tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20804383
Tiểu thuyết
03.04.2013
Hà Văn Thùy
Nguyễn Thị Lộ

     Rằm Trung thu là ngày hội dành cho con trẻ nhưng cũng là ngày vui của mọi người. Mọi năm, vào đêm Rằm, trong cung treo đèn kết hoa, các quan Khâm thiên quan sát thiên tượng xem mưa gió, trăng sáng, trăng lu, sự vận hành của các sao để dự đoán thời tiết, làm lịch, khuyến cáo nhà nông cấy trồng cũng như nghề tằm tang. Trong dân gian nhiều nhà cũng treo đèn lồng, đốt đèn kéo quân, thả đèn trời, cho trẻ con phá cỗ, tiếng trống múa lân thì thùng… Năm nay, hoàng thượng vừa băng, lại thêm cái án tru di của gia đình quan Thừa chỉ đại học sĩ  Nguyễn Trãi nên không khí Thăng Long nặng nề buồn thảm. Trăng hình như cũng mang màu chết chóc. Vầng trăng đỏ quạnh quầng lên màu máu. Anh trăng mang vẻ thê lương tỏa chiếu kinh thành. Những vì sao thưa thớt trên bầu trời hoang vắng… 


    Đang đêm nghe tiếng khóa cửa lách cách, Thị Lộ thức giấc, tự hỏi, giờ này còn có chuyện gì đây? Nàng khẽ trở mình, toàn thân ê ẩm. Những vết đòn bị chạm vào đau buốt. Nàng cảm thấy như mình vừa từ cõi chết trở về với hai bàn tay quấn vải trắng. Cửa mở, người lính bước vào, nói nhỏ: Mời phu nhân dậy, đi có việc!


        - Việc gì trong lúc khuya khoắt vầy?


        -  Đó là lệnh quan, xin đi ngay cho! Nghe tiếng người lính nói với vẻ ân cần nàng không hỏi nữa, chống tay xuống giường nâng mình dậy, khó nhọc tụt xuống đất, theo chân người lính lảo đảo bước ra ngoài. Đi thập thễnh theo hành lang hẹp, nàng giật mình nhận ra ánh trăng đỏ như máu lênh láng khoảng sân. Nhìn lên trời nàng thấy vừng trăng đỏ quạnh. Qua vuông sân, người lính dẫn nàng đến một hành lang sâu hun hút rồi dừng lại. Một người lính khác xách cây đèn lồng làm động tác bảo nàng đi theo. Dừng lại trước một phòng giam, người lính mở khóa, nói nhỏ:


         - Mời phu nhân vào đi, quan Hành khiển Nguyễn Trãi đang chờ!


      Không tin ở tai mình, nàng lê từng bước ngắn khó nhọc về phía ngọn đèn mờ mờ. Một bóng người loạng choạng bước lại phía nàng. Nhận ra chồng, nàng bước vội lên mấy bước rồi khuỵu xuống. “Phu nhân” Nguyễn Trãi kêu thảng thốt rồi cúi xuống nâng nàng dậy. Nàng quá yếu còn ông thì quá mệt nên phải vất vả lắm ông mới dìu được nàng lại chiếc giường nhỏ.


        - Nàng đến nông nỗi này sao? Ong nâng niu rờ rẫm hai bàn tay quấn vải của nàng, hỏi giọng thương cảm.


       - Phu quân, thiếp có tội làm liên lụy chàng. Giọng nàng xót xa.


         - Nàng có tội gì đâu?


         - Chàng đừng nói thế, thiếp biết, tội thiếp lớn lắm. Dầu có sống đến muôn kiếp cũng không đền hết tội với chàng. Thiếp đã phản bội chàng rồi lại làm liên lụy chàng, kéo gia tộc chàng vào thảm họa tru di! Tội thiếp quá lớn! Trời ơi, làm sao thiếp trả được?


        - Nàng đừng tự làm khổ mình nữa, giọng Nguyễn Trãi bùi ngùi, nàng còn nhớ đêm cuối cùng ở Côn Sơn chứ? Ta đã tha thứ cho nàng. Còn việc xảy ra ở Trại Vải chỉ là tai nạn, ngoài ý muốn. Dù có nghiêm trọng tới đâu thì đấy cũng chỉ là tai nạn! Nàng không tiến độc cho hoàng thượng… Ta cũng hiểu, việc nàng điểm chỉ vào khẩu cung là do cực hình. Làm sao mà nàng chịu nổi những đòn tra như vậy? Nàng không có tội!


