tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20185529
Tiểu thuyết
03.04.2013
Hoài Anh
Đuốc lá dừa

Xuyến mải miết chèo thuyền trên dòng sông. Nước sông trong xanh, hai bên bờ những rặng lá dừa nước cao đến một trượng tua tủa chen nhau như một bức tường thành che khuất cả tầm con mắt. Dài theo rặng lá nào là dây cốc kèn, bụi ô rô gai gốc um tùm, quấn quýt chằng chịt dưới chân những gốc dừa xum xuê tàu cao bóng cả. Bóng lá dừa gió đưa phe phẩy in xuống mặt nước quyện bóng từng mảng mây trời. Có tiếng kẽo kẹt rít lên từng hồi dài, đó là tiếng che ép mía. Thấp thoáng sau rặng lá dừa làn khói lò bay tỏa quyện với hơi đường ngào ngạt bốc lên. Trong không khí như có vị ngọt khiến bất giác người ta phải chảy nước miếng.


Nhưng bữa nay, Xuyến không còn lòng dạ nào ngắm cảnh sông nước, thở hít làn hơi ngọt đầy hai buồng phổi. Tiếng chèo khua nước rào rạt hòa với tiếng sóng bì bõm vỗ mạnh vào trong lòng cô.


Gần tới chỗ lò ấp vịt của Huân, dầu đang vội cô vẫn thấy có cái gì xốn xang trong lòng. Từ ngày gặp Huân tới nay, dòng sông không còn mênh mang như trước, những đêm trăng bóng thuyền cũng không thấy lẻ loi dưới ánh trăng dãi lạnh lùng và câu hò càng nồng nàn thiết tha hơn. Dòng sông như bỗng có hồn và cảnh làng mạc hai bên bờ cũng thấy ấm áp sinh khí…


Phải chăng mối tình trong lòng cô cũng là một hột vịt còn lẫn lộn lòng trắng, đỏ nhưng đang được ủ trong lò nồng hơi ấm để hiện hình dần thành chú vịt nhỏ có đủ đầu, đuôi, lông, cánh, đợi một ngày sẽ phá vỡ vỏ chui ra…


Bữa nay Huân vừa cho ấp xong lứa vịt mới, ra rửa tay ngoài bờ sông thì thấy thuyền của Xuyến đi qua. Nhưng lần này cô có dáng vội vã chỉ ghé sát thuyền vô bờ nói với anh một câu:


- Em phải đi có công chuyện gấp, bữa nào rảnh việc em sẽ ghé anh…


Rồi cô lại quày quả trở thuyền đi miết. Từng nhát mái chèo để lại từng vòng sóng loang rộng dần trên mặt nước. Những đám rong rêu bị mái chèo hất lên lại từ từ rớt xuống trôi lập lờ. Trên nền sông nước sáng trong có những hàng dừa soi bóng, nổi bật lên hình dáng mềm mại của Xuyến với chiếc áo bà ba trắng, chiếc quần đen nhánh dài chấm gót và vuông khăn xanh buộc trên mái tóc bỏ đuôi gà. Hai tay cô nắm lấy hai tay chèo, mình hơi nghiêng nghiêng duyên dáng nhún lên đưa tới cho mái chèo quạt nước. Con thuyền cất mũi rẽ nước lao đi thì một chân cô đong đưa theo đà lướt tới con thuyền, chân kia nhún lên một tí, toàn thân và cả tay chân cử động nhịp nhàng uyển chuyển đẹp như một điệu múa… Huân nhìn theo mãi đến khi bóng Xuyến  khuất sau lùm dừa nước ở tít đằng xa mới buồn bã quay trở về nhà. Chưa lần nào bước chân anh thấy nặng nề bằng lần này.


Vừa tới nhà, Huân thấy bà Tú đang nắm một nắm cơm trong mo cau. Thấy Huân về, bà mừng rỡ:


 - Chú về vừa may. Ông đốc binh cho người tới báo, tối nay mời chú tới hội với nghĩa binh ở chùa Tôn Thạnh. Tôi đoán là có công việc nên đã nắm sẵn cơm cho chú mang theo nè…


Huân xúc động trước cử chỉ chăm sóc của người chị dâu. Từ khi cả nhà dời về quê ở làng Thanh Ba, Cần Giuộc tới nay, bà càng thêm cực vì phải gánh đỡ công việc gia đình người anh là Hai Quýnh. Vợ Hai Quýnh chết sớm, nên sắp nhỏ lâm vào cảnh “sẩy mẹ bú dì”. Bà trông coi công việc cả nhà mình lẫn nhà anh, từ sáng chí tối, đầu tro mặt muội mà không hề thốt một lời than thở phàn nàn. Anh mình bị đui mà được một người vợ đảm như vậy cũng đủ đền bù cho sự bất hạnh của ông. Ngoài việc cửa nhà cơm nước, bà còn phải lo chép những vần thơ của ông, vì đứa con gái đầu lòng là con Hương còn nhỏ quá chưa cho phép. Hiện nay ông đang soạn cuốn Dương Từ Hà Mậu vạch tội ác của giặc lợi dụng đạo Gia Tô mê hoặc dân lành, tố cáo những kẻ đội lốt thầy tu làm tay sai cho chúng. Bọn đó ở Cần Giuộc này cũng có, chúng ở trong ngôi nhà dạy đạo ở kế bên đồn giặc. Chúng đem chuyện hỏa ngục thiên đường ra hù dọa, dụ dỗ người ta theo đạo, khi đã theo đạo rồi thì mượn kiểu xưng tội để ép người ta khai báo về tung tích, hoạt động của nghĩa quân. Cần phải tách bọn chúng ra khỏi những giáo dân lương thiện, đó là việc cần kíp trước mắt. Huân đã thấy nhiều đêm ông Tú ngồi suy nghĩ, nhẩm từng câu thơ vừa làm xong cho thuộc để sáng hôm sau đọc lại cho bà chép, vì thương bà, không muốn đánh thức bà dậy ban đêm. Huân càng thấy kính yêu đức độ của anh. Nhìn quanh không thấy ông, Huân hỏi:


- Thưa chị, anh đâu rồi ạ?


