v... cùng nhiều sách của các học giả như các công trình của W.G. Solheim II, C. Sauer, J.Y. Chu, Bing Su, W. Kim, S.W. Ballinger, Jin Li, Peter Savolainen, Stephen Oppenheimer, v.v...


Trước một khối lượng tư liệu đồ sộ từ nhiều nguồn khác nhau như vậy, tôi lần đọc trích yếu lý lịch của tác giả ở trang bìa: Hà Văn Thùy quê gốc lúa Thái Bình, sinh trước Cách mạng Tháng 8 một năm, tốt nghiệp Khoa Sinh Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1967. Ra nghề, không làm công việc của ngành sinh học, mà chuyên về văn, thơ. Từng làm việc tại Hội Văn nghệ Thái Bình, Kiên Giang rồi báo Văn nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam. Và cũng đã có tác phẩm đủ các lãnh vực thơ, tiểu thuyết, biên khảo, dịch thuật, phê bình và tiểu luận. Cuốn Tìm lại cội nguồn văn hoá Việt là tác phẩm gần đây nhất của ông.


Càng đọc tôi càng phục khả năng đọc và viết của ông. Ngành văn thơ vốn là nghề tay trái của ông mà đã có những công trình đủ loại như vậy, nếu ngay từ đầu hiến thân cho ngành tay phải chắc là đã có nhiều đóng góp to lớn cho ngành sinh học. Ngay cuốn sách này, theo tôi chính là xuất phát từ những kiến thức sinh học mà ông đã tiếp thu từ những ngày ngồi trên ghế nhà trường. Vì thế, tuy công trình dẫn ra rất nhiều nguồn tư liệu, nhưng kết luận cuối cùng của ông chính là dựa trên tư liệu di truyền học (?).


Như phần trên đã nói, công trình này đã đề cập một vấn đề vô cùng quan trọng mà không phải các nhà khoa học cần và phải giải đáp mà cũng là nguyện vọng của bất cứ một người con dân đất Việt nào ở trong hay ngoài nước đều muốn biết. Đặc biệt là những người dân Việt sống xa tổ quốc lại càng quan tâm tìm hiểu cội nguồn dân tộc. Trong những năm tháng trước giải phóng miền Nam - 1975, có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này, chẳng hạn như Nguyễn Phương có các bài: Tiến trình hình thành của dân tộc Việt Nam, Việt Nam thời khai sinh; Trở lại bài lịch sử Lạc Việt; Nghiêm Thẩm có bài Nguồn gốc văn minh Việt Nam; Đỗ Trọng Huề có bài Đi tìm dấu vết Hùng Vương; Hồ Hữu Tường có bài Đi tìm nguồn gốc dân tộc, v.v... Và ngay trên miền Bắc nước ta trong những ngày kháng chiến chống Mỹ ác liệt nhất, toàn ngành khảo cổ, sử học, dân tộc học cùng một số ngành liên quan khác đã tập trung một số năm nghiên cứu về thời kỳ dựng nước đầu tiên của dân tộc: Thời Hùng Vương. Chính nhờ đợt nghiên cứu tập trung này mà Thời kỳ Hùng Vương từ trong mây mù huyền thoại đã được đưa vào chính sử...


Nói như vậy để thấy rằng tác giả Hà Văn Thùy đã đề cập một vấn đề cấp thiết mà mỗi người dân Việt bất cứ ở đâu, làm bất cứ công việc gì đều muốn biết.


Nhưng, đúng đây là một vấn đề vừa rộng vừa khó nên ít người muốn xông vào nên có hiện tượng đúng như Xuân Cang nói về hai công trình Việt Lý Tố Nguyên và Cơ cấu Việt Nho của Lương Kim Định bị chìm trong im lặng. Thực ra, thì vấn đề Nguồn gốc dân tộc Việt Nam luôn được đề cập trong các công trình khảo cổ và lịch sử thời kỳ tiền sơ sử, nhưng thường chỉ được gói gọn trong tư liệu cổ nhân học và khảo cổ học phát hiện được trong những năm gần đây có sự đối chiếu với truyền thuyết trong các thư tịch xưa.


Cuốn sách mà tác giả dẫn ra khá nhiều tài liệu về các ngữ hệ ngôn ngữ từ Môn - Khme, Mèo - Dao, Tày - Thái đến Tạng - Miến, Mã Lai - Đa Đảo, Việt - Mường, các tài liệu về nhân chủng như đại chủng Mongoloid, Australoid, người Melanesien, Indonesien và Nam Á thuộc loại hình nhân chủng Mongoloid phương Nam và loại bình Mongoloid phương Bắc, cùng các thần thoại về Tam Hoàng, Ngũ Đế, về nước Xích Quỷ, về người Viêm Việt, về Xi Vưu, Đế Lai, Đế Minh, v.v... và đặc biệt tác giả đã dựa vào tư liệu di truyền học hiện đại của các học giả phương Tây vạch ra con đường thiên di của các dòng người Đông Nam Á diễn ra với hai giai đoạn. “Giai đoạn đầu là cuộc Bắc tiến mang theo rìu đá, giống lúa, khoai sọ, giống gà, giống chó đi mở mang khai thác lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử... Giai đoạn hai, mà sử sách gọi là cuộc Nam tiến, thì thực chất là những dòng người Đông Nam Á sau hàng vạn năm khai khẩn mở mang vùng đất mới, bị kẻ xâm lược xua đuổi, trở về mái nhà xưa, trở lại quê gốc của mình”.