       - Cảm ơn lượng bao dung trời bể của chàng. Nhưng xin chàng tin, thiếp không hề tự điểm chỉ vào khẩu cung. Thiếp đã đinh ninh dù chết cũng không nhận cái tội mà mình không làm. Có lẽ thiếp chỉ có thể báo đền phu quân được đến vậy! Gia hình lần đầu, thiếp ngất đi. Hôm sau gia hình tiếp, thiếp lại ngất. Lính lôi thiếp về phòng giam. Khi tỉnh dậy, thiếp thấy tay mình có vết son thì hiểu ra tất cả! Lê Thụ trở đi trở lại chỉ hỏi thiếp có một câu: “Nguyễn Trãi sai mày tiến độc cho hoàng thượng phải không?”. Thiếp biết họ cố ý dồn chàng với thiếp đến chỗ chết!


      - Ta hiểu, ta hiểu… Nguyễn Trãi ôm vợ vào lòng. Ta hiểu tất cả những chuyện đó! Khi chưa gặp nàng, nghĩ rằng không chịu nổi đại hình nàng buộc phải điểm chỉ, ta đã không trách nàng! Đòn đau đòn ác vậy nàng làm sao chịu nổi? Khi biết nàng không điểm chỉ, ta càng kính phục nàng hơn! Nhưng nàng có hiểu điều này không, có lẽ, ta nghĩ, việc người ta bắt nàng điểm chỉ lúc bất tỉnh lại là tốt? Nó làm cho nàng không phải đau đớn hơn và nó cũng làm ta không bị cực hình… Dù nhận dù không nhận chúng ta cũng chết! Gặp được nàng như vầy là thỏa nỗi mong mỏi cuối cùng của ta rồi…


      - Chàng không căm ghét thiếp thật sao? Thiếp hiểu rồi, nếu căm ghét thiếp, nếu ghê tởm thiếp thì chàng đã không ôm thiếp vào lòng âu yếm đến vậy! Chàng ơi, thế là lòng thiếp đã thỏa! Bây giờ dù có chết, thiếp cũng ngậm cười nơi chín suối… Lát sau tiếng nàng thổn thức, nhưng ghê sợ quá chàng ơi, sao lại giết cả ba họ chàng, những ông già, những đứa trẻ thơ vô tội! Người ta nỡ độc ác vậy sao? Càng nghĩ thiếp càng ghê sợ, không lúc nào yên được… À thiếp quên chưa hỏi chàng, nàng Cẩm Vân thế nào?


      - Ta đã bố trí cho lão Mộc đưa Cẩm Vân đi trốn. May mắn thì thoát. Nàng bình tâm lại, đừng lo nghĩ nữa. Ngày mai nữa thôi, mọi sự sẽ thành dĩ vãng. Chúng ta sẽ hết mọi khổ đau, hờn oán. Ta mong nàng thanh thản ra đi vào cõi vĩnh hằng. Không gì đáng sợ bằng cái chết. Nhưng khi biết mình nhất định phải chết ta mong nàng cùng ta bình thản nhận lấy…


     Nguyễn Trãi đặt Thị Lộ xuống giường rồi ông nhẹ nhàng nằm xuống bên nàng. Lấy tay trái gối đầu cho nàng, còn tay phải ông quàng qua người nàng thân thiết như níu giữ nàng mãi mãi bên mình. Ở nơi nào đó phía nam kinh thành, tiếng gà cất lên eo óc.


     Có tiếng khóa lách cách ngoài cửa. Nguyễn Trãi nâng nàng dậy. Cửa mở, tiếng người lính thì thào:


          - Trời sắp sáng rồi, xin phu nhân trở về…


Từng bước chậm chạp, Nguyễn Trãi ôm vợ trong tay, dìu nàng ra cửa. Đến cửa, Thị Lộ quỳ xuống bái biệt chồng rồi gượng đứng lên, bước ra ngoài.


 


                                     *


                                 *       *


 


    Phần đêm còn lại Nguyễn Trãi thao thức. Lần cuối cùng ông nhìn lại cuộc đời mình. Những ngày thơ ấu vui tươi ở nhà ông ngoại. Những ngày học với cha. Ngày thi đỗ ra làm quan với nhà Hồ. Ngày nhà Hồ bị diệt vong, cùng Phi Hùng đưa cha lên quan ải. Lời cha dặn ngày nào như còn văng vẳng: “Con là người có học, có tài, nên tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù cho cha, như thế mới là đại hiếu…”  “Cha ơi, nghe lời cha, con đã rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Nhưng làm sao con là hiếu tử được khi để xảy ra cái họa tru di này? Nhưng cha ơi, dù thế nào đi nữa, lòng trung nơi con vẫn vằng vặc, xứng với lòng tin cậy của cha. Cha ơi, hẹn gặp người..”.