- À ổng đi hội với ông Đốc binh. Chưa chừng đêm nay sẽ có chuyện lớn. Thôi chú vô trỏng nghỉ chút, để đêm nay có sức mà theo đòi với anh em…


Đêm đó, nghĩa quân từ ba ngả lặng lẽ kéo tới vây đồn Cần Giuộc. Nửa đêm giữa lúc bọn lính trong đồn ngủ say mê mệt, Đốc binh Là rút gươm, chạy tới thét khẩu lệnh. Nghĩa quân dùng toàn gậy tầm vông vạt nhọn và giáo mác xông vào đạp hàng rào đồn giặc, vượt qua tường đất vào tận chỗ lính gác. Tên lính gác đang chống súng ngủ gật, giựt mình tỉnh dậy, còn mắt nhắm mắt mở, thì một ngọn giáo đâm ngược lên, lủng ngực hắn, hắn té nhào. Nghe tiếng hắn rú lên kinh khủng, bọn lính Lang-Sa, Ma-ní trong ngôi nhà ngói vách ván choàng tỉnh, dùng súng bắn ra, một vài nghĩa quân trúng đạn gục xuống, nhưng những người sau vẫn hò nhau phá cửa xông vào tận trại giặc, gặp tên nào chém chết tên đó.


- Sát! Sát!


Trăm người như một đồng thét lên tiếng căm hờn sôi máu ấy. Một tên lính Lang-Sa đang loay hoay điều khiển khẩu súng thì một nghĩa quân lao tới dùng mũi chĩa ba kết liễu đời hắn. Bọn lính Mã-tà đang hoang mang, hoảng hốt, thì nghĩa quân cho gọi loa khuyên chúng không nên chống cự, nếu đầu hàng thì khỏi chết, chúng đều vớt cả khí giới xin hàng. Khi nghĩa quân đã áp sát trại giặc, súng đạn của giặc mất tác dũng, nghĩa quân dùng dao phay mã tấu xông vào đánh xáp lá cà. Tên quan hai đồn trưởng Đuy-mông bị chém rớt đầu. Hơn hai chục tên Lang-Sa, Ma-ní khác bị chết và bị thương, nằm la liệt.


Thừa lúc ấy, một cánh nghĩa quân khác dùng hỏa mai bằng rơm con cúi phóng hỏa đốt nhà dạy đạo, để trừng trị bọn tay sai giặc đội lốt nhà tu.


Chiến thuyền giặc đậu dưới sông Cần Giuộc thấy động liền một mặt cho quân tiếp viện, một mặt dùng đại bác bắn lên. Nghĩa quân vẫn hăng hái tiến lên dưới làn mưa đạn, tiếng thét: Sát! Sát! vang dậy, át cả tiếng súng giặc nổ ran.


Huân đang hăm hở xông lên đâm chém quân giặc, vì đà chém mạnh quá mà lưỡi gươm vừa rèn xong, cán tra chưa được chắc nên bị long khiến lưỡi gươm văng đi. Huân chỉ còn tay không, mà phía trước là một tên giặc ngực lông lá xồm xoàm, người mập lù đang lừ lừ tiến lại. Huân nhanh trí túm ngay lấy xác một tên giặc dưới đất đập vào tên giặc kia. Bị đòn bất ngờ, nó tối mắt mũi té nhào. Huân lại nắm lấy cẳng nó dùng làm vũ khí đập vào tên giặc khác. Bọn giặc dưới tàu vẫn tiếp tục kéo lên cứu viện, Huân liền nhặt lấy lưỡi gươm cụt cán cầm vững trước ngực rồi lao thẳng vào bọn giặc. Giặc kinh hoàng tránh rạt cả sang bên không dám liều lĩnh chọi nhau tay đôi với Huân. Một tên lớ ngớ bị cả đà người của Huân lao tới, mũi gươm đâm lút ngực hắn xuyên thẳng qua bên kia… Giữa lúc đó, một viên đạn từ dưới tàu bắn lên thình lình trúng Huân. Huân té nhào xuống trận địa, bàn tay vẫn nắm chặt lưỡi gươm còn hoen đầy máu giặc.