Đối với người Việt thì “Khoảng 40.000 năm trước, trong dòng di cư chung của người Đông Nam Á, người Việt từ miền Trung và miền Bắc Việt Nam tiến lên phía Bắc, trở thành nhân tố chủ đạo trong dòng Bách Việt. Người Việt làm nông nghiệp lúa nước, quần tụ quanh vùng Thái Sơn, sông Nguồn. Tại đây người Bách Việt hình thành quốc gia lỏng lẻo, tôn Toại Nhân, Phục Hy, Nữ Oa những bậc á thánh làm vua, tiếp sau là Thần Nông Viêm Đế. Kế tục Thần Nông là Đế Minh, Đế Nghi, Đế Lai ở phía Bắc và Kinh Dương Vươn, Lạc Long Quân ở phía Nam. Thời kỳ này người Mông ở phía bắc và liên tục xâm lấn, thường xuyên xẩy ra tranh chấp.”


“Khoảng năm 2.600 trước Công nguyên, trong trận Trác Lộc, Đế Lai tử trận, người Mông thắng, tôn Hoàng Đế làm vua. Quân Bách Việt thua trận theo Âu Cơ con gái Đế Lai chạy xuống nước Xích Quỷ phía Nam sông Dương Tử. Một bộ phận theo cha Lạc Long Quân chạy ra biển trở về Việt Nam.” (Xem trang 52, 53)


Tóm lại, sau khi trích dẫn nhiều loại tài liệu, tác giả đi đến kết luận là từ rất sớm, cư dân Đông Nam Á thiên di lên đến miền bắc Trung Quốc, về sau bị dân du mục ở phía tây bắc tràn vào phải rút lui về phương nam. Người Việt là một trong số cư dân Đông Nam Á đó đã từng làm chủ đất Trung Quốc. Về sau bị xua đuổi mà phải trở về đất cũ ở phương nam. Những kết luận này làm nổi bật vai trò của dân tộc Việt cũng như văn hoá Việt đã một thời góp phần tạo nên văn minh Trung Hoa.


Ở đây, do phạm vi của một bài báo nhỏ và cũng là do có nhiều tư liệu như di truyền học hiện đại tôi gần như không có tư liệu nên chỉ xin nêu lên một số vấn đề quanh cội nguồn dân tộc và văn hoá Việt mà thôi.


Trước hết, theo tôi để giải quyết vấn để trên thì tư liệu cổ nhân học và tư liệu khảo cổ học là hai nguồn tư liệu quan trọng nhất, còn các tài liệu khác chỉ là góp phần tham khảo, nó chỉ thật sự có giá trị khi có sự phù hợp giữa chúng với hai loại tư liệu trên. Bởi vì tài liệu cổ nhân loại và tài liệu khảo cổ là những tư liệu thực bằng vật chất từ thời đó để lại, còn truyền thuyết, huyền thoại là những câu chuyện được hình thành sau này, còn tài liệu dân tộc học hay ngôn ngữ học là những gì còn lại hiện nay nó đã thay đổi biến dị khá nhiều so với nguyên gốc.


Thứ hai, mối giao lưu trao đổi cũng như sự dịch chuyển của một bộ phận cư dân qua các thời kỳ là việc xẩy ra thường nhật, nhất là ở một vị trí như nước ta có thể trao đổi từ đất liền ra hải đảo, từ bắc xuống nam hay trái lại từ hải đảo vào đất liền, từ Nam lên Bắc. Nhưng qua di cốt sọ cùng bộ mặt văn hoá vật chất thể hiện trên tư liệu khảo cổ, có thể thấy trên đất nước ta đã tìm thấy xương răng cùng công cụ đá của con người sơ kỳ thời đại đá cũ sống cách ngày này năm sáu chục vạn năm, tương đương người vượn Bắc Kinh. Và trên đất nước ta con người có mặt suốt trong các thờì kỳ đá mới, thời đại đồng thau và thời đại sắt cho mãi tới ngày nay.Và ngay trên đất Trung Quốc cũng vậy, cả trên lưu vực sông Hoàng Hà lẫn lưu vực sông Dương Tử và Hoa Nam suốt từ sơ kỳ thời đại đá cũ cho đến các thời kỳ đồ đá mới, đồ đồng, đồ sắt sau đó luôn luôn có con người cư trú. Giữa các vùng này luôn có sự giao lưu trao đổi qua lại hai chiều, song bộ mặt văn hoá mỗi vùng vẫn có những đặc trưng riêng không thể lẫn được. Những tư liệu trên cho thấy không có một dòng thiên di lớn từ vùng Đông Nam Á lên miền bắc Trung Quốc trong lịch sử.