      Nguyễn đang nghĩ ngợi mông lung thì có tiếng mở cửa rồi một bóng người lẻn vào. Bước lại gần, người ấy quỳ xuống,  giọng run run:


        - Bẩm quan lớn! Bẩm quan lớn!


      Ngồi dậy Nguyễn Trãi nhận ra người cai ngục canh giữ mình mấy bữa nay. Anh ta có vẻ là người tốt, phong thái cung kính, nói năng lễ độ.


       - Ay chết, đừng làm vậy, có gì anh đứng lên nói đi!


   Không đứng dậy, vẫn giọng run run, người cai ngục cúi đầu nói tiếp:


       - Quan lớn có cho phép, con mới dám nói ạ!


       - Thôi được, ta cho phép nhưng anh phải đứng lên.


   Người cai tù vóc dạc cao lớn đứng lên, khom khom lưng:


      - Bẩm quan lớn, thày con trước đây giữ chức đội trong quân của đức Thái tổ, bị giặc Ngô bắt giam trong thành Đông Quan. Nhờ kế sách hòa hiếu của quan lớn nên thày con được sống trở về. Thày con rất kính trọng đức yêu nước thương dân của quan lớn. Nay thày con đã già yếu đang trên giường bệnh. Khi con được hầu quan lớn trong này, thày con dạy con phải chăm sóc người chu đáo. Biết hôm nay người ra đi, thày con dạy con bằng cách nào cũng xin quan lớn bài thơ để làm tấm gương dạy dỗ con cháu, coi như của gia bảo truyền đời…


  Nhìn người đàn ông cúc cung cúi đầu, nét mặt có vẻ hiền lành, Nguyễn Trãi nói:


        - Thày anh thích thơ của lão đến vậy sao? 


        - Bẩm quan lớn, thày con bảo nếu được chữ của quan lớn thì ra đi cũng vui lòng!


        - Nhưng anh biết đấy, ta là tử tù, giữ thơ của ta là phạm phép nước, thày anh không sợ sao?


        - Dạ bẩm, thày con biết ạ. Nhưng nếu được quan lớn thương, gia đình con sẽ giữ thật kín, chỉ đem ra đọc trong dịp cúng giỗ!


       - Thôi được, ta sẽ cho nhưng anh nhớ là phải giữ thật kỹ, đừng vì ta mà liên lụy. Nhưng tiếc quá, ta không có giấy bút.


       - Dạ thưa, có có đây ạ! Cai ngục mừng húm rồi vội vàng lấy trong người ra chiếc nghiên mực cùng vuông lụa bạch. Trong khi anh ta vội vã mài mực thì Nguyễn Trãi nhắm mắt ngồi như người thiền định. Mài mực xong, viên cai kính cẩn trải vuông lụa ra trước mặt người tù rồi lặng lẽ đứng ra một bên chờ đợi. Người tử tù mở mắt, cầm bút, vuốt vuốt ngọn thỏ vào nghiên mực rồi hạ bút xuống mặt lụa. Những chữ Nôm nét run run hiện lên:


 


 


                           BẢO KÍNH


         Đói khó thì làm việc ngửa tay,


         Chớ làm sự lỗi quỷ thần hay.


         Nhiều khôn chẳng đã bề khôn thật,


         Trăm khéo nào qua chước khéo dầy.


         Có của cho người nên rộng miệng,


         Chẳng tham ở thế kẻo chau mày.


         Bất nhân vô số nhà hào phú,


         Của ấy nào ai từng được chầy!


    Viết xong, soi bài thơ lên trước ngọn đèn dầu, ông nhẩm đọc lại, ngẫm nghĩ rồi ký thảo chữ Nguyễn phía dưới. An cần đưa bài thơ cho viên cai, ông nói:


     - Thường thì người ta cho thơ chữ, nhưng thày anh muốn có bài thơ răn dạy con cháu, ta cho thơ Nôm để mọi người dễ hiểu dễ thuộc. Cho ta chào thày anh, chúc ông mau khỏi bệnh.


   Đưa hai tay nhận bài thơ, viên cai ngục cúi đầu vái người tù ba vái, nói:


        - Đa tạ quan lớn, đa tạ quan lớn, được thế này thì phúc cho nhà con quá. Anh ta cẩn thận gấp vuông lụa lại, cất vào ngực áo, sau đó gói nghiên mực lặn vào trong người. Vái người tù lần nữa, anh ta lùi ra, khóa cửa lại.