Khi Xuyến trở về thì Huân không còn nữa mà chỉ còn trơ lại một nắm mồ chưa phủ cỏ xanh. Có thắp mấy nén nhang trước mộ rồi nức nở, kể chuyện cho Huân nghe… Một cơn gió lạnh thổi qua. Cô cởi chiếc áo dài đắp trên nấm mồ, rồi gục đầu xuống như muốn áp miệng mình vào nền đất để nói cho người dưới mồ nghe rõ:


- Anh có nghe chăng lời văn của thầy Tú thay mặt bà con soạn trong buổi điếu tế vừa rồi. lời than khóc của em không sao bì được lời văn rút ra từ tâm huyết thầy Tú, nên em chỉ xin mượn lời văn của thầy mà khóc anh, mong anh hiểu cho lòng em… Anh ơi! Khi dự lễ, được nghe câu: “Đau đớn thay mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều, não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ” em đã khóc òa nức nở vì đó chính là tâm sự của em. Anh và em dầu chưa cưới xin nhưng một lời hẹn ước cũng đã là nghĩa vợ chồng, em nguyền để tang anh đến trọn đời và xin phép anh được coi mình như dâu con trong gia đình anh. Chắc thầy Tú cũng thể tình mà vui lòng nhận đứa em dâu bạc phước…


Giữa lúc dó, Tú Chiểu cũng ra viếng mộ em, nghe lời nói thủy chung của cô gái, ông xúc động, lấy tay áo gạt nước mắt. Nghe động quay lại thấy ông Tú, cô thốt kêu:


- Trời! Thầy Tú… - Rồi cô tiếp lời. - Xin phép thầy cho em được kêu bằng trưởng huynh…


 Ông Tú giọng chân thành:


- Thím… Tôi rất hân hạnh có được một người em dâu như thím… Nhờ thím mà chú ấy đã làm tròn bổn phận người trai lúc nước nhà hữu sự. Nhưng còn bổn phận của thím, không biết thím nghĩ sao?


Xuyến như bừng tỉnh, kêu lên:


 - Thưa trưởng huynh, em đã hiểu… Em xin hứa với trưởng huynh, với vong hồn anh Huân sẽ ráng mà sống. Sống để trả thù cho chồng, trả thù cho nước…


Hàng cây bên mồ như bỗng rạt rào vì xúc động trước những lời nghĩa khí của cô gái. Những ngọn cỏ khẽ lay động, khói nhang cũng chập chờn tỏa rộng rồi lan dần trong khoảng trời xanh cao bát ngát. Con chim đậu trên cây từ nãy vẫn im lặng, giờ bỗng giật mình vỗ cánh bay vụt lên.


*


Về Phan Rí, nằm trên giường bệnh, thỉnh thoảng Nguyễn Tri Phương lại giở bổn Lục Vân Tiên ra ngâm nga. Cứ mỗi lần đọc đoạn:


Vân Tiên tả đột hữu xung,


Khác nào Triệu Triệu Tử vượt vòng Đương giang.


Lâu la bốn phía tan hoang,


Đều quăng gươm giáo kiếm đàng chạy ngay.


Ông lại thấy bừng bừng như sống lại những giờ khắc xông xáo ngoài chiến địa trước đây. Chiếc giường bệnh chẳng khác gì chiếc cùm đè nặng lên thân thể, ông chỉ muốn dứt phăng để xông ra trận tiền chém giặc. Ông nhớ lại vua Tự Đức trước đây chỉ biết than thở: “ Tướng võ tiêu sầu duy có rượu, Quan văn đuổi giăc lại không thơ”. Thơ Lục Vân Tiên không gọi là thơ đuổi giặc thì còn gọi là thơ gì? Ông chỉ mong sớm khỏi bệnh để mang sách về Huế sai thợ khắc in thành ngàn vạn bổn cho cả nước đều đọc, để càng tăng thêm chí khí chống giặc. Mỗi câu thơ quả có sức mạnh tựa muôn quân, nó thôi thúc người ta không chịu ngồi yên ở xó nhà, nó hun đốt bầu máu nóng người dân, nó cũng nuôi cháy hồn nước trong đêm tối.


Nhiều đoạn ông Nguyễn đọc lên cũng phải phì cười. Cái lão Thái sư muốn cống Nguyệt Nga cho Ô Qua chẳng giống hệt Phan Thanh Giản, Nguyễn Bá Nghi muốn dâng ba tỉnh Đông Nam Kỳ cho Lang-Sa hay sao? Còn Trịnh Hâm, Bùi Kiệm không phải Tôn Thọ Tường, Trần Bá Lộc thì còn ai vào đó nữa. Thằng Cốt Đột mắt hùm, râu đỏ, đúng là tướng giặc Lang-Sa rồi… Nhưng còn Vân Tiên, Tử Trực, Hớn Minh. Vân Tiên văn võ kiêm toàn lại bị mù mắt phải chăng là ký thác của Tú Chiểu? Hai người bạn kia cũng y như Trương Định và Nguyễn văn Lịch… Giờ đây, ông mới hiểu hết ý nghĩa câu nói của người xưa: “Văn chương là việc ngàn thuở, Được mất trong một tấc lòng”.


Nếu mỗi dòng thơ kia là một dòng nước mát tưới cho ông trong cơn hỏa kiệt, thì mỗi chiến công từ miền Nam đưa về lại như một thang thuốc hồi sức cho ông.


Gần đây, ông liên tiếp nhận được những tin vui:


Ngày 26 tháng 6 năm Tân Dậu([1]) , giặc Lang-Sa đánh thành Định Tường. Đội quân của Trương Định hợp với đội quân của Cử nhân Đỗ Trình Thoại, Tri huyện Tân Hòa, sẵn sàng nghênh chiến. Trúng kế nghi binh của ta, giặc bỏ tàu lên bộ sa vào ổ phục kích, quân ta thình lình đổ ra vây đánh, dùng toàn mã tấu. Tướng Ri-van bị đâm hai mũi giáo và bị hỏa hổ đánh lòi một con mắt. Thủy quân Lang-Sa ở dưới tàu phải dùng đại bác mới phá được vòng vây.


