tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18928457
Tiểu thuyết
30.03.2013
Hà Văn Thùy
Nguyễn Thị Lộ

  Trong sương sớm, Thị Lộ run rẩy lảo đảo lên thuyền, đi như người mộng du. Bước vào khoang thuyền ngự, nhìn nhà vua đắp tấm mền như đang ngủ, nàng bước vội tới, đặt tay lên trán chàng. Hơi lạnh của tử thần khiến nàng rùng mình chợt tỉnh. Nàng nhận ra sự thật không thể thay đổi: chàng đã chết và chính nàng đã giết chàng! Ý thức được việc nghiêm trọng xảy ra, nàng thấy thật nhục nhã ê chề. Nàng rùng mình nghĩ lại cảnh mình ôm chàng trần như nhộng trên người và dưới chàng, mình cũng trần như nhộng. Phải khó khăn biết bao nhiêu, phải ráng sức biết bao nhiêu nàng mới không hất chàng xuống để kéo áo mặc cho mình. “Không thể chết! Chàng không thể nào chết được!” Ý nghĩ ấy truyền cho nàng quyết tâm chịu đựng quá sức mình. Nhưng dù vậy cũng không thể cứu được chàng, nàng đành lặng lẽ lật chàng xuống giường rồi bẽ bàng quấn mền che tấm thân lõa thể lẩn đi. Từ lúc đó, nàng gần như điên dại, không còn biết được rõ ràng việc gì nữa. Như cái máy, như con trẻ, nàng làm những việc gì người ta bảo. Để không cho nàng đi lại gây phiền phức, người ta dẫn nàng vào chỗ nhà vua nằm. Đó chính là chỗ thích hợp nhất với nàng. Lặng lẽ, nàng ngắm nhìn rồi vuốt ve chàng. Chàng nằm đó hiền như đứa trẻ. Sao chàng không nói? “Nguyên Long, Nguyên Long, chàng trả lời thiếp đi!” Trong tình trạng nửa mê nửa tỉnh ấy, nàng cảm nhận sức nặng vô chừng của nỗi đau, của sự mất mát. Nàng đã mất tất cả! Ta là kẻ xấu xa, ta đã phản bội, đã phụ bạc Nguyễn Trãi rồi lại gây nên cái chết nhục nhã của chàng. Nỗi đau vì mất mát nơi nàng thật lớn. Nàng đã mất Nguyễn Trãi và bây giờ lại mất chàng… Cuộc đời nàng bị đẩy tới cùng của tuyệt vọng. Một ngày trời nàng ngồi đó, người muốn tan ra thành nước mắt. Không một hạt cơm vào miệng, nàng chỉ uống nước cầm hơi… Thuyền cập bến, theo xa giá về cung, nàng như kẻ mất hồn. Trở về cung của mình, nàng nằm vật trên giường, mắt căng thẳng, đầu nhức như búa bổ. Cứ như thế nàng nằm thiếp đi.