   Trở lại nhà giam, Thị Lộ biết đêm đã tàn. Nằm lặng lẽ trên giường nàng cảm thấy lòng ấm lại vì những lời nói vì tấm tình của chồng. Cái chết với nàng không còn nặng nề không còn đáng sợ nữa. Nàng cảm thấy yên tâm thanh thản ra đi. Đời ta không vô ích, nàng nghĩ, ta đã sống những năm tháng không phí hoài! Chỉ là một nhi nữ thường tình nhưng ta đã sát cánh cùng chồng đánh giặc rồi sau đó vào triều dạy dỗ cung nhân, chấn chỉnh hậu cung, giúp  vua làm lễ nhạc… Người đời chất lên đầu ta biết bao tội lỗi, nào là dâm phụ, phản bội chồng rồi mang tội giết vua. Với cái chết này, họ cho là ta bất hạnh mà không hiểu rằng ta hạnh phúc hơn rất nhiều người. Hạnh phúc vì có tình yêu của hai người đàn ông tuyệt vời. Một người là đấng minh quân, một người là văn nhân rực sáng! Ngay cả cái chết với ta cũng không chỉ là bất hạnh. Ở tuổi ngót năm mươi, kể như đã già, nếu sống dăm mười năm nữa để rồi chết già như phần nhiều người đàn bà khác, cũng là xong một kiếp người. Dù được sống ít hơn nhưng nhờ tình yêu của hai người đàn ông ấy, ta thành bậc nữ lưu bất tử. Ngày mai ra pháp trường, sẽ rùng rợn, sẽ bi thương lắm khi mấy chục cái đầu rụng theo từng tiếng trống. Tất nhiên bọn đao phủ sẽ bắt mình với chàng phải chết sau cùng để nhìn mấy chục cái đầu con cháu nhà Nguyễn Trãi rụng. Dù có quá sức chịu đựng thì ta cũng ráng chịu vì chàng…


                                                          


 


                                    *


                                *      *


 


      Chợ Cửa Đông là chợ lớn của kinh thành, tháng họp sáu phiên. Ngày phiên chợ thuyền buôn từ các nơi chở về sản vật của năm đạo trong nước, mùa nào thức ấy thật sầm uất. Đây là chợ đầu mối bán buôn, nơi họp mặt của các thương lái tứ phương. Chợ cũng chỉ họp buổi sáng. Các người buôn bán ở kinh cất hàng từ đây đem về các chợ nhỏ khu vực để bán dần cho người kẻ chợ. Vì vậy tuy là chợ lớn nhưng mỗi phiên cũng chỉ ồn lên từ thật sớm, quá ngọ chợ vắng teo. Phía sau chợ có một bãi hoang rộng, từ các triều trước được dùng làm nơi hành hình tội nhân.


   Gần tuần nay, dân kinh thành đã rỉ tai nhau là sắp tới triều đình có cuộc hành quyết lớn lắm, tru di cả ba họ nhà quan Thừa chỉ đại học sĩ Nguyễn Trãi. Ai chứ quan thừa chỉ thì người kẻ chợ không lạ. Ong là người có công lớn theo Đức Thái tổ đuổi giặc Minh. Hồi quân ta bao vây Đông Đô, Thái tổ cho dựng đài cao ở Dinh Bồ Đề để quan sát động tĩnh của quân giặc trong thành Đông Quan, Thái tổ ngồi ở tầng trên cùng, thì ông Trãi ngồi ngay tầng dưới để cùng bàn mưu tính kế. Kế lớn của ông Trãi là kế  tâm công, đánh vào lòng người. Chính vì nghe kế ấy mà Thái tổ tha cho hai chục vạn quân Minh, bảo toàn được kẻ chợ, mở ra tình hòa hiếu giữa nước Nam mình và nhà Minh mạnh ở phương Bắc. Ngày ấy, vào dịp trước tết năm Mậu Thân, lính khinh kỵ của Đức ông Trần Nguyên Hãn vào thành cho dán cáo thị của Thái tổ cùng những bản đại tự bài Bình ngô đại cáo ai nghe cũng nức lòng. Khi bình công, Nguyễn Trãi được tuyên dương vào bậc nhất. Nhưng khi ông Hãn mưu phản, ông Trãi cũng bị nghi ngờ, hạ ngục một thời gian. May sao Thái tổ anh minh, xét thấy ông vô tội nên đã tha cho. Đến đời Thái tông, ông Trãi cũng được trọng dụng, đứng ra làm lễ nhạc, làm giám khảo các khoa thi, lại quán xuyến hai đạo Đông Bắc… Con người tài năng và trung nghĩa như thế làm sao mà vướng thảm nạn này? Thương Nguyễn Trãi bao nhiêu, người kinh thành lại căm giận con dâm phụ Thị Lộ bấy nhiêu. Người ta đồn rằng, người thiếp này của Nguyễn Trãi thuộc loại hồng nhan, đẹp đến mức chim sa cá lặn nên chỉ một lần gặp mà hoàng đế Thái tông đã mê mẩn tâm thần. Ngài vời thị vào cung, phong cho chức Lễ nghi học sĩ. Dạy được gì cho cung nữ chẳng biết nhưng chẳng bao lâu sau y thị dan díu với nhà vua, làm ông quan già bị cắm sừng. Rồi trong trận duyệt võ về nghỉ đêm ở Trại Vải, nhà vua đột tử. Triều đình quy cho y thị tội tiến độc giết vua, khiến cả ba họ Nguyễn Trãi bỏ mạng, đàn ông con trai bị chết chém, đàn bà con gái sung làm nô tỳ. Dù vua có chết vì độc dược hay vì lẽ gì khác thì thị cũng chính là con rắn độc. Con rắn độc cắn chết nhà vua, cắn chết cả ba họ Nguyễn Trãi…