Sáng hôm sau, thừa lúc quân chúng ngủ say và mệt mỏi, cánh quân của ông Đỗ Trình Thoại trên sáu trăm người, phần lớn là dân chúng võ trang bằng giáo mác lại đổ ra đánh úp gây cho chúng nhiều thiệt hại. Hai ngày sau, viện binh Lang-Sa đổ bộ lên Rạch Lá. Ngay đêm ấy, Trương Định huy động toàn lực đến đánh úp. Quân Lang-Sa chết và bị trọng thương một số đông. Được tin thua trận, tướng giặc Bô-na phải đích thân từ Sài Gòn xuống. nhưng lại gặp nhiều trận phục kích và phải giao phong hai trận ác liệt ở Cửa Khâu và Trại Cá với đội quân của Trương Định, nên bị thiệt hại nặng.


Cũng vào dịp đó, tên trung tướng Pác-phe đem tàu Et-xpê-răng- xơ chở lính xuống đậu tại Vàm sông Nhật Tảo để chặn các đường giao thông đi lại Đồng Tháp Mười, Gò Công và Sài Gòn - Chợ Lớn. Được tin này, nghĩa quân của Nguyễn Văn Lịch bèn cho năm chiếc ghe giả làm dân thường, từ sông lớn đổ ra, tiến lại gần phía tàu. Khi lên đội Lang-Sa chồm ra boong tàu để xét giấy liền bị một người trong bọn họ lẹ làng rút đoản kiếm nhảy lên đâm chết tươi. Tức thì một đoàn dũng sĩ có đến một trăm năm chục người ở dưới ghe, đều một lượt nhảy tràn lên tàu ra sức chém giết bằng gươm giáo. Giăc không kịp chống đỡ, bị giết mất quá nửa, còn lại một số phải trốn xuống khoang tàu và hầm tàu. Nguyễn Văn Lịch hạ lệnh phóng hỏa. Chiếc tàu giặc nổ lên một tiếng rất lớn rồi bùng lên khói lửa ngất trời. Lửa cháy rất mau, chỉ trong chớp mắt đã tràn vào các khoang tàu và buồng tàu…


Nghe người đưa tin kể chuyện tới đó, Nguyễn Tri Phương nghĩ thầm: Lửa đã lan tràn khắp cả Nam kỳ, bọn giặc đừng mong gì dập tắt ngọn lửa căm thù hừng hực của người dân mang hào khí Đồng Nai. Chiếc tàu mang tên “Hy vọng” của chúng cháy rụi và chìm xuống đáy sông, vô hình trung đã trở thành một biểu tượng đậm nét.


Hôm sau, tin thắng trận ở Cần Giuộc lại dồn dập đưa tới. Lần này khiến ông Nguyễn sửng sốt. Trương Định, Nguyễn Văn Lịch thắng giặc điều đó không đáng lạ vì hai người này đều mưu trí, dũng cảm. Nhưng Đốc binh Là, người chỉ huy trận đánh Cần Giuộc, trước đây không lấy gì làm tài giỏi cho lắm. Nhưng mấy bữa nữa, Trần Nhượng trở về cho hay chính ông Tú Chiểu đã làm tham mưu cho Đốc binh Là, thì ông Nguyễn mới hết thắc mắc. Tú Chiểu đã hình dung ra được toàn bộ thế trận liên hoàn của ba xứ Gò Công, Tân An, Cần Giuộc nhất tề đánh địch ở khắp mọi nơi, khiến chúng lúng túng không thể cứu ứng lẫn nhau, mà lại còn bày được cả kế sách rõ rệt cho mọi trận đánh. Trần Nhượng còn dâng ông bổn chép tay bài: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của ông Tú Chiểu đọc trong buổi tế hương hồn những người đã hy sinh. Bất giác, ông Nguyễn cất giọng sang sảng đọc:


Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có. Kẻ đâm ngang người chém dọc, làm cho mã tà, ma ní hồn kinh; Bọn hè trước, lũ ló sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng, súng nổ”.


Đọc bài văn, ông Ngu ễn như nhìn thấy trận đánh diễn ra trước mắt, thật sống động. Khác xa với cái thứ văn bóng bẩy mà sáo rỗng hết viện dẫn đến điển tích lại tả cảnh gió, tuyết, trăng, hoa của nhiều ông nghè, ông cống. Khi đọc Lục Vân Tiên, ông Nguyễn đã khen Tú Chiểu nhưng đến khi đọc Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc thì phải nói là ông cảm phục. Dầu sao Lục Vân Tiên cũng vẫn là mượn chuyện xưa để nói nay, nhưng Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc thì tả một cảnh vừa mới xảy ra với những con người có thật, những con người “chỉ biết ruộng trâu” “việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm” mà trước đây không mấy khi được miêu tả trong văn chương, nếu có chăng nữa thì cũng với một thái độ đứng trên cúi xuống thương hại cảnh khổ cực của họ. Ở đây những người ấy đã đóng vai trò chính và được hết lời ca ngợi.


Nhưng bên cạnh những lời ca ngợi ấy, ông Nguyễn cũng tìm thấy những lời trách móc quan lại triều đình:


“Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa”.