Lấy văn hoá Hoà Bình làm ví dụ, văn hoá Hoà Bình phân bố rộng rãi khắp vùng Đông Nam Á lục địa và một phần vùng Lưỡng Quảng Trung Quốc, và đựơc xem là văn hoá đặt nền móng cho văn hoá thời tiền sử Đông Nam Á. Vùng núi Lưỡng Quảng trong khái niệm địa chất được các nhà khoa học xếp vào Đông Nam Á. Trên vùng sông Dương Tử và lưu vực Hoàng Hà không hề có dấu tích văn hoá Hoà Bình. Đó là về thời tiền sử.


Còn trong thời dựng nước đầu tiên cuả dân tộc ta: Thời Hùng Vương các nhà nghiên cứu của nhiều ngành đã qua nhiều cuộc thảo luận trao đổi, đối chiếu nhiều nguồn tư liệu khác nhau đã đi đến những nhận định khá thống nhất. Văn hoá Đông Sơn là văn hoá vật chất của thời dưng nước đầu tiên của dân tộc, mà truyền thuyết gọi là Thời Hùng Vương. Trước đó tại các lưu vực sông Hồng, sông Mã và sông Cả đã có một quá trình phát triển liên tục văn hoá thời đại đồng thau để hoà hợp thành văn hoá Đông Sơn mở đầu vào khoảng một hai thế kỷ đầu Thiên niên kỷ I trước Công nguyên. Trước đây các học giả phương Tây cho văn hoá Đông Sơn bắt nguồn từ văn hoá sông Hoài thời Chiến Quốc bên Trung Quốc hoặc tận vùng Han Tát bên trời Âu. Nhưng tư liệu khảo cổ phát hiện trong vài chục năm lại đây đã chứng minh một cách hùng hồn văn hoá Đông Sơn có nguồn gốc bản địa, văn hoá Đông Sơn được phát triển lên từ các văn hoá thời đại đồng thau ở Bắc bộ và bắc Trung bộ.


Thời kỳ hình thành nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng trong Thiên niên kỷ I và II trước Công nguyên là thời kỳ ra đời của nhà Thương và nhà Chu ở Trung Quốc. Trong giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên mở đầu thời Tiền Đông Sơn (khoảng 4000 – 3500 năm trước) cư dân Phùng Nguyên mới biết đến kỹ thuật luyện đúc đồng thì thời Thương họ đã đúc được những chiếc đỉnh đồng nặng tới 700kg. Và cũng cần nói thêm phong cách văn hoá giữa hai vùng hoàn toàn khác nhau. Trống đồng là biểu tượng của nền văn minh Việt cổ, còn văn minh Hoa Hạ làm gì có trống đồng. Nhân đây cũng cần nói thêm vấn đề Bách Việt. Bách Việt là tên phiếm chỉ người Hán dùng để chỉ một số nước nhỏ ở Hoa Nam trước lúc nhà Tần thống nhất vào Trung Quốc. Đó là Ngô Việt ờ vùng Chiết Giang, Mân Việt ở vùng Phúc Kiến, Nam Việt ở vùng Quảng Đông, Quế Việt ở vùng Quảng Tây, Điền Việt ở vùng Vân Nam, và Lạc Việt ở Việt Nam. Trên đất Sơn Đông làm gì có dân Việt nào. Các dân tộc ở phía nam sông Dương Tử về văn hoá, tộc người khá khác với người Hán vùng Hoa Hạ, mà trái lại có nhiều nét gần gũi với người Việt Nam. Trải qua mấy ngàn năm sống chung lẫn lộn trong cộng đồng dân tộc Trung Quốc, nhưng ngày nay vẫn dễ dàng phân biệt dân Hoa Bắc và dân Hoa Nam.


Tôi trình bày kỹ một số tình hình như vậy để muốn nói rằng, trong các thời kỳ, các dân tộc đều có sự giao lưu trao đổi, dịch chuyển nơi cư trú, nhưng cư dân và nền văn hoá bản địa luôn đóng vai trò chủ thể, do đó cần phải thận trọng sử dụng học thuyết thiên di để giải thích tìm nguồn gốc của dân tộc và cội nguồn văn hoá. Trước đây nhiều nhà nghiên cứu phương Tây khi nghiên cứu tìm hiểu cội nguồn các nền văn hoá của các dân tộc thường bị ảnh hưởng của thuyết thiên di chi phối. Những phát hiện khảo cổ cũng như cổ nhân loại học những năm gần đây cho thấy nhiều trường hợp không thoả đáng, thậm chí sai lầm.