    Người trí giả kinh thành suy nghĩ có phần trầm tĩnh. Họ cho rằng, cái chết của Nguyễn Trãi là không tránh khỏi. Trong triều tập hợp biết bao phe phái biết bao quyền lợi. Sao ông chỉ khăng khăng một niềm trung. Ong như cái đê cao ngăn bọn quyến thần. Chúng coi ông là vật cản lớn nhất cần triệt phá. Ong cũng liều mình ngăn mưu của Nguyễn phi triệt hạ mẹ con bà Tiệp dư. Bọn Lương Đăng, Đinh Phúc, Đinh Thắng thù ông bầm gan sôi máu. Mưu diệt ông có thể tính từng ngày. Thái tông đột ngột qua đời là cái cơ hội bằng vàng của bọn họ. Vì vậy, ngay khi vừa chấp chính, Thái hậu đã sống chết gán cho ông cái tội thí nghịch. Biết Nguyễn Trãi oan nhưng nhiều người cũng trách ông, ở tuổi đó rồi sao không yên với việc trí sĩ, lại cho vợ vào cung không những mang tiếng để đời mà còn vướng vào họa tru di? Dù suy nghĩ có khác nhau, nhưng lòng của kẽ sĩ đều buồn nản không cùng. Tài là vậy, đức là vậy mà oan là vậy!


    Sáng ngày mười sáu, lính từ trong cung ra quét dọn rác rưởi, rẫy cỏ dại ở bãi  hoang sau chợ Cửa Đông. Tiếp đó đóng cọc rào xung quanh khoảnh đất rộng hơn ba sào. Trên mỗi chiếc cọc buộc ba cây tre hóp còn xanh làm hàng rào ngăn với bên ngoài. Ở giữa vòng vây, theo chỉ dẫn của một quan võ, lính đóng sáu hàng cọc bằng gốc tre đực thật chắc, mỗi hàng sáu cái, mỗi cái cách nhau một trượng. Cọc chôn sâu vào lòng đất, để chồi lên khoảng hai thước ta. Phía trước hàng cọc trên cùng, ở khoảng cách xa các cọc đã trồng một chút, viên quan võ sai lính đóng hai chiếc cọc cách nhau một trượng, cũng bằng gốc tre đực già, thật chắc chắn.


    Cách nơi đóng cọc khoảng chục trượng, đám lính dựng cái bục rộng, cao khoảng ba thước, trên đó đặt chiếc án lớn cùng một hàng ba chiếc ghế.


   Sang giờ Thìn, người lính mở cửa phòng giam Nguyễn Trãi. Đinh Phúc cùng Đinh Thắng bước vào. Theo sau là người lính bưng một mâm đầy thức ăn, cơm rượu. Nguyễn Trãi chăm chú nhìn họ.


     - Chào quan Hành khiển. Đinh Thắng lên tiếng bằng cái giọng eo éo của quan hoạn. Quan lớn Thiếu úy Lê Khả, quan lớn Nguyễn Xí cùng quan lớn Lê Thụ có lễ mọn tiễn quan lớn. Chúng tôi được sai phải chăm sóc ngài chu đáo. Xin mời ngài dùng bữa.


    Đinh Phúc cúi xuống cầm nậm rượu men xanh vẽ đôi rồng đặt vào góc mâm phía Nguyễn Trãi ngồi, ông ta nói:


       - Kính mời quan lớn!


