tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19366666
07.12.2008
Nhiều tác giả
Trương Đăng Quế Cuộc đời và sự nghiệp (6)

2. Thưởng phạt tăng hay giảm ruộng đất:


Xã trưởng, thôn trưởng nào biết xướng xuất nhân dân khai khẩn,


Trong một năm tăng được hai chục mẫu trở lên thì được thưởng ngân tiền Phi long lớn, nhỏ mỗi thứ một đồng.


Trong một năm tăng được năm chục mẫu trở lên thì được thưởng ngân tiền Phi long lớn, nhỏ mỗi thứ ba đồng.


Trong một năm tăng được một trăm mẫu trở lên thì được thưởng ngân tiền Phi long lớn, nhỏ mỗi thứ năm đồng.


Trong một năm tăng được hai trăm mẫu trở lên thì được thưởng ngân tiền Phi long lớn, nhỏ mỗi thứ mười đồng.


Nếu ruộng nương trong xã thôn bị bỏ hoang:


Giảm sút từ một mẫu đến năm mẫu thì bị phạt sáu chục trượng, cứ mỗi mẫu lại tăng thêm một bậc.


Giảm sút từ hai mươi lăm mẫu trở lên thì bị phạt một trăm trượng, cách chức.


Chánh tổng nào biết đốc suất nhân dân khai khẩn:


Trong một năm tăng được từ một trăm mẫu trở lên thì được thưởng ngân tiền Phi long lớn nhỏ mỗi thứ ba đồng.


Trong một năm tăng được từ hai trăm mẫu trở lên thì được thưởng ngân tiền Phi long lớn nhỏ mỗi thứ năm đồng.


Trong một năm tăng được từ bốn trăm mẫu trở lên thì được thưởng ngân tiền Phi long lớn nhỏ mỗi thứ mười đồng. Nếu là Chánh tổng tạm thời thì được thực thụ.


Còn nếu để ruộng đất bỏ hoang:


Giảm đến ba chục mẫu trở lên thì bị phạt sáu chục trượng,


Giảm thêm mười mẫu lại bị thêm tội lên một bậc.


Giảm đến bảy chục mẫu trở lên thì bị phạt một trăm trượng và bị cách chức.


Các viên tri phủ, tri huyện nếu biết chăm chỉ khuyến nông:


Nếu ruộng đất trong huyện tăng từ hai trăm mẫu trở lên thì được thưởng tiền lương ba tháng.


Nếu ruộng đất trong huyện tăng từ bốn trăm mẫu trở lên thì được thưởng tiền lương sáu tháng.


Nếu ruộng đất trong huyện tăng từ sáu trăm mẫu trở lên thì được thưởng ký lục một thứ, lại được thưởng thêm tiền lương ba tháng.


Nếu để ruộng đất hoang hóa:


Giảm đến năm chục mẫu trở lên thì bị phạt sáu tháng lương.


Giảm đến một trăm mẫu trở lên thì bị phạt một năm lương.


Giảm đến hai trăm mẫu trở lên thì do quan tỉnh hặc tâu để trừng trị.


Hàng năm quan cấp tỉnh Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát kiểm soát các phủ huyện, các phủ huyện kiểm soát các tổng xã. Nếu xã nào ruộng đất tăng đến ba trăm mẫu trở lên, tổng nào ruộng huyện nào ruộng đất tăng đến tám trăm mẫu trở lên, thì do tỉnh ghi lấy những viên tổng lý phủ huyện ấy tâu lên, xin cho khen thưởng ưu hậu. Nếu trong tỉnh hạt, ruộng đất tăng đến một ngàn mẫu trở lên, hoặc giảm đến ba trăm mẫu trở lên, thì các Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát ở tỉnh ấy cũng sẽ cứ thực kể rõ, đợi Chỉ thưởng phạt.


Sáu tỉnh Nam Kỳ có nhiều kẻ du thủ du thực, lâu dần thành quen, không làm ăn gì, tới khi bần cùng thì đào tường khoét ngạch sớm tối sống bằng nghề trộm cướp. Từ trước tới nay, hễ có bắt được đem đến quan, chẳng qua lại theo luật, đánh đòn quở trách rồi tha. Chúng lại cho là đắc sách, thù hằn đến những nhà mất của, ném gạch đốt nhà, không gì không làm, khiến cho người ta thà chịu mất của chứ không dám bắt hoặc tố cáo chúng. Trộm cắp nhiều vị tất không vì cớ đó hay sao? Vậy xin phàm những tên đào tường khoét ngạch, ăn trộm ăn cướp, một khi bắt giải, hễ có thực trạng thì không kể là mới phạm lần đầu hay tái phạm, đều nên cho thích chữ, xích lại, rồi giao cho các vệ, các cơ quản thúc, bắt làm khổ sai, đủ hạn ba năm, giao về dân ghi vào sổ. Làm như vậy để kẻ chơi bời lười biếng biết răn sợ, ngõ hầu trộm cướp mới dứt được.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 985,986,987