Trong cuốn sách mà tác giả Hà Văn Thùy đã sử dụng nhiều tài liệu, nhưng phải nói rằng tác giả quá chú ý đến tài liệu truyền thuyết hay những tư liệu quá xưa, hoặc của những người đề cập những vấn đề không phải là chuyên môn của họ, mà ít những tư liệu cập nhật về cổ nhân cũng như khảo cổ. Chẳng hạn ngày nay tư liệu về cổ nhân cũng như khảo cổ đều cho thấy trên châu Âu, Nam Á, Đông Nam Á, Bắc Á đều phát hiện di cốt của cả một quá trình biến diễn từ Người vượn đứng thẳng (Homo erectus) qua Người hiện đại cũ (Homo sapiens) sang Người hiện đại mới (Homo sapiens sapiens). Những tư liệu đó cùng với tư liệu khảo cổ cho thấy ngay từ thời tối cổ cũng không hề có một dòng thiên di từ châu Phi qua Nam Á rồi sang Đông Nam Á, từ đây lại chuyển lên phía bắc. Có thể trước đây có một vài người theo thuyết Một nguồn gốc nêu lên như vậy, nhưng những phát hiện ngày nay đã khác.


Còn cư dân châu Đại Dương và châu Mỹ thì cho đến nay ở các nơi đó chưa phát hiện được di cốt và văn hoá của con người thời tối cổ, mà chỉ mới phát hiện được dấu tích văn hoá và di cốt của con người cách ngày nay vài vạn năm nên các nhà nghiên cứu cho rằng cư dân tiền sử châu Á đã bằng bè mảng theo gió mùa hoặc qua eo bể Bering tiến sang châu Đại Dương và châu Mỹ.


Có một số tư liệu tác giả cần chính xác hơn. Chẳng hạn ông W.G. Solheim II không phải là nhà nhân chủng học, mà thuần tuý là nhà khảo cổ học Mỹ, giảng dạy ở Đại học Ha-oai. Ông đã đến thăm Việt Nam và tôi cũng đã từng trao đổi với ông nhiều vấn đề về khảo cổ Việt Nam và Đông Nam Á, chẳng hạn như ông cho văn hoá Sa Huỳnh là từ hải đảo vào, mà các nhà nghiên cứu chúng ta có đủ tư liệu chứng minh, văn hoá Sa Huỳnh là một văn hoá bản địa có sự góp mặt từ một vài nguồn khác.


Hoặc tác giả viết: “... những di vật để lại trong hang núi Đọ” (tr.74). Thật ra Núi Đọ không phải là núi đá vôi như ở văn hoá Hoà Bình - Bắc Sơn, mà núi Đọ là núi đá ba dan và đất, công cụ Núi Đọ được làm từ đá ba dan chủ yếu nhặt trên sườn núi.


Ở trang 53 tác giả đã viết: “Khoảng 40.000 năm trước, trong dòng di cư chung của người Đông Nam Á, người Việt từ miền Trung và miền Bắc Việt Nam tiến lên phía Bắc, trở thành nhân tố chủ đạo trong dòng Bách Việt. Người Việt làm nông nghiệp lúa nước, quần tụ quanh vùng Thái Sơn, sông Nguồn. Tại đây người Bách Việt hình thành quốc gia lỏng lẻo...” (tr.53). Trong đoạn văn ngắn này có vài vấn đề phải bàn.


Thứ nhất, khoảng 40.000 năm trước người Việt chưa hình thành, vì lúc này con người đang trong giai đoạn cuối để hoàn thành quá trình hình thành con người về mặt sinh học và bắt đầu hình thành các đại chủng, cư dân sinh sống trên miền trung và bắc Việt Nam lúc bấy giờ chưa phải là người Việt.


Thứ hai, lúc này cả thế giới, chứ nói gì đến người Việt đã làm gì có nông nghiệp, mà lại là nông nghiệp trồng lúa nước.


Nhân đây cũng xin nói thêm về sự ra đời của nông nghiệp. Trước đây có tài liệu đều nói cư dân văn hoá Hoà Bình sinh sống bằng săn bắn và hái lượm, nhưng đến những năm 60 của thế kỷ XX sau khi nhà khảo cổ học người Mỹ C.Gorman đào một di tích thuộc văn hoá Hoà Bình trong Hang Ma, miền bắc Thái Lan đã phát hiện được một số hạt và phấn hoa của một số cây rau quả như bầu, đậu, dưa chuột, củ ấu, trám v.v... một số nhà nghiên cứu trong đó có tôi nghĩ rằng cư dân văn hoá Hoà Bình đã biết đến nông nghiệp sơ khai, mà là nông nghiệp làm vườn trồng cây rau củ. Tuy vậy, các nhà nghiên cứu nước ta nhận định về sự ra đời của nông nghiệp sơ khai trong bối cảnh văn hoá Hoà Bình khá dè dặt. Còn nông nghiệp trồng lúa nước ở ta cho đến nay chỉ mới phát hiện được dấu tích hạt lúa và vỏ trấu trong một số di tích văn hoá Phùng Nguyên là có niên đại sớm hơn cả. Hầu như các nhà nghiên cứu về nông nghiệp cổ đều cho Đông Nam Á là nơi phát sinh của nông nghiệp trồng lúa nước, còn sớm nhất ở nước nào thì chưa thống nhất được. Di tích Hà Mẫu Độ ở gần Thượng Hải có niên đại khoảng trên 5.000 năm đã tìm được dấu tích hạt lúa. Ở Thái Lan cũng đã tìm được dấu tích lúa khá sớm.