       Miếng ăn! Nguyễn Trãi hàng ngày vẫn nghĩ, miếng ăn trên đời nuốt vốn chẳng dễ dàng gì. Nay là miếng ăn trước lúc chết! Ông thấy họng mình nghẹn lại. Làm sao mà nuốt nổi? Ong nghĩ, có lẽ nhịn đi là tốt nhất vì ăn lúc này cũng là cực hình. Nghĩ vậy, Nguyễn Trãi nhìn một lượt hai viên quan hoạn, nói:


        - Cảm ơn hai vị đã vất vả vì tôi. Xin phiền hai vị thưa lại với quan lớn Lê Khả, quan lớn Nguyễn Xí cùng quan lớn Lê Thụ là tôi xin cảm ơn tấm lòng của các vị. Trãi tôi ra đi, xin chúc các vị ở lại mạnh khỏe. Riêng với hai vị, Trãi tôi chân thành cảm ơn. Tôi thật lấy làm hối vì trước đây đã không nghe lời khuyên của hai vị nên để xảy ra nạn này, tôi không hề oán thán, chỉ tự trách mình…


     Hai viên hoạn quan chào Nguyễn Trãi lần cuối rồi lặng lẽ ra ngoài. Người lính gác khóa cửa lại.


    Còn lại một mình, Nguyễn Trãi nhìn mâm cơm. Đĩa thịt gà luộc vàng ngậy rắc lá chanh thái mịn, bát chiết yêu măng miến nấu lòng gà, đĩa muối tiêu, cơm trắng. Mùi xương xông, mùi tàu, húng Láng thơm lừng… Những món ăn ngày thường ông vẫn ưa nhưng giờ sao nhìn chúng thấy bàng hoàng. Bữa ăn cuối cùng, bữa ăn của kẻ tử tù. Sau hôm nay là không bao giờ nữa! Không có cảm giác đói nhưng lý trí nói với ông rằng cần phải ăn chút đỉnh vì hôm nay phải tổn hao sức lực. Quãng đường đến chợ chẳng gần, lại cũng cần giữ cho người tỉnh táo trước bàn dân thiên hạ. Nghĩ vậy, ông xới cơm từ cái liễn bằng sứ vào bát. Nhưng không hiểu sao khi đưa lên miệng thì miệng đắng nghét, cổ họng khô khốc không sao nuốt nổi, ông đành buông bát buông đũa nhìn mâm cơm. Nghĩ ngợi hồi lâu, ông đổ cơm vào liễn, sẻ chút miến vào bát rồi đưa lên miệng.


   Cửa lại mở, người lính gác từ ngoài nói vào: “Xin mời quan lớn đi ra!” Lặng lẽ Nguyễn Trãi bước ra cửa, dáng người lòng khòng. Người lính dẫn ông theo hành lang ra cái sân rộng. Trên thềm nhìn xuống, ông nhận ra những khuôn mặt thất thần tiều tụy của con cháu, của người thân, già có, trẻ có. Họ cũng nhìn lại ông. Có cái nhìn buồn rầu, có những cái nhìn vô cảm, cả những tia nhìn rực như lửa cháy đầy uất ức căm phẫn… Họ bị trói lại từng xâu một. Tiếng la thét quát tháo của bọn lính ra oai, cả những tiếng roi vun vút vụt vào da thịt. Những đứa trẻ  lẫm chẫm tập đi, những đứa trẻ còn bế ngửa. Chưa bao giờ Nguyễn Trãi đau lòng như lúc này. Mấy chục năm làm quan, vì thanh liêm, ông không có tiền của giúp con cháu, ông cũng không có chức tước ban cấp cho họ. Ong chỉ làm cái gương sáng cho họ về lòng trung về đức thanh liêm. Nhưng giờ thì vì sơ sẩy, ông đã cướp đi mạng sống của họ! Ong nợ họ món nợ lớn thế này biết khi nào trả được? Nghĩ vậy, ông đau đớn tủi hổ nhìn mọi người với con mắt van lơn của kẻ có tội. Chợt ông thấy đám tử tội trong sân nhất loạt quay nhìn về một phía. Từ những cặp mắt vô hồn bỗng nhiên bừng cháy ngọn lửa rừng rực như ném về phía ấy. Bất giác ông nhìn theo những ánh mắt man dại và nhận thấy, từ hành lang đối diện, Thị Lộ được dẫn ra, tay trói quặt sau lưng. Bắt găp một rừng ánh mắt thù hận như muốn thiêu đốt mình, nàng run rẩy rồi ngã qụy xuống.. Người lính xốc nàng đứng dậy, dẫn đến gần ông rồi trói ông với nàng vào một dây. “Phu quân cố chịu đựng!” Mắt đẫm lệ, ngước nhìn ông nàng nói nhỏ rồi lặng lẽ cúi đầu. Cầm một đầu dây thừng, người lính dẫn ông và nàng đi, như người ta dắt con vật. Không ngoái lại, ông biết, phía sau ông, những dây người rùng rùng chuyển động…