Vua Dụ bộ Binh:


“Kinh lược đại thần nêu ra những cái tệ hại chứa chất về việc quân dân ở Nam Kỳ, bàn định đặt ra những điều lệnh nghiêm khắc để ngăn cấm. Có thể gọi là thiết thực và trúng bệnh. Nhưng ta xem ra dân ta tự có lương tri, thay đổi phong tục thì phải dần dần. Phen này tuyển lính đạc điền, là những việc mới mẻ làm lần đầu, thế mà sau khi hiểu dụ chỉ thị, dân ta liền hiểu rõ lẽ phải, sốt sắng việc công, mọi việc đều đâu ra đó. Chính trị đã có cơ đổi mới được”.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 987


Tháng 8 năm 1836, niên hiệu Minh Mệnh thứ 17, đoàn Kinh lược Nam Kỳ về đến Kinh. Vua vời lên điện, úy lạo hồi lâu, thân rót rượu ban cho, rồi xuống Dụ rằng:


“Kinh lược đại thần Trương Đăng Quế khâm mạng đi vào Nam Kỳ đo đạc ruộng đất, biết giữ công bằng ngay thẳng, vô tư, hoàn thành được công việc, không làm nhục mệnh vua, dẫu không so sánh được với người đi đánh dẹp ở cương trường, người mở rộng đất đai bờ cõi, nhưng lần đầu kinh lý, làm cho cương giới được phân minh, nhân dân sáu tỉnh đều được lợi ích và vui vẻ. Vả lại, xếp đặt phủ Tây Ninh, khiến cho dân ẩn lậu đều trở thành làng, ấp tất cả. Như vậy không khác gì những người có công mở mang đất đai bờ cõi, thực rất đáng khen. Vậy thưởng cho [Trương Đăng Quế]:


1 con cá bằng vàng, để ngụ ý cá nước duyên ưa,


1 thẻ bài bằng ngọc trắng có chữ  Thọ bằng bát bảo,


1 cái chén có nắp bằng ngọc bịt vàng,


1 quả chanh bằng vàng


 Công lao Trương Minh Giảng cũng ngang với Trương Đăng Quế, vậy thưởng cho cũng như nhau. Phái thị vệ mang đi ban cho”.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 995


Vua Minh Mệnh bảo Trương Đăng Quế:


“Sau khi đạc điền ở Nam Kỳ, ta thường sai thăm dò dân tình, thì họ đều nói, khi mới đạc, cứ tưởng ruộng đất tăng lên thì tô thuế thêm nặng, không khỏi ngờ vực trong lòng, chẳng ngờ sau khi kinh lý, bờ cõi đã đúng, kẻ giàu không được bá chiếm, người nghèo đều có tư sản, mà thuế khóa lại khoan giảm, dân được chịu ơn rất nhiều...”.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 1034


Trong bài tựa tập thơ Trương Quảng Khê tiên sinh tập, Phan Thanh Giản viết có câu:


“ Thời tiên sinh phụng mệnh vua, lo việc đạc điền phân định cương vực ở Nam Bộ quê tôi, một vùng đất mới. Công việc đòi hỏi phải hết sức linh hoạt vì tất cả đều mới lạ, không thể cứ câu nệ lấy cách làm thông thường và sử dụng các loại dụng cụ đo đạc cũ mà thực hiẹn suôn sẻ được, lại còn phải quan tâm và đừng gây phiền hà cho dân, thế mà tiên sinh đã hoàn thành chỉ trong vòng có năm tháng! Vả lại, tiên sinh từng trải, nắm vững vùng đất Nam Kỳ lục tỉnh như lòng bàn tay, nhìn xa trông rộng, xác định những nơi hiểm yếu, tâu xin xây dựng thành trì ở Tây Ninh là điều mà tôi tuy là người gốc Nam Bộ, thật tình cũng chưa từng nghĩ tới ”.


Thơ Trương Đăng Quế sđd, tr. 9-10


Năm 1839, Minh Mệnh năm thứ 20, vua Minh Mệnh Dụ rằng:


“Các tỉnh ở Nam Kỳ từ trước yên tâm theo thói hủ lậu, ruộng đất chỉ kể dây, thửa mà không đo bằng trượng, lượng tính mẫu, định rõ ngạch thuế, cho nên dân gian gian dối thành thói quen, ruộng đất tuy nhiều, mà thuế khóa vẫn không tăng thêm. Trước kia đặt cách Kinh lược sứ đại thần là bọn Trương Đăng Quế đi khám đo, lượng định thuế lệ, so với các hạt khác vẫn nhẹ, thuế không tăng ngạch, ruộng không thêm tô, mà số tiền thuế tự nhiên ngày thấy đầy đủ, việc ích quốc, lợi dân thực có thành hiệu, cũng nên coi như mở mang bờ cõi đất đai, thực đáng ban cho tước, cho được vĩnh viễn, để báo đền công lao, mới có mệnh này”.