Phải chăng lời trách móc này cũng nhằm cả vào mình. Ông Nguyễn nhớ lại khi giặc chiếm thành Gia Định, triều đình còn bàn lui bàn tới mãi xem nên đánh hay nên hòa. Cuối cùng mới chịu cử ông Nguyễn vào Gia Định. Giữa lúc ở Huế, quan Khâm thiên giám còn dềnh dàng xem lịch chọn ngày tốt làm lễ “khởi mã”, thì những đội nghĩa binh Nam Kỳ “trong tay cầm một ngọn tầm vông”, “hỏa mai đánh bằng rơm con cúi” đã tự động đứng lên chăn đánh giặc, giết được bao nhiêu tên cướp nước. Lần này, ông Nguyễn không thấy bực bội như lần trước đọc câu thơ “Biết ai thiên tử, biết ai thần” của Tú Chiểu. ông đã linh cảm thấy trước tình thế mới, địa vị chí tôn của nhà vua đã bắt đầu lung lay, và những người dân đứng lên đánh giặc không phải chỉ là để đền ơn vua mà để giữ nước, giữ lấy mồ mả ông cha:


Binh tướng nó đã đóng sông Bến Nghé, làm cho bốn phía mây đen; Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu một phương con đỏ…


Từng câu từng mũi kim đâm nhói vào tim ông.


Và ông cảm thấy hết được sự trái ngược mỉa mai, ông một vị đại tướng cầm chục vạn quân nắm quyền bính trong tay lại đành nằm đây bất lực, trong khi một kẻ thư sinh áo vải, chân trắng, lại hiên ngang đứng ra hàng đầu trận tuyến chống giặc lúc này. Phải chăng vì trong con người Tú Chiểu đã kết tinh được sức mạnh của hàng triệu người “côi cút làm ăn lo toan nghèo khó” nhưng với bản chất trong sáng “ghét thói mọi như nha nông ghét cỏ” và lòng căm thù giặc “bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan. Ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ” nên dầu chưa phải là quân cơ quân vệ cũng chưa quen võ nghệ, binh thư đã hăng hái đứng lên đánh giặc. Chính vì nói lên tiếng nói của những người mến nghĩa xuất thân từ “dân ấp, dân lân” kia, nên Tú Chiểu mới có một uy lực tinh thần không những làm cho giặc khiếp sợ, mà còn khiến ông, một mệnh quan của triều đình phải kính nể.


 Ông vụt cảm thấy ân hận đã không sớm biết tài Tú Chiểu để cất nhắc lên một chức quan trong thời kỳ ông đang giữ trọng trách ở Nam Kỳ. Nhưng sau một hồi suy tính, ông lại gạt ý nghĩ đó đi. Dầu Tú Chiểu có được làm quan chăng nữa, cũng chưa chắcvừa qua đã đắc dụng. Vì so với cái lối bố trí binh lực của ông, thu mình trong cái rọ vuông mỗi chiều mấy nghìn thước, nấp sau hào lũy phòng ngự cản giặc; thì lối đánh luân chuyển, dương Đông kích Tây tỉa dần từng toán quân nhỏ của giặc do Tú Chiểu bày ra, quả là mới mẻ.


 Ông đọc lại bài văn một lần nữa, những câu văn vừa sảng khoái vừa trầm hùng, khiến tâm hồn ông phấn phát trở lại:


“Sống làm chi theo quân tà đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gậm bánh mì, nghe càng thêm hổ”.


Từng lời văn hào hùng của nhà thơ kiêm thầy lang Tú Chiểu như từng giọt thuốc cực bổ thấm vào gan ruột vị tướng già yêu nước đang lâm bệnh.


 


VII


Ngôi nhà lá ba căn hai chái, nằm phía sau làng An Bình Đông, tổng Bảo An, phủ Hoàng Trị, tỉnh Bến Tre. Mặt tiền là con lộ dẫn thẳng tới chợ Ba Tri. Tú Chiểu dựng nha ở đây để tiện việc hốt thuốc cho những người dân đi chợ ghé qua.


Từ khi dời Cần Giuộc về Bến Tre, Tú Chiểu nhận thấy dân quê ở đây còn mê tín dị đoan. Mỗi khi bị nóng lạnh, nhức đầu, ói mửa, họ cho là bị thánh thần quở phạt, nếu ngày đó đi ngang qua miếu hoặc cây cổ thụ nào mà họ tỏ ra vô lễ. Nếu họ ngang qua bãi tha ma hay những nơi nổi tiếng nhiều cô hồn quỷ dữ thì họ bảo là ma quỷ bắt nạt. Họ rất tin nơi thầy bùa, thầy pháp, thầy bói. Nếu các thầy này nói họ bị thần thánh quở phạt, họ sẽ đến am miếu cầu xin thần thánh tha lỗi cho hết bệnh. Nếu ma quỷ giở trò bắt nạt, họ sẽ nhờ đến các thầy pháp, thầy bùa. Lợi dụng sự mê tín này, thầy pháp lập đàn trấn ếm ma quỷ và cho bệnh nhân uống tàn hương nước lã, thầy bùa thì cho họ uống bùa hoặc ngải. Vì quá mê tín dị đoan và tin nơi lời của người chữa bệnh, bệnh nhân cũng có khi khỏi. Rủi có chết họ lại cho là số trời bắt vậy nên đành cam chịu.