   Mờ sáng, nàng còn mê man trong cơn ác mộng thì thị vệ đến, xốc nàng dậy. Nàng dụi mắt nhìn ngơ ngác. Sao hôm nay những người lính này dữ tợn thế? Sao họ lại đối xử với nàng thô lỗ thế? Họ phải hiểu cho nàng chứ? Họ phải biết nhà vua mất là nỗi đau lớn nhất của nàng! Nàng là người đau khổ nhất! Lẽ nào họ không biết nỗi đau của nàng? “Các người làm gì vậy?” Nàng hỏi vẻ hoảng hốt. Không nói không rằng, người lính cao lớn lôi nàng khỏi giường, kéo ra ngoài, dẫn nàng đi. Phía sau là những người lính mang dáo nhọn sát khí đằng đằng. “Dẫn ta đi đâu ?” Nàng hỏi trong vẻ ngơ ngác đến ngớ ngẩn. Có lẽ nàng là ngươi duy nhất không hiểu cảnh ngộ của mình. Nàng chột dạ khi thấy từ xa có những đôi mắt nhìn nàng ái ngại. Trong đời nàng, chưa bao giờ nàng có thể nghĩ tới một lúc nào mình lại như thế này. Mặc cho nàng gào thét, giẫy dụa, người lính cứ kéo nàng đi. Một cánh cửa tối tăm mở ra, nàng bị đẩy vào, ngã ngồi  trên sàn gạch lạnh. Tiếng cánh cửa khô khốc sập lại cùng xích sắt loảng xoảng. Tất cả tối om. Mãi lâu sau, quen dần với bóng tối, nàng mới nhận ra căn phòng rộng, tường kín mít như một cái hầm, chỉ phía trên cao mới có những lỗ nhỏ cho ánh sáng chiếu vào. Định thần  một lúc, nàng nhận ra trong góc phòng có một cái giường con. Nàng lê chân bước lại chỗ đó. Những tiếng “ chí...í...t” rộn lên rồi tiếng uỵch uỵch chạy. Chuột, nàng nghĩ. Bầy chuột đang ăn cái gì trên tấm phản. Đúng, không phải giường mà là tấm phản mộc. Thấy người lũ chuột ù té chạy. Trong bóng tối nàng nhận ra những cặp mắt nhỏ lấp lánh vẻ căm tức nhìn nàng. Bầy chuột chạy đi, để lại tấm phản mùi hôi nồng nặc cùng những đống phân. Nàng cầm manh chiếu nhỏ, đem ra chỗ xa giũ làm bụi bay mù. Sau đó nàng dùng cái chiếu phẩy phẩy cho hết bụi trên tấm phản. Một lần nữa nàng giũ manh chiếu rồi đập nó vào tường cho bớt bụi. Nàng ngồi lên phản nghĩ ngợi mà không sao hiểu được vì lẽ gì mình bị hạ ngục. Mệt quá, nàng đành đặt mình xuống tấm chiếu hôi rình.  Có tiếng mở cửa cùng lúc với xích sắt va vào nhau loảng xoảng. Một người lính bước vào đặt xuống nền gạch một bát chiết yêu cơm và một bình nước bằng sành. Khi người lính đi rồi, Thị Lộ đi ra phía cửa. Nàng cúi xuống nhìn bát cơm bốc lên mùi gạo hẩm cùng mùi gây gây của cá khô, nàng cảm thấy buồn nôn. Ngửi mùi cơm, cái đói thức dậy khiến cho ruột nàng bỗng nổi lên đau quặn thắt. Nước dãi nàng ứa ra. Nhưng mùi hôi của cơm gạo hổi cùng mùi gây gây của cá khô chưa chín khiến nàng bỗng nôn thốc nôn tháo. Nôn ra toàn nước cùng mật xanh mật vàng. Để bát cơm lại, nàng cầm bình nước lên, uống ngụm nhỏ rồi liền đấy tu một hơi dài cho căng bụng. Nàng ngây thơ tin rằng nước cũng làm no bụng. Uống xong, nàng mang bình nước trở lại giường của mình. Chỉ chờ có thế, đàn chuột từ những xó xỉnh nào trong bóng tối nhung nhúc chạy lại bát cơm tranh ăn rồi cắn nhau chí chóe. Nằm trở lại tấm phản, nàng bỗng thấy lưng ngứa râm ran. Nàng gãi và nhận ra trên da nổi lên những cục sưng tấy, ngứa đến điên người. Sợ hãi, nàng rời bỏ chiếc phản, lấy chiếu xua đi một khoảng bụi bặm rồi đặt mình xuống nền gạch lạnh.


    Tiếng xích sắt khua loảng xoảng rồi cửa mở. “Ra đi” tiếng quát gắt gỏng từ ngoài dội vào. Nàng bước ra ngoài. Anh sáng chói chang làm nàng lóa mắt. Hai người lính mang dáo nhọn kèm nàng đến một căn phòng rộng. “Dẫn phạm nhân vào!” Tiếng quát lớn vang lên. Nàng được dẫn vào giữa hai hàng lính lăm lăm tay trượng dội xuống nền gạch ra uy đằng đằng sát khí. Nàng thấy mình đứng trước công đường. Nhận nàng từ người lính, viên thư lại dẫn nàng đến dưới chiếc án cao, trên đó Quốc thượng hầu, Bình chương quân quốc trọng sự, Tri tứ tụng Lê Thụ ngồi oai vệ. Viên lại bảo nàng quỳ xuống. Quỳ rồi nhìn lên bộ mặt hung thần của viên đại quan chuyên nghề ngục tụng, nàng hiểu rằng mối nguy của mình thực lớn. Có điều nàng chưa hiểu là mối nguy gì?