Đại Nam thực lục, tập 5, tr. 449


3. TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ VỚI SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC THI CỬ


Năm 1932, mở thi Đình (khoa Nhâm Thìn), vua Minh Mệnh sai thự tiền quân Trần Văn Năng sung làm giám thí đại thần, thượng thư bộ Lễ Phan Huy Thực, Tả tham tri bộ Binh Lê Văn Đức, Tả tham tri bộ Hộ Trương Đăng Quế và phủ doãn Thừa Thiên Đỗ Khắc Thư sung làm việc đọc quyển.


Năm 1835 có khoa thi Hội, vua cử Trương Đăng Quế làm chủ khảo, Phan Thanh Giản làm phó chủ khảo. Lấy 11 người đỗ Tiến sĩ, 02 người Phó bảng. Đến thi Đình, thì cử Hữu quân Nguyễn Văn Xuân làm Giám thí đại thần, còn Trương Đăng Quế, Phan Bá Đạt, Hà Tông Quyền và Phan Thanh Giản được cử đọc quyển.


Tháng 7, mùa thu, năm 1837, Minh Mệnh năm thứ 18, mở khoa thi Hương các tỉnh. Vua sai Hà Tông Quyền, Phan Thanh Giản làm Chủ khảo, Phó chủ khảo trường Thừa Thiên. Doãn Uẩn, Lâm Duy Nghĩa làm Chủ khảo, Phó chủ khảo trường Gia Định. Vũ Đức Khê, Hà Đăng Khoa làm Chủ khảo, Phó chủ khảo trường Nghệ An. Danh sách các trường dâng lên, lấy đỗ 51 cử nhân. Khi bộ Lễ duyệt lại quyển đỗ.


Trường Thừa Thiên bị truất ba người là Nguyễn Công Tùng, Bùi Đạo và Mai Văn Mỹ. Nguyễn Công Tùng viết lầm chữ đầu đề bài phú. Bùi Đạo làm bài phú suýt soát giống bài của tú tài Vũ Văn Khiêm. Mai Văn Mỹ là con của người trùm phường hát bội Thanh Bình, văn lý lại tầm thường. Ba người này đều bị truất xuống tú tài, quan trường phải bị phạt.


Trường Nghệ An kiểm duyệt quá khắc khe, không quyển văn nào trúng cả 3 kỳ, không mấy người trúng 2 kỳ. Vũ Đức Khuê dâng sớ tâu rằng chọn được 5 người khá hơn trong đám người kém ấy, xếp vào loại cử nhân.


Vua Minh Mệnh cho là Thanh Nghệ Tĩnh vốn có tiếng văn học, nhân tài nhiều, sao cả 3.000 thí sinh chỉ chọn được có 5 người, còn cho là người khá hơn trong bọn kém, có lẽ vì bọn Khuê quá hẹp hòi. Nhân đó, quan khoa đạo là Ngô Văn Địch tâu xin toàn bộ quyển thi trường Nghệ An, không kể đậu rớt, chuyển cả về bộ, tái duyệt, chước lượng lấy đỗ thêm 15 cử nhân nữa. Vua nghĩ từ trước vẫn không có lệ lấy đỗ thêm những quyển hỏng, bèn cho đòi cả 20 cử nhân trường thi Nghệ An về Kinh sát hạch. Vua sai Hiệp biện đại học sĩ Trương Đăng Quế và Tả tham tri bộ Lại Hà Tông Quyền làm chủ khảo xét hạch, lấy đỗ 15 người, đánh hỏng 5 người.


Năm 1838, Minh Mệnh năm thứ 19 cho Hiệp biện đại học sĩ Lê Văn Đức, Trương Đăng Quế kiêm lĩnh công việc Quốc Tử Giám, chuẩn cho lấy ngày mùng 1 tháng 10 năm ấy bắt đầu, tháng chẵn do Lê Văn Đức trông coi, tháng lẻ do Trương Đăng Quế trông coi.


Năm 1838, Minh Mệnh năm thứ 19, thi Hội. Vua cử Trương Đăng Quế làm Chủ khảo, Thượng thư bộ Công là Hà Duy Phiên làm Phó chủ khảo. Khoa này có 130 cử nhân dự thi. Từ khi tiến trường đến ngày xuất bảng là18 ngày. Lấy trúng cách 18 người:


Nguyễn Cửu Trường, Nguyễn Danh Thành, Đinh Viết Thận, Phạm Văn Nghị, Nguyễn Văn Tùng, Lê Duy Trung, Lê Thiệu Trị, Doãn Khuê, Phạm Chân, Trần Tiễn Thành, Hoàng Trọng Từ.


Phó bảng 10 người:


Nguyễn Tường Vinh, Tạ Kim Vực, Dương Công Bình, Nguyễn Hữu Độ, Lê Thúc Đôn, Diệp Xuân Huyên, Nguyễn Văn Dục, Phan Quang Nhiễu, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Xuân Bảng.