Ba Tri là đất giồng nên oi bức, mưa thì trễ, mùa nắng kéo dài nên thường hay phát sinh bệnh dịch tả. Trước ngày Tú Chiểu về Ba Tri mười ba năm, ở đây đã xảy ra một trận dịch tả lớn, vì thiếu thuốc thang lại ăn ở thiếu sạch sẽ nên đã có đến bốn phần mười dân số thiệt mạng. Ký ức của người dân ở đây vẫn chưa quên những cảnh tượng rùng rợn: suốt đêm những bó đuốc leo lắt đưa những xác người bó chiếu hở đầu, hở chân đi chôn kìn kìn, những ngôi nhà hoang vắng vô chủ, cỏ mọc lan tới giữa nhà. Ruồi nhặng bu đen đặc khắp nơi, mùi vôi bột nồng hắc vẫn không xua bạt được được mùi tanh thối của xác chết. Đâu đâu cũng vang lên những tiếng la thét của những thầy pháp trổ tài trị ma tróc quỷ, những đạo bùa ngoằn ngoèo dấu son đỏ ối dán la liệt khắp nơi…


Trước cảnh dân nghèo chết oan, Tú chiểu rất đau lòng, nên khi về tới đây, việc đầu tiên của ông là chữa bệnh cho dân nghèo không lấy tiền. Nghe có người bệnh là ông lần mò tới tận nhà thăm và tình nguyện chữa dùm. Vậy mà cũng có người không tin thuốc của ông, họ miễn cưỡng nhận thang thuốc ông hốt cho, sắc xong rồi lén đổ đi, họ quen uống tàn hương nước lã rồi. Nhưng cũng có người cứ liều uống xem sao, cuối cùng khỏi bệnh, từ đó một đồn mười, mười đồn trăm ông thầy Ba Tri mát tay có tài chữa mọi bệnh. Vì vậy, bọn thầy pháp thầy bùa hết sức tức tối gièm pha ông, cho là ông cướp mất mối làm ăn của chúng. Chúng phao tin là sẽ bỏ bùa, bỏ ngải cho ông bị ma quỷ vật chết. Nghe thấy chuyện đó, ông chỉ cười. Những anh chàng kiểu đạo sĩ Trà Hương thôn trong Lục Vân Tiên này, ở đâu mà chẳng có. Ông vẫn tiếp tục chữa bệnh cho dân làng như cũ. Người nghèo, ông cho thuốc không lấy tiền. Người khá giả, ông chỉ lấy đủ tiền thuốc và tiền công cho toa. Vì bệnh nhân được chữa lành nên tiếng tăm ông vang dội khắp vùng. Người ta kháo nhau ông học thuốc từ chính truyền dòng ngự y, hèn nào chẳng giỏi. Đúng là ông thầy Trung ở Quảng Nam dạy ông học nghề thuốc thuộc dòng ngự y thiệt. Nhiều người tới xin ông cho theo học nghề thuốc. Ông nhận lời và từ đó bắt đầu mở lớp dạy nghề thuốc bên cạnh lớp dạy chữ nho chữ nôm. Thấy dạy theo các sách thuốc bằng chữ nho, học trò khó thuộc khó nhớ, ông nghĩ cách soạn một cuốn sách tên là Ngư tiều Y thuật vấn đáp, mượn hình thức một câu chuyện có liên quan đến thời thế để gắn vào đó những phần y lý cội gốc, nêu một cách tóm tắt, cô đọng từ trên tám ngàn loại sách thuốc của Đông y cơ bản vạn môn, nhiều ít đều có vết tích trong đó. Có những cuốn sách quý hiếm như Linh Khu, Nạn Kinh, Tố Vấn mà nhiều thầy còn không biết tên, lựa chi là nói đến gnhĩa trong đó. Ngoài những quy tắc về vệ sinh ăn uống, những cách bài trừ bệnh hoa liễu, những cách phòng ngừa bệnh lao cho tới cách đỡ đẻ thực hành đều được đề cập tới, không những thế, còn nói tới cả khoa phòng bệnh Đau hay cầu thuốc, chi bằng ngừa đau, và nhắc nhở lương tâm nhà nghề của người thầy thuốc.


Bên cạnh đó còn có một cốt truyện với những câu thơ nói lên tấm lòng yêu nước, yêu dân, ý chí kiên cường chống giặc cướp nước. Vì có cốt truyện hấp dẫn lại thêm lời thơ lưu, loát, nên những điều thuần chuyên môn trong sách được học trò thấm hiểu mau lẹ. Tú Chiểu lại bảo học trò đi kiếm cây thuốc Nam ở quanh vùng về gây một vườn thuốc trước nhà. Trong vườn có đủ loại: cây thuốc dấu để cầm máu, ngải bông đỏ trị nóng lạnh, đinh lăng vàng bạc trong bài thuốc thông thường, trái tắc, cúc rau dừa trị ho… rồi bồ đề, dền kiểng, mì kiểng lá ăn được. Ông hương giáo Phan Ngọc Tòng tới chơi nhà ra thăm vườn, đã phải khen:


- Thầy Tú quả là thiết thực, trồng những cây vừa là cây kiểng vừa để dành năm đói có cái ăn… Cũng tựa như thầy học nho nhưng không ham từ chương mà đi sâu vào nghề thuốc để cứu nhân độ thế…


Tú Chiểu cười:


- Đâu phải tôi chỉ vụ thực đến khô khan, bác coi nè, kế bên mấy cây đó tôi cũng cho trồng cả hoa kiểng, có cả cây mai chiếu thủy ở góc vườn kia. Cũng như ngoài làm thuốc tôi vẫn làm thơ đó chứ.