     - Người quỳ dưới công đường kia, hãy khai rõ họ tên. Viên quan Tri tứ tụng nói lớn.


“Khai rõ họ tên ư? Nàng thầm nghĩ, thật ngớ ngẩn. Ong ta còn lạ gì mặt mình?”


 Thấy tội nhân im lặng, viên phán quan thét lớn ra oai:


     - Hãy khai rõ họ tên!


     Như chợt hiểu ra, nàng bối rối đáp:


     - Bản quan là Nguyễn Thị Lộ, chức Lễ nghi học sĩ


     - Hãy khai rõ tội trạng của mày đi!


     - Thưa quan lớn, bản quan cũng đang muốn biết mình mắc tội gì mà phải giam trong ngục tối, đến giờ phải quỳ trước công đường?


    - Chát! Tiếng miếng gỗ lim đập mạnh xuống án! Mày còn cứng đầu không chịu nhận tội à? Mày tiến độc cho hoàng thượng còn chối cãi sao?


   Thị Lộ không tin ở tai mình nữa, giương cặp mắt vô hồn, nàng ngơ ngác nhìn viên quan toà. “Mày còn cố chối cãi việc tiến độc hoàng thượng sao?” Phán quan gặng hỏi lại. Đến lúc này, đã nghe rõ, và không chịu nổi oan ức quá lớn, Thị Lộ vùng đứng dậy: “Sao, ông nói sao? Tôi mà lại giết Người ư?” Ngay lúc đó người lính xông tới dằn nàng quỳ xuống. “Ta mà lại giết chàng sao? Có điều gì bịa đặt hơn thế nữa không?” Nàng nói tiếng nói của vô thức. Rồi dường như lúc này đã nhận ra mức nghiêm trọng của sự việc, nàng la lớn: “Các người muốn ghép ta vào tội gì cũng được nhưng không thể ghép ta tội giết Nguyên Long!”


      - Rõ ràng đến thế, mày còn không nhận tội sao?


      - Rõ ràng cái gì chứ? Chẳng phải hoàng thượng băng thế nào ông cũng chứng kiến đó thôi? Sao bây giờ lại vu cho tôi giết hoàng thượng? Tôi mà giết Người sao? Tôi yêu Người còn chưa hết mà!


     - Con này láo. Bay đâu, gia hình!


    Lính xô tới, lồng cái kẹp vào hai bàn tay búp măng trắng muốt mềm mại như sữa của nàng rồi mỗi đứa một bên ra sức xiết. Thị Lộ quằn quại đau rồi thét lên một tiếng, ngất đi.


   Hai người lính lôi nàng về phòng giam cũ, đặt nằm bất tỉnh trên nền gạch.


  


                                      *


 


     Không bắt được Thị Lộ nhận tội, Lê Thụ rất lo lắng. Ong ta biết rằng, người đàn bà này chỉ là cái mồi nhỏ để Thần phi nhắm con mồi lớn hơn: Nguyễn Trãi. Từ lâu nay cặp vợ chồng này như cái gai cắm vào mắt bà phi. Việc cứu mẹ con Ngọc Dao trở thành mối thù không đội trời chung. Còn Thị Lộ, còn Nguyễn Trãi sau này mọi việc cũng không dễ. Vì vậy triệt hạ vợ chồng Nguyễn Trãi là mục tiêu số một. Người đưa đầu ra thực hiện mưu đồ đó chính là mình. Nhưng ông cũng biết rằng vu cho vợ chồng Nguyễn Trãi tội tày đình như vậy là bất nhân. Ong mỉm nụ cười mai mỉa. Nào phải Thị Lộ giết vua. Chính mắt ông nhìn bà ta ôm nhà vua trần truồng trên bụng. Nhà vua say mê bà ta đến bỏ mạng sao lại nói bà ta tiến độc cho vua? Nhưng ý Nguyễn phi lúc này là ý trời, làm sao mà cãi nổi? Chỉ nay mai thôi, hoàng thái tử Bang Cơ lên ngôi, Nguyễn phi sẽ thành thái hậu nhiếp chính, quyền nghiêng thiên hạ. Ai dám trái ý bà ta? Mà dù cho mình cùng Trịnh Khả, Nguyễn Xí không cam tâm làm chuyện này thì cũng sẽ có kẻ khác. Thói đời phù thịnh chứ ai phù suy? Đêm hôm đó Lê Thụ đến phủ Tham tri chính sự Nguyễn Xí. Sau Trịnh Khả thì lúc này Nguyễn Xí có uy hơn cả trong triều. Ong là quan võ có nhiều công lao phò Thái tổ, cũng nổi tiếng là bậc trung chính thời Thái tông. Những chuyện hệ trọng thế này phải bàn bạc với ông ta mới ổn. Biết Thụ đến tìm mình vì việc cơ mật, Nguyễn Xí đuổi hết người nhà ra, hỏi:


       - Quan lớn đến tìm tôi có việc hệ trọng?


       - Chiều nay, tôi tra hỏi mà Thị Lộ quyết không nhận tội. Tôi vừa gia hình thì bà ta đã ngất đi bất tỉnh nên chưa có kết quả gì. Muốn đến xin hỏi ý quan lớn nên làm thế nào?


       - Về chuyện này, tôi cũng nghĩ nát nước. Cả ông với tôi, chúng ta đều biết Thị Lộ không hề tiến độc cho hoàng thượng. Nguyễn Trãi cũng không hề có ý làm cái việc bạo ngược đó. Nhưng đây rõ ràng là ý chỉ của Thái hậu. Không làm là kháng chỉ. Ong thử nghĩ xem lúc đó tình hình sẽ ra sao? Vợ chồng Nguyễn Trãi trước sau cũng sẽ bị giết. Chúng ta làm mất lòng Thái hậu, nếu không bị tội chết thì cũng bị đày bị biếm truất… Cơ đồ nhà Lê trong tay người đàn bà và đứa trẻ, bọn nịnh thần mọc lên sẽ đưa đất nước đến đắm chìm. Như vậy chúng ta là kẻ có tội không những với tổ tiên mà còn với dân với nước. Không còn cách nào khác, phải hi sinh Nguyễn Trãi để cứu nhà Lê… Biết việc không thành mà cứ làm không phải là biết vậy!


     - Tôi hiểu ý quan lớn. Việc không thể từ nan thì phải làm. Ngày mai tôi sẽ bắt thị phải nhận tội.


   Sau những ngày lo lắng và đói khát, Nguyễn Thị Lộ rất yếu. Buổi hỏi cung hôm sau, nàng quỳ không vững. Trả lời câu hỏi : “Có phải Nguyễn Trãi sai mày tiến độc cho hoàng thượng không?” Thị Lộ nhắm nghiền hai mắt, tay chắp trước ngực, nói thều thào:


    - Quan Bình chương, ngài biết rõ là tôi không tiến độc cho hoàng thượng, vì vậy chẳng hề có ai sai tôi làm cái việc tôi chưa từng làm đó. Dù các ông có đánh tôi xương tan thịt nát, tôi cũng không bao giờ nhận cái tội mà mình không làm!


   Biết rằng chẳng đời nào thị chịu nhận tội, mà dằng dai mãi sẽ nguy hiểm, đêm qua Lê Thụ đã thảo sẵn khẩu cung. Lúc này nghe thị Lộ nói vậy, ông quát lớn:


    - Mày còn cứng đầu hử? Được rồi mày biết! Bay đâu, gia hình, bốn mươi trượng, đánh!


    Bọn lâu la chỉ vừa đánh hơn chục hèo, cái thân thể vốn đã kiệt quệ của nàng liền nhũn như sợi bún. Nàng ngất đi bất tỉnh. Chỉ cần có thế, Lê Thụ gật đầu, viên nha lại liền chấm ngón tay cái nàng vào son rồi ấn lên tờ giấy viết sẵn. Lính được lệnh khiêng nàng về phòng giam.