Dương Danh Thành vì không thực trong việc cung khai tam đại nên bị truất, không được dự Điện thí (thi Đình). Thí sinh phải cung khai tam đại: tên mình, tên cha, tên ông nội.


Thi Đình, vua sai Đốc sự chưởng phủ là Phạm Hữu Tâm sung chức Giám thí, Hiệp biện đại học sĩ Trương Đăng Quế, Thượng thư bộ Công là Hà Duy Phiên sung chức độc quyển.


Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân:


 Nguyễn Cửu Trường, Phạm Văn Nghị.


Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân:


 Đinh Viết Thận, Phạm Chân,  Nguyễn Văn Tùng,Lê Duy Trung


 Trần Tiễn Thành, Hoàng Trọng Từ, Lê Thiệu Trị, Doãn Khuê.


Sai Hiệp biện đại học sĩ Lê Văn Đức, Trương Đăng Quế khảo hạch tú tài các khoa tuổi từ 40 trở lên ở Quốc tử giám. Đại thần, tế tửu, tư nghiệp ở Quốc tử giám và tứ ngũ phẩm có khoa học, ở các bộ, viện 6 người sung làm phân khảo. Hạch xong lập danh sách:


- Hạng bình 9 người chuẩn cho làm huấn đạo.


- Hạng thứ, hạng liệt 70 người phân ra:


 * Người từ Hà Tĩnh trở ra Bắc thì cho về quê.


 * Người từ Quảng Bình trở vào Nam thì chuẩn cho làm Hành tẩu ở sáu bộ.


Năm 1839, Minh Mệnh năm thứ 20, Trương Đăng Quế tâu:


“Đặt ra chức khởi cư chú để ghi lời nói và việc làm của vua, người xưa sở dĩ trong việc tuyển lựa, thực vì cái bút đứng ở chỗ bệ đá đầu con ly, sách quốc sử do đấy mà ra. Hoàng thượng ta lời nói là phép tắc, hành vi thì thường khi là đạo lý, quan ở đài giữ chức biên chép, nếu ghi được rõ ràng mới có thể rõ là sử thực. Nhưng tài làm sử, chép sử, từ xưa còn lấy làm khó, huống chi trong khi xét việc, việc yên và răn bảo, lời nói hay, rõ ràng đáng chép, việc ghi chép nếu có bỏ sót, chép qua loa, ngày sau chép vào sử sách, sẽ theo đâu mà xét định, tức không thể không cẩn thận.


Xin từ nay, phàm ngày vua ngự điện nghe việc chính, các quan chầu hầu, có lời vua răn bảo, cho đến cử động, cùng là việc các nhà tâu lên, có huấn thị tuân hành thì các khoa đạo đứng hầu đều ghi chép rõ ràng, như khi vua ngự điện và ngự giá đi chơi, cũng theo như thế, cốt phải mười phần rõ đủ, không sót, không lầm, vận dụng ngòi bút, sử dụng chữ nghĩa cho thật tinh tường hết thảy, xứng đáng, theo từng tháng, đem bản biên chép do viện thần nhuận sắc trước lại trình đương trực thần xét xem, đều tự tay thay đổi ghi tên ở cuối giấy. Trong bản ghi chép gặp có viết thêm hay thay đổi và chỗ đóng, đương trực thần phải đóng ấn quan phòng, cho khỏi thiếu sót. Phàm đương trực thần xét xem, nếu trong bản ấy chữ nghĩa có chỗ nào chưa nhã, sự lý có chỗ chưa chu đáo thì cho được sửa chữa. Nếu ghi sai lầm, thì phải sửa lại cho đúng sự thực. Duy bất kỳ triệu đình thần vào hầu, viên khoa đạo theo lệ không được theo bàn, thì do Các thần (quan làm việc ở Nội các) ghi chép, ký giao cho Khoa đạo đương ban, vẫn do Viện thần (các quan làm ở Cơ mật viện) và đương trực thần theo lệ duyệt chữa, như thế thì biên chép không việc gì không rõ, đủ mà việc khảo xét có chuẩn đích”.


Đại Nam thực lục, tập 5, tr. 480, 481


Vua y lời tâu ấy. Vua lại hạ sắc lệnh cho lục bộ xét hỏi các quan trong Kinh và các tỉnh bất cứ tại chức hay đã hưu, người nào biết rõ những sự việc từ năm Gia Long trở về trước, thì kê tên tâu lên, chuẩn bị làm sách Thực lục. Vua bảo Tổng tài Trương Đăng Quế:


“Sách Thực lục biên chép cốt để làm sáng tỏ mãi về sau, cho nên trẫm muốn được người cũ hoặc còn ghi nhớ những việc cũ, tham khảo mà chép vào”.


Trương Đăng Quế nói:


 “Trước đây tìm được một vị kỳ lão trong dân, hỏi thì những việc về ngụy triều Tây Sơn họ nói được rất rõ ràng, nhưng đến những sự thực về quốc triều thì lại không được rõ lắm”.