Thứ ba là thời Toại Nhân, Phục Hy, Nữ Oa làm gì đã thành lập được nhà nước kể cả còn lỏng lẻo. Ở Trung Quốc nhà nước đầu tiên là nhà Hạ cũng chỉ có niên đại khoảng trên dưới 2.000 năm trước Công nguyên để phát triển thành nhà Thương tiếp sau đó. Ở ta, nhà nước Văn Lang cũng chỉ mới hình thành vào khoảng đầu Thiên niên kỷ I trước Công nguyên. Các nước Việt khác trong khối Bách Việt như Điền Việt, Mân Việt cũng có tình hình tương tự.


Qua đó có thể nói nguồn gốc dân tộc Việt Nam là từ cư dân bản địa đã sinh sống lâu đời trên đất nước ta. Cư dân này trong thời đại đá mới là ngươì Melanesien và Indonesien thuộc loại hình Mongoloid phương Nam. Sang thời đại kim khí do sự cộng cư hoà đồng cùng cư dân Hoa Nam tràn xuống, yếu tố Mongoloid ngày càng đậm thêm thành chủng người Nam Á.Với vị trí nằm ở giữa con đường giao lưu đông tây nam bắc thường xuyên có mối giao lưu giữa các nhóm người và các nền văn hoá xung quanh, song yếu tố con người và văn hoá bản địa luôn chiếm địa vị chủ đạo.


Vì thế tôi nghĩ rằng, đất nước ta trước, trong và sau thời dựng nước đầu tiên của dân tộc luôn là nơi tiếp nhận các yếu tố nhân chủng và văn hoá mới để góp phần cùng cư dân và văn hoá bản địa tạo nên bộ mặt dân tộc và văn hoá mới.


Như phần trên đã nói, cho đến nay tôi chưa có tư liệu về di truyền học hiện đại khu vực này nên không thể nói được gì hơn, nhưng tư liệu về di truyền học hiện đại cũng cần được kiểm chứng với các nguồn tư liệu khác như cổ nhân học và khảo cổ học thì mới đáng tin cậy.


Còn một số vấn đề cần được trao đổi sáng tỏ hơn, nhưng phải nói rằng đây là một cuốn sách được tác giả viết khá công phu, có trách nhiệm, tư liệu phong phú rất đáng được trân trọng. Đây thực chất là một công trình khoa học bao trùm nhiều khoa học rộng lớn được tác giả nêu lên một số ý kiến mới. Mà đã là khoa học, lại có ý kiến mới thì nhất định sẽ có những ý kiến trao đổi, đồng ý hoặc phản bác. Đó là điều bình thường. Tôi có nhiều điều muốn trao đổi cặn kẽ với tác giả như vấn đề Nhà Triệu, vấn đề tượng đá Mỵ Châu, v.v... nhưng trong bài viết này không thể nói hết. Mong sẽ có dịp được trao đổi kỹ với tác giả.


Hà Nội, sau Lễ Vu Lan


Tháng 9 năm 2007


Trao đổi với PGS Hoàng Xuân Chinh


Cảm ơn Phó giáo sư Hoàng Xuân Chinh đã đọc cuốn Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt (NXB Văn học, 2007) của tôi và cho những nhận xét chân thành.


Là kẻ hậu sinh, tôi được thừa hưởng nhiều thành quả nghiên cứu từ Phó giáo sư cùng đồng nghiệp của ông. Việc giới khảo cổ Việt Nam đi sâu nghiên cứu thời Hùng Vương, đưa thời đại này từ trong truyền thuyết trở thành chính sử là cống hiến lớn cho văn hóa dân tộc. Việc khẳng định nguồn gốc bản địa của văn hóa Sa Huỳnh cũng nói lên tiếng nói độc lập của giới khoa học nước nhà...


Tuy nhiên, tôi vẫn có cảm tưởng rằng, những gì làm được chưa tương xứng với đòi hỏi của dân tộc. Và cũng có cảm nhận là về phương diện này, chúng ta chậm lụt so với thế giới.


Từ suy nghĩ thực lòng và trách nhiệm, tôi xin thưa lại đôi lời.


I. Về nguồn gốc và sự di cư của loài người.


Phó giáo sư viết: “Ngày nay tư liệu về cổ nhân cũng như khảo cổ đều cho thấy trên châu Âu, Nam Á, Đông Nam Á, Bắc Á đều phát hiện di cốt của cả một quá trình biến diễn từ Người vượn đứng thẳng (Homo erectus) qua Người hiện đại cũ (Homo sapiens) sang Người hiện đại mới (Homo sapiens sapiens). Những tư liệu đó cùng với tư liệu khảo cổ cho thấy ngay từ thời tối cổ cũng không hề có một dòng thiên di từ châu Phi qua Nam Á rồi sang Đông Nam Á, từ đây lại chuyển lên phía bắc. Có thể trước đây có một vài người theo thuyết Một nguồn gốc nêu lên như vậy, nhưng những phát hiện ngày nay đã khác.”