 


*


 


Đang ở Vân Đồn tra xét công việc, nghe tin nhà vua băng hà, Nguyễn Trãi vội  đi thuyền về kinh gấp. Suốt chặng đường dài ông hoang mang lo lắng. Càng lo hơn khi biết nhà vua băng trong đêm ở Trại Vải, trang trại của ông. Vì sao lại xảy ra cơ sự đó? Một cái chết bình thường hay một mưu mô? Rồi những gì xảy ra tiếp sau? Chưa hiểu sự việc thế nào nhưng ông tin rằng tai vạ sẽ đổ xuống đầu mình. Hoàng thượng qua đời, cố nhiên thái tử lên thay và hoàng thái hậu chấp chính… Đúng là trời bỗng dưng sập trên đầu. Dưới bóng của Thái tông, ông và bà Lộ đã làm nhiều việc cho dân cho nước nhưng không vừa lòng thái hậu cùng một số triều thần. Lúc này là dịp họ hùa vào trả thù. Trả thù ta cũng được nhưng rồi xã tắc đi tới đâu? Với tâm trạng hoang mang lo lắng, ông rẽ về nhà trong đêm, nói với lão Mộc: “Hoàng thượng băng. Tôi e lành ít dữ nhiều, phen này chắc mang vạ lớn. Cậy ông ngay sau khi tôi đi, chỉ mang theo một ít tài sản hộ thân rồi đưa bà trẻ lánh đi. Hai người phải thay tên đổi họ, đi thật xa may ra mới cứu được dòng họ Nguyễn”.


      - Vâng, lão gia yên tâm, lão Mộc đáp, tôi sẽ lo cho bà trẻ cùng công tử được chu toàn.


     - Cảm ơn lão. Thời giờ gấp, chẳng thể nói nhiều. Mong lão vì họ Nguyễn của tôi mà ráng sức. Xin lão ngồi cho tôi lạy lão một lạy tạ từ!


     - Lão gia, đừng làm như vậy khiến tôi tổn thọ. Thôi tôi đi thu xếp đồ đạc.


   Nàng Cẩm Vân thấy chồng về vội với vẻ mặt thất thần, tuy không hiểu có chuyện gì nhưng cũng lây nỗi lo lắng của chồng. Nguyễn Trãi gọi nàng vào thư phòng, nói:


    - Hoàng thượng băng đêm mồng bốn ở Trại Vải. Chưa biết nguyên nhân cái chết của nhà vua ra sao nhưng việc chết ngay trong nhà mình, lại có phu nhân theo hầu không khỏi có chuyện liên lụy. Giả dụ có vô can trong việc này thì tương lai cũng không sáng sủa: Thái tử Bang Cơ lên ngôi, Nguyễn phi phụ chính. Như nàng đã biết, ta cùng phu nhân đã làm nhiều việc trái ý bà ấy cũng như không ít triều thần. Bây giờ là cơ hội cho họ trả thù. Ta phải về Kinh, còn nàng, ta đã cậy lão Mộc đưa nàng lánh đến nơi an toàn. Hai người phải thay tên đổi họ, nhận là cha con. Có lão Mộc đi cùng nàng, ta tạm yên tâm. Vậy nàng cố bảo trọng sao cho mẹ tròn con vuông. Xem mạch của nàng, ta chắc là con trai. Nàng cố nuôi dạy con sau này nó giữ gìn hương hỏa dòng họ Nguyễn. Ta đi lần này khó lòng có cơ hội trở lại.


    Nghe chồng nói, nàng Cẩm Vân bật khóc nức nở. Vỗ về an ủi vợ, Nguyễn Trãi tiếp:


   - Ta nói cho nàng biết để ứng phó. Đừng khóc, người nhà biết, bất lợi. Sáng mai, sau khi ta đi,  nàng bảo lão Mộc đưa về Chi Ngại thăm nhà mấy hôm. Trên đường đi, một chiếc thuyền chờ sẵn đưa nàng về chùa Yên Tử. Ở đấy sư cụ sẽ lo cho nàng.


   Quá nửa đêm mồng tám, Nguyễn Trãi lên thuyền hồi kinh. Tiễn ông trên bến, nàng Cẩm Vân cố nén tiếng khóc sụt sùi. Lão Mộc bịn rịn không muốn rời chủ.