Vua bảo:


“Những người như thế, cứ việc hỏi kỹ họ để dùng làm tham khảo. Đó cũng là việc góp da cáo để làm áo cừu, có gì là không nên”.


Đại Nam thực lục, tập 5, tr. 521


Vua ngự ở điện Văn Minh, cùng Trương Đăng Quế, Lê Văn Đức bàn luận chùm thơ họa thơ Hà Tiên thập vịnh của Nguyễn Cư Trinh. Vua khen Nguyễn Cư Trinh có khí độ bề tôi rường cột của triều đình. Lại hạ sắc cho bộ Lễ truyền dụ cho Hà Tiên sưu tầm thơ văn của Mạc Thiên Tứ, ngoài mười bài thơ ấy, còn tập nào khác thì chép lại dâng nộp.


Thơ Minh Mệnh từ tập 1 đến tập 5, các bài văn ở sơ tập, và các tập thơ Tiễu bình Nam Bắc Xiêm khấu nghịch phỉ, cùng là các bài minh khắc vào cổ khí, đều đã được khắc in, ban hành rồi. Duy còn tập 6, tập văn 2, và tập thơ Thiên cơ dư triệu chưa khắc in được, và một thiên Trù biên chưa kịp làm xong. Bọn Trương Đăng Quế, Lâm Duy Thiếp đươc vua Thiệu Trị giao việc xem xét làm ngay. Sau khi làm xong trình lên nhà vua làm bài Tựa cho sách. Vua Thiệu Trị cho rằng Tựa là lời người trên, Bạt là lời người dưới. Đối với văn thơ của vua Minh Mệnh là cha, thì mình chỉ có thể viết lời Bạt mà thôi, không dám viết Tựa.


Năm 1841, Thiệu Trị năm thứ nhất, mùa hạ thi Đình. Chưởng vệ Hoàng Đăng Thận sung chức Giám thí, Văn Minh đại học sĩ Tương Đăng Quế và Thự Binh bộ Thượng thư Phan Thanh Giản sung làm chức độc quyển. Lấy đỗ:


- Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân:


Nguyễn Ngọc, Ngô Điền


- Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân:


Lê Đức, Bùi Tuấn, Trần Vỹ, Đào Danh Văn, Phạm Bá Tuệ,      Vũ Văn Lý, Bùi Duy Phan, Hồ Văn Trị, Nguyễn Xuân Thọ.


Năm 1841, Thiệu Trị năm thứ nhất, mùa thu, vua sai Thái bảo Trương Đăng Quế làm chức Tổng tài, Tham tri Tôn Thất Bạch là phó làm phả hệ của hoàng tộc.


Vua Thiệu Trị nhận xét:


“Thái bảo, thự Văn Minh điện đại học sĩ, lãnh Thượng thư bộ Binh Trương Đăng Quế, thi thố được nhiều tài năng mưu kế, làm chức cơ yếu lâu năm, vừa siêng năng vừa cẩn thận, vua tôi cùng một đức một lòng. Từ khi vâng mệnh tiên đế dặn lại giúp đỡ cho ta, khi ở trong triều, trung trinh một mực”.


Đại Nam thực lục, tập 6, tr. 238


Bắt đầu đặt quan và thuộc viên ở Quốc Sử quán. Vua Thiệu Trị cử Văn Minh điện Đai học sĩ Trương Đăng Quế và Đông Các Đại học sĩ Vũ Xuân Cẩn làm Tổng tài, Thượng thư bộ Công là Nguyễn Trung Mậu và Thượng thư bộ Lễ là Phan Bá Đạt làm Phó tổng tài. Ngoài ra còn có 4 Toản tu, 8 Biên tu, 4 Khảo hiệu, 6 Đăng lục, 4 Thu chưởng kiêm Biện sự.


Cũng năm này làm xong Ngọc điệp, có chỗ sai (chép lầm giờ, ngày 28 tháng 12, Minh Mệnh năm thứ 21 việc giờ Ất Hợi chép lầm ra giờ Giáp Tuất). Việc làm này do Nguyễn Văn Siêu thảo sai bị cách chức, Trương Đăng Quế kiểm xét lại song không thấy, bị phạt sáu tháng lương.