   Lính cưỡi voi dẹp đường đi trước, tiếng loa vang vang, phía sau là dây dài người bị trói. Dân kẻ chợ đứng chật hai bên đường xem vì nhiều lẽ. Người muốn tìm tiễn người quen lần cuối. Người muốn thỏa hiếu kỳ, muốn tận mắt chứng kiến một trận chém giết nhiều người, một cuộc tru di tam tộc xem nó ra sao! Có người muốn nhìn tận mặt con dâm phụ Thị Lộ xem thị là loại yêu ma quỷ quái ghê gớm thế nào? Có người còn nhớ lại ngày trước, cậy được vua yêu, thị bày ra trò bắt giam trị tội đàn bà lăng loàn… Vậy thử hỏi tội lộn chồng rồi giết vua, mụ không phải lăng loàn sao? Người ta nhẩm đếm rồi kháo nhau: “Ba tám người, cả bà Thị Lộ cả ông Nguyễn Trãi nữa là ba tám người cả thảy!” Dưới nắng trưa oi bức, xâu tử tù toàn đàn ông con trai lớn bé già trẻ lê chân đi về chỗ chết, tiếng kêu tiếng khóc ồn ĩ một góc trời.


   Đến chợ, đám lính áp giải dẫn từng người đến bắt quỳ xuống rồi trói chặt vào cọc. Những chiếc cọc tre chôn thật khéo, chỉ cao vừa chạm đến cổ tử tù. Những đứa trẻ thì trói đứng. Nguyễn Trãi cùng bà Lộ được trói sau cùng, ở hai cái cọc đóng riêng tách khỏi đám tội đồ và  trong tư thế đối diện với khối người kia. Quỳ xuống nền cát, Nguyễn Trãi quay sang nhìn bà Lộ rồi nhìn vào những thân nhân con cháu trước mặt. Ong nhận ra, người thực hiện vụ hành quyết hôm nay đã tính toán thật chu toàn. Chắc là sẽ chém ông cuối cùng, để cho sau mỗi tiếng trống, ông lại phải nhìn một cái đầu cháu con ruột thịt của mình rụng xuống, cho tới cái đầu cuối cùng là của nàng. Phải, họ muốn ông chết không phải một lần mà tới những ba mươi tám lần…


     Ngay từ giữa buổi, người kẻ chợ đã vây kín pháp trường thành vòng trong vòng ngoài, náo nức đợi chờ. Không ai dám nói đó là trò vui nhưng giết người cũng là một cách thỏa chí hiếu kỳ... Càng hấp dẫn hơn khi một trong số người bị chém lại là giai nhân bậc nhất kinh thành, từng là tình nhân của nhà vua trẻ… Người đẹp chết chém có như người thường không nhỉ? Không ít người tò mò giấu kín câu hỏi của mình. Vì vậy, bằng nhiều lẽ, người dân kẻ chợ đến pháp trường đông như trảy hội.


   Cuối giờ Tỵ, những chiếc xe từ trong triều đi tới. Các quan đến chứng kiến vụ hành hình theo thứ bậc, nào tàn xanh lọng tía đứng hai bên tả hữu chiếc bục cao nhìn xuống đám tội nhân đang quỳ. Tiếng trống rộn rã, tiếng cồng khua những âm trầm vang vang âm u điệu thê lương. Ba vị mặc quan phục tía, mũ mão cân đai tề chỉnh, bước những bước oai vệ lên bục, ngồi vào ba chiếc ghế kê sẵn. Vị quan ngồi giữa dõng dạc đọc bản án:


    Hôm nay, ngày mười sáu tháng Tám Nhâm Tuất, năm Đại Bảo thứ ba, thay mặt Hình bộ, quan Bình chương quân quốc trọng sự, Quốc thượng hầu Lê Thụ thi hành bản án tru di  tam tộc tên Nguyễn Trãi, nguyên là quan Tuyên phụng đại phu nhập nội Hành khiển tước Quan Phục hầu, can tội thí nghịch vô đạo. Nguyên là đêm mùng bốn vừa qua, sau khi tuần du miền Đông trở về, xa giá nghỉ tại Trại Vải thuộc hương Đai Lại huyện Gia Định, là trang ấp của Nguyễn Trãi. Y thừa cơ sai vợ là Thị Lộ, nguyên là quan Lễ nghi học sĩ đến hầu hạ hoàng thượng, nhân đấy tiến độc sát hại Đại hành hoàng đế.