    Sáng sớm, sau khi cắt đăt công việc cho người nhà, lão Mộc nói với họ là lão đưa bà trẻ về quê Chi Ngại ít ngày. Đi theo hướng Chi Ngại một đoạn xa, gặp chiếc thuyền chài đang gõ mạn lưới cá ven sông, lão Mộc thuê họ chở hai người đến sông Lục Đầu. Tới đó, lão đổi thuyền, đi về phía Yên Tử. Nằm trên thuyền, lão Mộc nghĩ đến đoạn đường vô định phía trước, thật mông lung thật diệu vợi và hiểm nguy khôn lường. Cứ như lão gia nói, thì hoàng đế đột nhiên băng ở Trại Vải, lại có phu nhân theo hầu… chắc là tội lớn lắm. Hẳn lúc này quan quân đang lùng bắt người họ Nguyễn. Bà trẻ đã thành trọng phạm của triều đình. Lão không quản vất vả hiểm nguy nhưng lão sợ có bất trắc nào đó. Chính vậy mà lão lo. Nếu có chuyện gì thì tội lão không để đâu cho hết. Lão nhớ lại, giặc Minh bắt lão cùng người làng đi phu tải lương, mở đường. Trong một trận đánh, quân Nam đánh tan quân Minh. Biết hoàn cảnh họ, vị tướng quân Nam nói sẽ cho họ về quê, nếu người nào muốn, có thể sung vào quân Nam đánh giặc cứu nước. Lão muốn về quê nhưng quê lão giặc đang chiếm làm sao mà về được nên lão đành sung váo lính, đi đánh giặc. Trong trận Tốt Động, lão bị thương. Nằm ở nơi chữa vết thương một hôm thấy ông quan lớn cùng phu nhân đến thăm hỏi úy lạo thương binh. Biết quan lớn là ông Nguyễn Trãi người làng Chi Ngại, lão hỏi thăm tin nhà. Nhận ra người trong họ, quan lớn Hành khiển đưa lão về nhà dưỡng thương. Vết thương lành, ông giữ lão lại để hầu hạ. Khi đất nước được giải phóng, ông khuyên lão nên trở về Chi Ngại chăm lo gia đình nhưng lão nhất định xin ở lại hầu hạ lão gia cùng phu nhân. Từ ngày cả nhà Nguyễn Trãi về Côn Sơn, công việc của lão càng tiện hơn vì thỉnh thoảng từ Côn Sơn lão về Chi Ngại chỉ một đỗi đường. Cái ơn của lão gia lớn lắm, dù có trả suốt đời cũng chẳng hết…  Chiều tối thì tới Yên Tử. Lão dẫn bà trẻ lên chùa Hoa Yên. Sư cụ trụ trì là người quen với gia đình Nguyễn Trãi. Sư cụ đón tiếp hai người chu đáo. Nghe thưa lại lời căn dặn của Nguyễn Trãi, sư cụ bảo cả hai yên tâm. Sư cụ liền đặt tên họ khác cho hai người rồi ngay trong đêm cho người dẫn bố con ông lão họ Đoàn sang Bồn Man. 


 


*


 


    Dù đã lường đến tình huống xấu nhất nhưng Nguyễn Trãi cũng sửng sốt khi vừa đặt chân tới Cửa Đông thành, hoạn quan Lương Đăng chỉ mặt ông, quát lớn: “Thằng giặc Nguyễn Trãi giết vua đây rồi. Bắt trói nó lại”.  Đám thị vệ xông tới, trói ông giật cánh khuỷu. Hiểu ra tất cả, Nguyễn Trãi không hề chống cự, chỉ im lặng cúi mái đầu bạc mặc cho đám thị vệ gươm dáo lăm lăm dẫn đi. Lương Đăng nhâng nhâng cưỡi ngựa đi trước. Dân kẻ chợ có người biết mặt Nguyễn Trãi, họ kháo với nhau: “Đấy là quan Thừa chỉ đại học sĩ Nguyễn Trãi. Bị bắt vì tội thông đồng với vợ là Thị Lộ tiến độc cho hoàng thượng”. Loáng thoáng nghe lời đồn, ông biết mình cùng nàng bị quy cho tội thí nghịch.