Đúng là cho tới những năm 70 thế kỷ trước, khi thuyết Đa trung tâm thắng thế và thống trị cộng đồng khoa học thế giới. Thuyết này cho rằng: con người sinh ra tại nhiều nơi trên Trái đất rồi tuần tự tiến hóa trở thành người hiện đại.


Nhưng tới cuối thế kỷ, với những phát kiến mới nhờ công nghệ di truyền, đại đa số trong cộng đồng khoa học rời bỏ thuyềt trên, ủng hộ thuyết Một trung tâm. Thuyết này cho rằng: Loài người được sinh ra ở Đông Phi, khoảng 160.000 năm trước. Những công trình nghiên cứu của Stephen Oppenheimer vẽ ra Bản đồ thiên di cùa loài người (Human migrations) cho thấy, khoảng 85.000 năm trước có cuộc di cư của người hiện đại (Homo sapiens) từ châu Phi lan ra khắp thế giới, trong đó có một nhóm theo bờ biển Ấn Độ, Pakistan tới Việt Nam khoảng 70.000 năm trước,


Ngày 29. 9. 1998, những nhà di truyền Trung Quốc và Mỹ trong Dự án Đa dạng di truyển người Trung Quốc (Chinese Human Genome Diversity Project) do Y. Chu dẫn đầu, phát hiện con đường phương nam của người hiện đại tới Việt Nam, sau đó lên Trung Quốc rồi vượt eo Bering sang châu Mỹ. Công trình này đã gây chấn động giới khoa học Mỹ. Từ đó tới nay chưa có ai phản bác.


Cũng những năm 70 thế kỷ trước, thịnh hành quan điểm cho rằng, người Neanderthals, đại diện của Người đứng thẳng Homo erectus, là tổ tiên của người da trắng châu Âu. Nhưng sau đó, bằng công nghệ gene, người ta biết được, Neanderthals tuyệt chủng 24.000 năm trước, nhiều lắm cũng chỉ là anh em họ với người châu Âu hiện đại.


Như vậy, những điều Phó giáo sư nói trên không còn phù hợp nữa.


II. Về nguồn gốc và văn minh Việt


Phó giáo sư Hoàng Xuân Chinh viết: “Qua đó có thể nói nguồn gốc dân tộc Việt Nam là từ cư dân bản địa đã sinh sống lâu đời trên đất nước ta. Cư dân này trong thời đại đá mới là ngươì Melanesien và Indonesien thuộc loại hình Mongoloid phương Nam. Sang thời đại kim khí do sự cộng cư hoà đồng cùng cư dân Hoa Nam tràn xuống, yếu tố Mongoloid ngày càng đậm thêm thành chủng người Nam Á”


Phát biểu của PGS thể hiện quan điểm của thuyết Đa trung tâm. Nhưng muốn vậy, cần rất nhiều chứng minh.


Câu hỏi trước hết: Ai là tổ tiên những người Indonesien, Melanesien ấy? Theo logic của Phó giáo sư thì đó là Người vượn Núi Đọ có mặt 300.000 năm trước! Muốn chứng minh điều này, phải phát hiện hàng loạt hài cốt những lớp người nối tiếp nhau cho tới người Sơn Vi 30.000 năm cách nay. Đó là điều không có và không thể có bởi lẽ, cũng như người Bắc Kinh, Java, người Núi Đọ chỉ là giống người vượn đã tuyết chủng, không dây mơ rễ má gì với H. sapiens. Khoa học đã xác minh được rằng, những người vượn trên cũng từ châu Phi di cư tới, khoảng 1,8 triệu năm trước. Hiện cũng chưa tìm được mối liên hệ trực tiếp giữa H. erectus và người hiện đại.


Ở đây Phó giáo sư Hoàng Xuân Chinh đã có sự lầm lẫn đáng tiếc. Người Melanesien, Indonesien không thuộc loại hình Mongoloid phương Nam. Trong cuốn Nhân chủng học Đông Nam Á (H.1983), giáo sư, nhà nhân học hàng đầu của Việt Nam Nguyễn Đình Khoa nói rất rõ: “Vào thời Đá Mới, dân cư Việt Nam thuộc loại hình Australoid. Sang thời Đồng-Sắt, yếu tố Mongoloid xuất hiện và trở thành chủ thể trong dân cư. Yếu tố Australoid mất dần đi, hoặc do thiên cư hoặc do đồng hóa.” Điều này, năm 2005 M. Oxenham, giáo sư Đại học Quốc gia Australia, khi khảo sát 30 bộ hài cốt của di chỉ Mán Bạc, một lần nữa xác nhận.