   Mưu thí nghịch vô đạo được phát hiện kịp thời, Nguyễn Trãi cùng vợ là Thị Lộ đã nhận tội. Thể theo luật pháp triều Lê, thí nghịch là tội to nhất trong các tội, vì vậy y thị phải chịu án tru di tam tộc, làm gương cho thiên hạ. Cùng bị hành quyết với hai tên giặc Nguyễn Trãi và Thị Lộ còn có ba mươi sáu tên, danh tính như sau…” Một hồi chiêng trống vang rền. Dứt chiêng trống, viên quan ngồi bên hữu Lê Thụ đứng lên đọc lần lượt ba sáu người đàn ông con trai họ Nguyễn. Viên quan dọc xong bản danh sách tử tội dài, lại một hồi chiêng trống rền rĩ. Chiêng trống vừa dứt, viên quan ngồi bên trái Lê Thụ nhìn đồng hồ cát, nói lớn:


      - Giờ ngọ ba khắc đã tới, xin quan lớn xuống lệnh!


    Lê Thụ vén tay áo, đưa tay nhón cây thẻ bài ném xuống sàn, miệng la lớn: Chém! Một hồi chiêng trống rầm trời. Khi chiêng trống im thì từ đầu hàng người bị trói sáu đao phủ cao lớn lực lưỡng cởi trần, đầu chít khăn đỏ, thắt lưng đỏ, tay lăm lăm mã tấu bước tới, đều tăm tắp. Chiếc trống đại điểm “thùng”, sáu lưỡi đao hạ xuống, sáu ánh chớp lóe lên, sáu cái đầu bay khỏi cổ, lăn long lóc trên cát khô và sáu dòng máu phun lên như vòi rồng từ những chiếc cổ vừa bị chặt. Dứt tiếng trống, các đao phủ bước lên ba bước, tới gần những nạn nhân mới, vung dao lên chờ đợi…


      Sáu tiếng trống chấm dứt, trên pháp trường, sáu hàng đầu đen biến mất, chỉ còn những chiếc cổ cụt ngủn trơ ra chĩa lên trời. Từ những chiếc cổ vừa bị chặt, những dòng máu đỏ lòm ứa ra,  chảy lai láng nhuộm đỏ ngầu bãi chợ. Thấy đầu rụng như sung máu chảy như thác, trong đám người xem hiếu kỳ, nhiều người đứng ngây ra sững sờ, nhiều người thấy máu thì sợ hãi xô đám đông chạy ra ngoài, nôn thốc nôn tháo khiến cho đám người đi xem xô đẩy dẫm đạp lên nhau. Nhưng đồng thời máu chảy cũng cũng khiến cho nhiều người say máu muốn thấy ngay cái chết của người đàn bà duy nhất trong buổi hành hình. Tiếng thét vang dội: Chém, chém con dâm phụ đi, chém đi!  Chém con dâm phụ đi!


    Trong tư thế quỳ, bị trói chặt vào cột, Nguyễn Trãi chỉ còn cựa quậy cái đầu bạc. Ông đưa mắt nhìn vợ. Bà Lộ cũng nhìn chồng. Anh mắt họ nói với nhau biết bao điều không bút nào tả xiết. Qua ánh mắt, họ cũng nhắc nhau rằng hãy ráng chịu đựng. Hai người đao phủ tiến về phía họ, đao giơ cao chờ sẵn. Một tiếng trống rung lên. Hai ánh chớp lóe sáng. Hai cái đầu rơi xuống! Cũng lúc đó trời đang xanh thăm thẳm bỗng trở nên đen kịt. Những lằn chớp xé toang bầu trời rồi tiếng sấm rung lên dữ dội. Mưa như trút xuống pháp trường. Người ta xô nhau chạy. Mưa cuốn thành dòng suối máu chảy vào con ngòi phía cuối chợ. Khi trời tạnh, đám lính quay lại thì những cái thủ cấp bị nước cuốn trôi dồn lại một chỗ ở cuối bãi. Một người lính hiếu kỳ tìm xem đầu của dâm phụ ra sao thì không thấy. Đếm đi đếm lại, chỉ còn ba sáu thủ cấp. Cái đầu bạc của Nguyễn Trãi cũng không cánh mà bay. Một đội lính nhặt những chiếc thủ cấp quăng lên ba chiếc xe và chất lên đó những thây người, cho ngựa kéo đem đi chôn vào một hố chung ngoài ô Đống Mác.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Thị Lộ. Tiểu thuyết lịch sử của Hà Văn Thùy. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
xem thêm »