   Bị dong đi trên đường phố khoảng hai dặm thì đến thiên lao. Lương Đăng dẫn ông thẳng đến căn nhà giam vừa mở. Viên cai ngục cởi trói, đẩy ông vào rồi khóa lại. “Trọng phạm của triều đình đấy. Chúng mày coi giữ cẩn thận. Để sơ xảy điều gì không còn chỗ mà đội nón đâu!”  Viên hoạn quan cố tình ra oai bằng cái giọng the thé. Khi cửa phòng giam đóng lại, trong ánh chiều mờ mờ, Nguyễn Trãi nhận ra có vẻ gì đó quen thuộc. Ơ cái mùi ẩm mốc hôi hám, tanh tưởi? Ở những trấn song to vững chãi? Ong tự hỏi. Hình như ở một xó nào đó có cái giường?  Khi tìm được cái giường cũng là lúc Nguyễn Trãi nhận ra đây chính là phòng giam mà mình đã ở mười mấy năm trước! Phòng giam tử tội. Phải, đó là Thuận Thiên năm đầu. Mười bốn năm rồi, ông nhẩm tính. Nhưng nay thật khác xưa. Dù sao thì Thái tổ cũng là minh chủ. Có thể hiềm nghi nhưng vua không nỡ hủy diệt mình. Còn nay mình là mục tiêu số một của khát vọng trả thù. Không còn minh chủ. Không còn lẽ phải! Không còn là nghi án như xưa mà bây giờ là tội lỗi hiển nhiên! Mệt mỏi, ông ngả lưng lên giường, mắt nhắm lại, nghe xương cốt ê ẩm.


   Có tiếng sắt va nhau lách cách. Cửa mở. Người lính bước vào mang theo đĩa đèn dầu lạc và người lính đi sau mang theo một mâm cơm. Người lính lễ phép nói:


    - Bẩm quan lớn, quan lớn Tham tri Nguyễn Xí dạy chúng tôi chuyển lời vấn an ngài, dặn rằng ngài cứ nghỉ ngơi ăn uống tự nhiên, cũng dạy chúng tôi phải hầu hạ ngài chu đáo.


   Nói rồi hai người lính lui ra, không quên khóa cửa lại.


   Mệt, lại buồn bã chán nản, Nguyễn Trãi nhìn mâm cơm một cách thờ ơ không muốn ăn. Nhưng sau rồi ông nghĩ, có thực mới vực được đạo, phải ăn cho có sức. Dầu có sao đi nữa, cũng vẫn phải cứng cỏi như cây tùng cây bách. Nghĩ thì vậy nhưng khi và miếng cơm vào, thấy miệng đắng ngắt, ông định buông đũa. Nghĩ lại, thấy không thể buông xuôi, ông cố nuốt được hai lưng cơm. Cơm nước xong, nằm dài trên giường ngẫm nghĩ sự đời, ông thấy thật mông lung, mọi chuyện rối như tơ vò. Lúc bị dẫn vào đây, ông nghe bọn lính láo nháo nói bà Lộ bị bắt mấy hôm rồi. Mấy hôm nay bị giam trong ngục, họ đối xử thế nào với nàng? Ong tự hỏi. Oi, con người như thế đó bây giờ sa cơ rơi vào tay đao phủ! Họ đối xử với ta không đến nỗi nào nhưng với nàng thì sao? Chắc là không được như ta. Liệu họ có dùng cực hình? Sau những năm tháng lăn lộn chốn quan trường, ông hiểu, với vụ án như thế này, sẽ bằng mọi cách người ta ép kẻ dưới phải nhận tội rồi từ đó truy ra chủ mưu. Như vậy, hình quan sẽ khảo: “Có phải mày tiến độc cho hoàng thượng và người bày mưu cho mày là Nguyễn Trãi?” Trong thâm tâm, Nguyễn Trãi  cảm thấy vụ án đã kết thúc. Nàng đã nhận tội. Có thể vì nàng nhận tội mà hình quan nhẹ tay với mình? Mọi sự mông lung khiến cho ông hoang mang bối rối. Ong chợt như nhìn thấy nàng hiện lên, trên thuyền rồng, tay cầm chiếc khăn vẫy vẫy, nét mặt buồn ngơ ngác…


 


*


    Sáng hôm sau, qua một đêm thiếu ngủ, quần áo nhàu nhĩ, râu tóc bơ phờ, Nguyễn Trãi thấy mệt vô chừng nhưng ông cũng dậy sớm. Lính lại mang cơm nước tới. Không thịnh soạn nhưng cơm gạo trắng, thức ăn vừa miệng. Ong tự nhủ phải ăn vì hôm nay sẽ nhiều việc, cần có sức lực.