Sách Thực lục tiền biên về liệt thánh vừa soạn xong, bọn Tổng tài Trương Đăng Quế tâu xin khắc in, dâng sớ nói:


“Nước mà có sử, để sự việc đời nay truyền đến đời sau, từ xưa các bậc đế vương lên trị vì, đời nào cũng có chế độ, không việc gì không chép vào sử sách, có thể lần lượt khảo cứu được. Thực lục làm ra, gồm đủ các phép biên chép từng năm ghi truyền về sau, mà chính sử cũng ra từ đấy. Vĩ đại thay nước nhà ta chịu mệnh trời cho! Thái tổ Gia Dụ hoàng đế gây cơ nghiệp ở cõi Nam, các bậc thánh đời nọ nối đời kia rõ ràng rộng lớn, trong khoảng ấy, lễ nhạc, đánh dẹp, chế độ, văn pháp, vẫn khuôn phép thể thống dựng nên một nước. Duy cơ nghiệp khi mới gây lên ở đất Mân, đất Kỳ (nơi dựng cơ nghiệp của nhà Chu – Trung Quốc), sử vẫn còn bỏ sót. Đến Thế tổ Cao hoàng đế ta dựng lại dư đồ thống nhất cả nước, sau khi bình định, nhớ đến công nghiệp đời trước, tìm hỏi những vệc xưa, Sử cục đặt ra vẫn thường lưu ý mà chưa có thì giờ làm được. Thánh tổ Nhân hoàng đế ta vận dụng văn chương ngang trời dọc đất, mong sánh kịp thời xưa. Năm Minh Mệnh thứ nhất [1820] xuống chiếu tìm những sách cũ còn sót lại, đến năm thứ hai, mở ra Sử quán, sai các quan biên soạn bộ Thực lục. Năm thứ 14[1833], lại hạ lệnh tiếp tục biên tập định ra từng kỳ trong bộ Thực lục: Từ Thái tổ Gia Dụ hoàng đế đến Duệ tông Hiếu Định hoàng đế là Tiền biên, sau khi Thế tổ Cao hoàng đế trung hưng, là Chính biên. Phàm nghĩa lý ý chỉ đều cân nhắc cho đến chỗ vừa phải, lần lượt biên chép dâng lên ngự lãm, rồi sửa chỉnh lại. Nhưng lại nghĩ, buổi đầu biên chép còn phải khảo đính cho kỹ càng, để được chu đáo, cho nên bộ Thực lục còn để chậm lại, chưa làm xong, lòng Thánh tổ còn đợi về sau. Đến hoàng thượng ta, thuận theo mưu mô ý chí đời trước, lưu ý trông đức sáng và tô bày công liệt của tiên vương. Năm Thiệu Trị thứ nhất [1841] bắt đầu mở Sử cục, sai bọn thần sửa lại Tiền biên và Chính biên bộ Thực lục, kế tiếp sửa Thực lục Chính biên về Thánh tổ Nhân hoàng đế, đã chuẩn định chương trình cho chuyên trách, lại thời thường khuyên bảo mong cho chóng được thành công. Bởi vì tín sử chép rõ việc từng đời, càng nên rõ ràng và cẩn thận.


Bọn thần học thức nông hẹp, từ khi vâng mệnh đến nay, ngày đêm sợ hãi, khuyên bảo lẫn nhau, trước đem nguyên bản các kỷ trong Tiền biên, kính cẩn kiểm duyệt lại. Lại xét những chỗ biên chép ở sách cũ trong Sử quán và những văn thư ở các địa phương dâng lên, trích lấy thêm vào cho rõ. Chỗ nào nên chép thêm, chỗ nào nên chép lại, chiếu từng khoản chép vào, làm bản thảo dâng lên. Kính vâng ngự lãm sửa định lại, tựu trung các sự tích có chỗ nào chưa được rõ ràng đầy đủ, thì sắc sai tìm rộng mà bổ sung. Trông lên thấy tấm lòng hoàng thượng rộng rãi kín đáo, đã tinh lại cầu cho tinh thêm, chu chi đến như thế. Bọn thần kính vâng lời Dụ, hết lòng hết sức chỗ nào cần bổ sung thì đã tuân hành rồi. Cúi nghĩ: Nước nhà từ khi gây dựng hơn 200 năm, đời trước làm ra, đời sau noi theo, công đức tích lũy. Nhớ lại cơ nghiệp đế vương để lại đã lâu đời, tuy từng đời từng năm đã lâu, sử sách tản mát, trong đó không phải không có chỗ khuyết lược. Duy từ thời Minh Mệnh đến nay, lần lượt kế tiếp biên tập, những chỗ chép lại ở trong sử sách, công nghiên cứu trong sách vở, cần nên khắc in để lại, lưu vào kho sách, để nêu rõ công nghiệp to tác của đời trước mà hướng dẫn cho đời sau. Vậy nên làm tập tâu lên, xin đem Thực lục Tiền biên về các tiên đế, chọn ngày khởi công khắc in trước, rồi đem thực lục Chính biên về Thế tổ Cao hoàng đế và Thánh tổ Nhân hoàng đế, kế tiếp biên chép xong, sẽ xin khắc in sau. Như vậy một pho sách quý báu đều được hoàn thành để nêu tỏ nước Đại Nam ta, các bậc thần thánh truyền nối, mưu mô rất rõ rệt, công liệt phải vâng theo, mà càng tỏ đức hiếu của hoàng thượng ta nối chí cùng noi việc của đời trước không biết đâu là cùng.”