Giáo sư Nguyễn Đình Khoa cũng cho thấy, người tiền sử Việt Nam bao gồm hai đại chủng Mongoloid và Australoid hòa huyết tạo ra 4 chủng: Inđonesien, Melanesien, Negritoid và Vedoid. Tất cả đều thuộc loại hình Australoid. Và Nguyễn Đình Khoa, sau đó M. Oxenham đã chứng minh, cuộc Mongoloid hóa thành chủng Mongoloid phương Nam ổn định vào trước 2000 năm TCN.


Bằng so sánh hình thái sọ, khoa cổ nhân học đưa ra nhận xét chính xác đó nhưng chưa thể trả lời: nguyên nhân nào dẫn tới sự thay đổi như vậy?


- Về câu: “Những tư liệu trên cho thấy không có một dòng thiên di lớn từ vùng Đông Nam Á lên miền Bắc Trung Quốc trong lịch sử”


 Thưa Phó giáo sư, đó là giới hạn của tri thức nhân loại cho tới cuối thế kỷ XX. Những phát kiến mới đây nhờ công nghệ gene, cho ra bức tranh khác hẳn: 40.000 năm trước, người từ Việt Nam đi lên chiếm lĩnh đất Trung Hoa rồi từ đó sang châu Mỹ!


- Về câu: “Trên vùng sông Dương Tử và luu vực Hoàng Hà không hề có dấu tích văn hóa Hòa Bình.”


Đấy là lầm lẫn đáng tiếc của nhà khảo cổ. Năm 1921, khi phát hiện di chỉ Ngưỡng Thiều, nhiều người cho rằng đó là dấu tích lan tỏa của văn minh phía Bắc xuống phía Nam, sinh ra văn hóa Long Sơn. Nhưng năm 1971, Giáo sư G. Solheim II đã phát hiện: “Văn hóa Ngưỡng Thiều và cả Long Sơn đều là từ Hòa Bình sớm đi lên.” Sự đoán định của ông khi đó nay đã được chứng minh. Tiếp đó, suốt thế kỷ trước, hàng loạt chứng tích văn hóa Hòa Bình mà tiêu biểu là chiếc rìu có vai được tìm thấy trong lòng đất lưu vực Hoàng Hà, Dương Tử.


- Về câu: “Trong giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên mở đầu thời Tiền Đông Sơn (khoảng 4000 – 3500 năm trước) cư dân Phùng Nguyên mới biết đến kỹ thuật luyện đúc đồng thì thời Thương họ đã đúc được những chiếc đỉnh đồng nặng tới 700kg.”


Theo nhiều tài liệu được công bố thì hiện vật đồng thau đầu tiên tìm được ở Việt Nam là tại Phùng Nguyên, có tuổi 1850 +/- 50 năm TCN, còn ở Trung Quốc là tại Anyang vùng Sơn Tây, niên đại 1300 năm TCN. Chính các chuyên gia khảo cổ học thế giới xác nhận, đồ đồng được phát sinh trước ở Việt Nam rồi từ đây đưa lên Trung Hoa. Đỉnh đồng mà giáo sư nói đó là của nước Sở, một nhánh của tộc Việt!


Một câu khác: “Trên đất Sơn Đông làm gì có dân Việt nào.”


Điều này trái với thực tế. Đấy chính là người Đông Di theo cách gọi của các thủ lĩnh Hoa Hạ. Các sử gia Trung Hoa như Chu Cốc Thành và Vương Đồng Linh cũng cho rằng: “Người Việt theo sông dương tử xuống đồng bằng Hoa Nam rồi men theo duyên hải lên khai phá vùng Hoa Bắc, làm chủ cả 18 tỉnh nước Trung Hoa trước khi người Hán kéo xuống.” Như vậy không thể không có người Việt ở Sơn Đông. Đấy chính là trung tâm quan trọng của người Việt. Và Núi Thái, Sông Nguồn chính là nơi phát tích của Lạc Long Quân, tổ tiên người Việt hiện đại chúng ta.


Về câu: “khoảng 40.000 năm trước người Việt chưa hình thành, vì lúc này con người đang trong giai đoạn cuối để hoàn thành quá trình hình thành con người về mặt sinh học và bắt đầu hình thành các đại chủng, cư dân sinh sống trên miền Trung và bắc Việt Nam lúc bấy giờ chưa phải là người Việt.”


Theo chỗ tôi biết thì đó là quan niệm cũ phù hợp với thuyết Đa vùng. Thực tế khảo cổ và di truyền học hoàn toàn bác bỏ quan niệm như thế.