- Thơ của thầy thì còn phải nói, đúng là xuất khẩu thành chương, hay mà cứ tự nhiên như không chẳng hề gò bó chút chi hết. Bữa nào tôi phải bầy một tiệc rượu mời thầy, để cậy thầy làm giùm cho một bài thơ…


- Tôi cũng còn nợ bác một bài thơ cảm tạ bác đã giúp đỡ cho việc mở trường mà nghĩ hoài chưa ra đó chớ…


Khi Tú Chiểu mới về Ba Tri, tính mở trường dạy học thì bị viên Hương cả làm khó dễ. Tên này đã mời ông Lê Đình Lượng ngụ sử về hưu tới mở trường ở kế bên chợ Ba Tri, để mong dựa vào thần thế con ông ngự sử đang làm tri phủ sở tại. Viên Hương cả sợ rằng nếu Tú Chiểu mở thêm trường thi sẽ thu hút hết một số học trò của ông ngự sử, nên không cho phép Tú Chiểu mở.


Thấy sự bất bình, viên Hương giáo Phan Ngọc Tòng bèn can thiệp. Ông tới nói với tên hương cả:


- Có câu: Đất lành chim đậu, nay thầy Tú Chiểu đã mến cảnh làng mình mà tới xin mở trường dạy học, sao ông không cho phép. Làng ta là đất ít học, nay có người thông chữ tới dạy là phước lớn cho con cháu mình chớ sao!


Viên Hương cả lắc đầu:


- Đã có trường của quan Ngự sử rồi cần gì phải thêm trường nữa. Vả lại thầy Chiểu chỉ đậu tú tài sao sánh được với quan ngự sử là hàng tiến sĩ xuất thân…


- Dầu thầy Chiểu mới có tú tài chăng nữa thì sắp nhỏ nhà mình đâu dễ gì đã học hết được chữ của thầy. Dạy học cốt yếu là phải xem dạy có giỏi hay không chớ khoa bảng cao thì có ăn nhằm gì tới chuyện này. Thầy Tú Chiểu mở trường ở Bến Nghé còn có bao nhiêu học trò tới học huống hồ về đất Ba Tri mình. Có thầy về dạy là vinh hạnh cho cả làng sao ông lại ngăn cản bất tử vậy cà?


Viên Hương cả vẫn một mực không chịu. Phan Ngọc Tòng lại tới gặp viên Cai tổng Bảo An nhờ nói giùm với tên Hương cả. Nhưng viên Cai tổng cũng sợ thế quan phủ không dám nói. Thế là Tòng lên thẳng phủ xin vào hầu quan phủ và thưa:


- Bẩm quan lớn, dân cử tui làm Hương giáo cốt để có người dạy dân theo đúng luật lệ của triều đình. Nay triều đình có chiếu chỉ “đại chấn tư văn”([2]) không bắt mỗi lúc mở trường phải xin phép, vậy mà thầy Hương cả lại ngăn cản không cho. Tui nghe người ta nói sở dĩ thầy Hương cả không cho mở vì sợ có hại cho trường của cụ cố nhà. Lời đồn đại hổng biết có đúng không, nhưng như vậy e tổn thương đến thanh danh của quan lớn trước hết, vì như vậy là ngài cầm cân nẩy mực chưa thiệt công bằng. Thấy sự như vậy, muốn tránh điều không hay cho quan lớn, nên tui buộc lòng phải lên thưa trước với ngài, nếu là chuyện loan truyền tầm bậy thì xin quan lớn tìm ra kẻ phao ngôn để trị tội.


Thấy Phan Ngọc Tòng ăn nói thẳng thắn không hề kiêng sợ oai mình, viên Tri phủ chột dạ phải bảo viên Hương cả đừng ngăn cản việc mở trường của Tú Chiểu. Lại một lần nữa, Tú Chiểu tin vào lòng tốt và tính cương trực của những người bình thường sống bên cạnh mình, chứng tỏ câu thơ trong Lục Vân Tiên: “Mấy ai ở đặng hảo tâm, nắng đun: nón chóp, mưa dầm: áo tơi” chỉ là sự nghi ngờ và lo xa mà thôi.


Tú Chiểu còn đang mải ôn lại chuyện cũ thì đã nghe thấy cái giọng ồm ồm của Hương giáo Tòng cất lên:


- Bữa nào mời thầy sang tôi, ta làm một bữa nhậu rượu đế Phú Lễ với gỏi da cá đuối thì ngon tuyệt trần đời!


Gỏi da cá đuối là món đặc sản của Ba Tri. Da cá đuối phơi khô, đem đốt cho xém da rồi cạo rửa. Xong nấu nước phèn chua ngâm một đêm cho mềm. Sau đó rửa lại bằng nước nguội cho sạch rồi dùng dao thái mỏng. Nếu ăn liền thì trộn với đu đủ xắt nhỏ hoặc cải nồi thêm vỏ tôm khô, đậu phộng rang và rau thơm, vậy là có một món nhậu tuyệt diệu…


Tú Chiểu vui vẻ:


- Vậy thì còn gì bằng. Để bữa nào ông Cử Trị tới tôi sẽ rủ ổng sang thăm bác luôn thể, ta cùng vui…


- Ông Cử Trị hả! Tôi được nghe thơ của ổng đã lâu, vẫn khao khát được diện kiến mà chưa có dịp. Khi nào ổng tới, thầy cho tôi được gặp ổng để bày tỏ lòng ngưỡng mộ a thầy.