Đại Nam thực lục, tập 6, tr. 579 - 580


Tháng 5, mùa hạ, năm 1844, Thiệu Trị năm thứ 4, thi Đình. Sai Thủy sư Đô thống Vũ Văn Giải sung Giám thí đại thần, Văn Minh điện Đại học sĩ Trương Đăng Quế và Thượng thư Hà Duy Phiên độc quyển. Lấy đỗ:


- Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân:


Nguyễn Lập, Nguyễn Tư Giản.


- Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân:


Nguyễn Huy Dương, Hồ Sĩ Tuấn, Hoàng Công Thịnh, Bùi Duy Phiên, Trần Hữu Thụy, Nguyễn Hữu Tạo, Văn Đức Khuê, Nguyễn Chính


Năm 1846, Thiệu Trị năm thứ 6, vua sai Văn Minh điện Đại học sĩ, lãnh Thượng thư bộ Binh, sung đại thần Cơ mật viện, Tuy Thạnh bá Trương Đăng Quế sung Tổng tài bộ Văn quy, tức bộ sách sau này là Thiệu Trị văn quy. Sai Hiệp biện Đại học sĩ lãnh Thượng thư bộ Hộ Hà Duy Phiên, Hiệp biện Đại học sĩ lãnh Thượng thư bộ Lễ Lâm Duy Thiếp, thụ Thượng thư bộ Hình Phan Thanh Giản đều sung chức duyệt lại. Sai Tả Tham tri Bùi Quỹ, Tả phó Đô ngự sử viện Đô sát, Phạm Thế Hiển, Thự Hữu Tham tri bộ Hộ Phạm Thế Trung, Thự Tả Tham tri bộ Binh Nguyễn Đức Chính, Thự Tả Tham tri bộ Binh Hoàng Tế Mỹ, sung làm việc ở Nội các Nguyễn Bá Nghi, Nguyễn Cửu Trường, Vũ Phạm Khải, Lê Chân đều sung chức làm sách. Lại chọn lấy thuộc viên ở Nội các, Hàn lâm viện và cử nhân hành tẩu ở lục bộ 34 người, đều cho làm Hàn lâm sung chức biên chép.


Thiệu Trị Dụ rằng: “Năm ngoái đã sai Nội các, Hàn lâm viện đem sách Vận thư các đời, tham khảo Tự điển, xét định kỹ hơn, bổ thêm biên chép, gọi là Thiệu Trị văn quy... Nhưng nay xét các sách tự điển thì thấy các sách ấy còn nhiều chỗ thiếu sót. Nay sách Văn quy làm ra, chính là muốn văn, chữ, âm, vận đều được hợp cả lại, nhưng có chỗ chưa đủ chưa rõ thì làm cho được đủ được rõ hơn, để ban cho học trò, để làm vẻ vang việc văn trị”.


Đại Nam thực lục, tập 6, tr. 882 - 883


Cũng năm này, vua sai Ngự tiền đại thần Vũ Xuân Cẩn, cố mệnh lương thần Trương Đăng Quế, các Thượng thư Hà Duy Phiên, Đặng Văn Thiêm, Lã Duy Thiếp, Phan Thanh Giản sung chức Tổng vựng. Tham tri lục bộ, Phó Đô ngự sử viện Đô sát, Thị lang lục bộ, Viên ngoại lang ở Nội bộ, Thị độc, Thừa chỉ ở Nội Các sung chức tu tập. Ngoài ra còn có 76 người chuyên việc bên chép làm sách Hội điển.


Như chính Thiệu Trị Dụ rằng:


“Bậc đế vương trị nước, cốt ở đạo, mà đạo ẩn ở việc làm. Đòi xưa đặt quan làm việc, tất có phép tắc để lại, để tỏ bảo người ở ngôi vua biết tin dùng và giá ngự các quan... Trẫm được hưởng thịnh vượng, lo toan noi theo, rất mong nối được ý nghĩ việc làm của đấng Hoàng tổ ta, Hoàng khảo ta. Đã kính làm sách Thực lục, nêu rõ kỷ cương lớn, pháp độ lớn, rạch ròi từng điều từng mục. Còn tiết chế việc làm, ngăn ngừa điều trái thì sai làm sách Hội điển này, cốt mong phân chia cương, mục, đầu mối rõ ràng, đặt ra thể lệ, để bảo các Ty, ngõ hầu những người thừa hành đều có thể theo giữ để làm khuôn phép. Đó là pháp điển rất lớn. Vậy phải kén phái người làm, để có chuyên trách và cốt cho được thành tựu...”.


Đại Nam thực lục, tập 6, tr. 900 - 901


Năm 1848, Tự Đức năm thứ nhất, tổ chức thi Đình.


Trương Đăng Quế và Lâm Duy Thiếp sung làm độc quyển.


Đỗ Quang và Vũ Phạm Khải sung làm duyệt quyển.


Lấy đỗ:


- Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân:


Nguyễn Khắc Cần, Bùi Thức Kiên.


- Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân:


  Nguyễn Đăng Hành, Nguyễn Hinh, Đặng Trần Chuyên,Đỗ Thức Tĩnh, Lê Hữu Lệ, Vũ Xuân Xán


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 88


Tháng 2 năm 1848, cuối xuân, Tự Đức năm thứ nhất, ngày Đinh Mão mở Kinh Diên, nơi vua nghe giảng sách, chọn Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản làm Kinh Diên giảng quan, Nguyễn Đức Chính, Phạm Thế Trung, Hoàng Tế Mỹ, Trương Quốc Dụng sung làm giảng quan thường xuyên. Trong tập thơ Trương Quảng Khê tiên sinh tập, có bài:


HỌA THƠ VUA NƠI KINH DIÊN


(ngay sau khi giảng bài)


Trường học chẳng là chỗ nói suông


Trị bình cốt mở rộng lòng nhân


Ưu tư ý chúa mưu bền vững


Gắng sứclòng tôi việc chẳng nhàn


Quy hối bàn sâu tìm Lã, Phạm(*)


Hình danh đâu thể học Thân, Hàn


Đề từ châu bản ngầm tu chỉnh


Trân trọng lời vua dặn các quan


Thơ Trương Đăng Quế, sđd, tr.337


 


PHỤNG HỌA THƠ VUA NHÂN NGÀY KHAI GIẢNG ĐIỆN KHÂM VĂN VÀO CUỐI XUÂN


Mùa xuân quang cảnh đẹp


Không khí vui thái bình


Nhân dân sống yên ổn


Hoa cỏ thảy tươi xinh


Cúng năm kịp lúa chín


Cai trị thuở yên bình


Ân trạch ban rộng khắp


Văn hóa sùng cao sinh


Tiếp nối gương cần mẫn


Giữ vững đạo tri hành


Xong Viên khâu hành lễ


Tâm Ngọc kính trong lành


Nghiêm túc giữ pháp độ


Đức khéo kết xa tinh


Đường ván mưa lấm tấm


Kinh diên hiện vẻ lành


Nắng rọi sáng rèm trúc


Gió nhẹ vờn qua song


Hương hoa đượm thềm bậc


Phòng ốc khí học hành


Trẻ nam sức chim hộc


Trẻ nữ vẻ chim loan


Lớp lớp người hoàng tộc


Hàng hàng chín phẩm quan


Chuyện trò thật rôm rả


Đối đáp rõ ngọn ngành


Huyền Dịch bởi hiếu thiện


Cẩn thận vì Tích Anh


Đào sâu nghĩa Kinh Dịch


Phân tích lý Xuân Thu


Đồng thanh thì tương ứng


Đồng khí thì tương cầu


Chan chứa tình vạn vật


Ngưỡng mộ đức ân sâu


Công tư việc rất nặng


Nghĩa lợi xét rạch ròi.


Học làm sáng đức sáng


Tập phong nhã hoài oanh


Lo toan theo hiền thánh


Khó nhọc trước dân mình


Rạng ngời đức sáng tụ


Dựa Huấn Dịch phẩm bình


Những ai vào giảng dạy


Phấn khởi tự nhiên sinh.


Theo cách sư á thánh


Cống hiến lấy ý thành


Ngàn thu phỏng lối cổ


Hợp hòa ngũ vị canh


Vua, đức như Nghiêu, Thuấn


Tôi, học theo Khiết, Cao


Luật vua vững cơ nghiệp


Tôi hiền, nước chắc nền


Quyền A, giọng sang quí


Thiên Bảo, tiếng đồng thanh


Yến ngon, nứơc trà nõn


Bao thư thái trong lòng


Trung phu, cho điềm tốt


Thảo luận chừng còn lâu


Đồng sức xây văn hóa


Là lo việc nhân dân


Thơ Trương Đăng Quế, tr. 502


Tháng 4 nhuận thi Đình, lấy đỗ 12 người. Vua bảo Trương Đăng Quế:


“Trẫm ra đầu bài, cũng dễ trả lời, mà đình đối khoa này, chỉ có 2 quyển được 4 phân (tương tự điểm 4 bây giờ), so với khoa trước có phần kém”.


Trương Đăng Quế tâu:


“Các sĩ tử ngày thường học tập chỉ rập theo khuôn sáo, nay được hoàng thượng ra đầu bài, tầm con mắt mới được đổi mới, sau này tự nghĩ phải mài giũa thêm”.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 127


Tháng 4, năm 1856, Tự Đức năm thứ 9, tổ chức phúc thí cho những người thi Hội trúng cách ở điện Khâm văn. Sai Trương Đăng Quế và thự Văn minh điện Đại học sĩ Đặng Văn Khiêm đều sung chức độc quyển. Hữu Tham tri bộ Lễ là Phạm Khôi, và thự Hữu Tham tri bộ Lại là Vũ Duy Ninh đều sung chức duyệt quyển.


(còn tiếp)


Nguồn: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. NXB Văn học. 1-2009.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
xem thêm »