Khi khảo sát 76 sọ cổ từ thời Đá Mới tới thời kỳ Đồng-sắt ở Việt Nam, giáo sư Nguyễn Đình Khoa khẳng định: Hai đại chủng Australoid và Mongoloid xuất hiện trên đất nước ta từ trước và muộn nhất là 32000 năm trước, họ hòa huyết cho ra bốn chủng: Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid. Những nghiên cứu di truyền cho thấy, con người hiện đại đã hoàn chỉnh về sinh học từ 160.000 năm trước. Những tài liệu công bố gần đây như Ánh sáng mới dọi vào quá khứ bị lãng quên của G. Solheim II, Địa đàng ở phương Đông của S. Oppenheimer và nhất là công trình của nhóm Giáo sư Y. Chu làm rõ hơn nhận định của Giáo sư Nguyễn Đình Khoa: Những nhóm người từ Việt Nam, từ Đông Nam Á vượt hàng vạn cây số tới châu Úc, châu Mỹ không thể là con người chưa hoàn thành về mặt sinh học.


Về câu: “Lúc này cả thế giới, chứ nói gì đến người Việt đã làm gì có nông nghiệp, mà lại là nông nghiệp trồng lúa nước.”


Quả là ở đây tôi viết gộp lại nên gây hiểu lầm. Ở chỗ khác, tôi nói rõ: “Lúc đầu người Việt mang rìu đá đi mở đất, sau đó từ Hòa Bình đưa lên giống lúa, giống gà, giống chó…” Về thời điểm hình thành nông nghiệp, có nhiều ý kiến khác nhau. Việc chưa tìm ra hạt lúa sớm nhất ở Việt Nam không có nghĩa Hòa Bình không là trung tâm nông nghiệp sớm nhất của nhân loại. Về việc này, S. Oppenheimer là người đi xa hơn cả, trong cuốn sách đã dẫn, ông cho nông nghiệp lúa nước hình thành tại Đông Nam Á khoảng 20.000 năm trước! Nói người Hòa Bình không có nghĩa chỉ là người ở Hòa Bình mà là chủ nhân của nền văn hóa này. Đó là những người Indonesien, Melanesien… sống ở đồng bằng Sundaland, Hainanland. Khi nước dâng vào khoảng 20.000 năm trước, đã di cư lên Hòa Bình. Sau này khi hai đồng bằng trên bị ngập, khoa học chỉ biết tới hậu duệ của họ là Hòa Bình.


3. Đôi điều về phương pháp luận


Phó giáo sư Hoàng Xuân Chinh viết: “Theo tôi để giải quyết vấn để trên thì tư liệu cổ nhân học và tư liệu khảo cổ học là hai nguồn tư liệu quan trọng nhất, còn các tài liệu khác chỉ là góp phần tham khảo, nó chỉ thật sự có giá trị khi có sự phù hợp giữa chúng với hai loại tư liệu trên.”


Đúng như ý kiến Phó giáo sư, cổ nhân học và khảo cổ học từng là hai khoa học có vai trò quyết định giúp con người tìm lại quá khứ. Có thể nói, tri thức về tiền sử của chúng ta có được như hôm nay, phần quan trọng là nhờ đóng góp của hai ngành khoa học này. Nhưng cũng có sự thực là, trong nhiều vấn đề nhạy cảm, cần tiếng nói quyết định, hai khoa học trên tỏ ra bất lực! Nhiều câu hỏi bức xúc còn bị treo đó. Xác định quan hệ của Neanderthals với người hiện đại hay nguyên nhân biến mất của người Australoid trên địa bàn Đông Nam Á… là những vấn đề nhiều thập niên thách đố khoa học!


Chính vì vậy, công nghệ di truyền được sử dụng vào lĩnh này. Tìm ra mã di truyền chứa trong vật mẫu rồi thống kê chúng bằng sự chính xác toán học để phân nhóm, công nghệ gene trở thành cây gậy thần bắt từng mảnh xương, từng chiếc răng vốn lặng im bí ẩn phải “khai” ra thân phận thực của mình! Từ đó khoa cổ nhân chủng học tiến những bước rất xa, giải đáp hầu hết những vấn đề mà khoa cổ nhân học cũ phải bó tay. Có thể nói, ngày nay, bất cứ một phát hiện nhân chủng học nào nếu không được công nghệ gene kiểm định sẽ chưa mang ý nghĩa khoa học.


Phó giáo sư Hoàng Xuân Chinh viết: “do có nhiều tư liệu như di truyền học hiện đại tôi gần như không có tư liệu nên chỉ xin nêu lên một số vấn đề quanh cội nguồn dân tộc và văn hoá Việt mà thôi.”


Như vậy, Phó giáo sư và tôi không cùng phương pháp luận. Cuốn sách của tôi cơ bản dựa trên thành quả mới nhất của công nghệ di truyền mà tôi may mắn nhận được từ cộng đồng khoa học thế giới, trong đó có đóng góp của người Việt ở nước ngoài. Không cùng phương pháp luận nên không hiểu nhau là chuyện bình thường trong khoa học.


Dù sao tôi cũng xin cám ơn Phó giáo sư đã góp những ý kiến chân thành.


Sài Gòn, 24. 9. 2007.


(còn tiếp)


Nguồn: Tìm cội nguồn qua di truyền học. Khảo luận của Hà Văn Thùy. NXB Văn học, 2011.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
xem thêm »