*


Đang tưới nước cho mấy cây thuốc, Tú Chiểu bỗng dừng tay lại. Có tiếng chim trau trảu kêu ríu rít trên cây khiến ông lắng tai nghe chăm chú. Xen vào tiếng chim lại có tiếng con sóc vừa kêu tục tục vừa chuyền sột soạt trên ngọn dừa. Đã bao nhiêu ngày nay, chỉ lắng nghe âm thanh là Tú Chiểu đoán được thời khắc trong ngày. Bây giờ chắc mới cuối giờ Thìn, hãy còn sớm lắm. Bữa nay ông cho học trò tạm nghỉ học vì ông mắc lo thuốc thang cho bà mẹ ông Hương giáo Tòng, gọi là cũng để đền ơn ông đã giúp đỡ cho mình trong việc mở trường. Hốt xong thang thuốc cho bà cụ, ông ra tưới vườn để chờ tới trưa lại sang thăm bệnh coi thuốc thang công phạt thế nào.


Tưới xong, Tú Chiểu ra chỗ hồ bán nguyệt thành xây bằng gạch, để thăm lại mấy bông sen. Khi thả sen vào hồ thì đã hết mùa hạ, sang mùa thu. Ông cúi xuống mặt hồ, lấy tay nâng niu từng bông sen và cảm thấy hết cả cái mềm mại láng mướt của từng cánh. Một mùi hương thoang thoảng mơ hồ lan tỏa trong không gian.


Ông nảy hứng muốn làm một bài thơ vịnh hoa sen mùa thu nhưng lại cảm thấy khó khăn. Từ khi bị mù, mỗi khi tả một cảnh gì ông không thể nhìn thấy cảnh ấy trước mắt mà chỉ có thể tưởng tượng ra qua những cảnh tương tự mà ông từng nhìn thấy. Mà khi mắt sáng thì người ta lại hay khinh thường, không mấy khi ngắm cảnh vật thật tỉ mỉ kỹ càng. Khi đặt thơ Vân Tiên ông đã phải chật vật với những đoạn tả cảnh, nhiều khi chỉ tả được những màu sắc lạt lạt như trong một bức tranh thủy mặc:


              Hai bên bờ bụi rậm ri,


              Đêm khuya vắng vẻ gặp khi trăng lờ.


            Trông chừng đường sá bơ vơ,


            Có đàn đom đóm mờ mờ đi theo…


Bù vào chỗ nghèo nàn về màu sắc, ông phải tăng cường thêm về mặt cảm thụ âm thanh:


            Buồn trông dặm liễu đường hòe


            Tiếng chim gọi thảm, tiếng ve kêu sầu


            … Thác ghềnh lên xuống trải bao


            Trên ghềnh chim hót, dưới ao cá cười…


Lúc này Tú Chiểu chỉ hận không được nhìn thấy một bông sen cụ thể trước mắt để miêu tả thành thơ, ông đành phải làm một bài thơ nói lên ý niệm về hoa sen. Thiệt là đáng tiếc. Ông bùi ngùi tức cảnh ngâm:


            Sen hỡi là sen tiếng chẳng hèn


           Thấy sen lỡ vận, tiếc cho sen


           Ngậm cười trước hạ, hèn cùng thưởng.


           Đua nở mùa thu, tốt mấy khen.


           Gương mặt bất phàm đâu biết đặng.


           Bèo tai vô dụng gọi rằng quen…


Tú Chiểu đang ngâm nga, thì bên ngoài có tiếng cười nói:


- Hay lắm! Thầy Tú ví mình với hoa sen, còn tôi thì liệu thầy có cho vào hạng bèo vô dụng gọi rằng quen không đấy?


Tú Chiểu lắng nghe, rồi hỏi:


- Tiếng ai như tiếng anh Nhiêu Thang Trông thì phải.


Người đó cười:


- Giỏi! Giỏi! Đã lâu không gặp mà thầy vẫn nhận ra giọng tôi thì tài thiệt đó!


Thì ra người đó là Lê Bổn, người miền Trung vào ngồi dạy học ở Thang Trông thuộc tỉnh Mỹ Tho. Lần trước, Cử Trị cử ông cùng đi thăm ông Tri huyện Âu Dương Lân đã có gặp thủ khoa Huân và Nhiêu Bổn trong một cuộc họp bạn bình thơ. Bữa đó, Nhiêu Bổn đã đọc cho mọi người nghe mười bài Tự Thuật của Tôn Thọ Tường và thách các bạn họa lại. Rượu ngà ngà say, Cử Trị đã nhận lời thách của Bổn và chỉ vài ngày sau mười bài họa đã xong. Nhiêu Bổn và Huyện Lân lại sai học trò chép lại nhiều bổn truyền đi khắp nơi.


(còn tiếp)


Nguồn: Đuốc lá dừa. Tiểu thuyết. Rút từ bộ Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








[1] Năm 1861.




[2] Mở mang sự học.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 11.08.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 29.07.2017
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 20.07.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
xem thêm »