    Khoảng giữa giờ Thìn cửa lại mở, người lính hôm qua lễ phép mời ông đi. Theo đoạn hành lang ngắn, ông được dẫn vào một căn phòng lớn trang thiết cầu kỳ, lấp lánh màu vàng son. Giữa phòng là cái bàn sơn son thiếp vàng hình chữ nhật và hai cái ghế. Người lính mời ông ngồi vào ghế rồi khép cửa lại phía sau, bước ra ngoài. Lát sau, Huyện thượng hầu Tham tri chính sự Nguyễn Xí, khuôn mặt phương phi mang dáng dấp của một quan võ từ cửa phía sau bước ra.


     - Chào quan lớn Hành khiển! Nguyễn Xí nói bằng giọng trang trọng.


      Nguyễn Trãi đứng lên đáp lễ:


      - Không dám, xin chào quan lớn Tham tri.


      Phân ngôi chủ khách xong, Nguyễn Xí rót nước mời Nguyễn Trãi:


     - Mời quan lớn!


       Nhìn bao quát người tù, Nguyễn Xí lên tiếng:


     - Giữa chúng tôi với quan lớn không hề xa lạ. Chúng ta cùng là đại công thần của Thái tổ và Thái tông. Công lao, đức độ của đại quan không chỉ tôi rất rõ mà ngay bách tính cũng vô cùng ngưỡng vọng… Nhưng nay xảy ra biến lớn của triều đình. Hoàng thượng bất ngờ băng. Hoàng thái tử nối ngôi, Nguyễn thái hậu chấp chính. Một việc nan giải mà cũng đau lòng chúng tôi phải làm là xử vụ án thí nghịch, trong đó ngài bị buộc tội sai vợ là bà Thị Lộ tiến độc cho đức Đại hành… Nguyễn Trãi vừa định nói thì Nguyễn Xí giơ tay ngăn lại, xin quan lớn nghe đã! Quan lớn không nói, tôi cũng biết quan lớn định nói gì. Tôi biết là con người trung nghĩa như quan lớn không bao giờ làm cái việc bạo ngược vô đạo đó. Bà Thị Lộ lại càng không vì xin quan lớn thứ lỗi, chúng tôi biết bà Lễ nghi học sĩ thương yêu hoàng thượng nhiều lắm. Nhưng ý trên là phải có vụ án như vậy và chúng tôi phải đứng ra xét xử! Quan lớn Lê Khả, quan lớn Lê Thụ và tôi được chỉ định xử vụ án này. Trước sự việc khó khăn, chúng tôi đã bàn hết ý. Nếu không nghe, có nghĩa là kháng chỉ. Khi đó, chắc quan lớn Hành khiển cũng đoán được điều gì sẽ xảy ra. Chúng tôi cùng bị khép vào tội chết là việc nhỏ nhưng sau đó  những kẻ tiểu nhân sẽ bước qua xác chúng tôi tiếm đoạt chức vị. Cùng với thái hậu và ấu chúa, chúng sẽ đưa cơ nghiệp nhà Lê tới đâu, chắc quan lớn cũng hình dung ra. Tuy chúng tôi không làm thì những kẻ tiểu nhân đó vì cố tỏ ra trung thành với chủ sẽ làm rốt ráo hơn và quan lớn cùng phu nhân cũng không thoát tội. Vì vậy, chúng tôi khẩn thiết đề nghị quan lớn hợp tác với chúng tôi cho xong vụ án này.


     - Tôi hiểu, thưa quan lớn! Cảm ơn quan lớn đã lấy tình đồng liêu lâu năm mà cho tôi biết thực chất của sự việc. Nhưng dù sao thì tôi cũng không thể nhận một tội ác ghê gớm đến vậy. Tội thí nghịch sẽ mang đến họa tru di. Sẽ là đại họa thảm khốc máu chảy đầu rơi đến ba họ. Sau đó là vết nhơ trong lịch sử, không gì rửa sạch… Biết cái khó của mình nhưng tôi cũng biết cái khó của đại quan. Vậy xin đại quan cứ phép công mà làm, cứ ra công đường xét xử, rồi cứ khép tội kết án. Nhưng tôi không nhận tội giết vua, để cho triều đình, bách tính cùng sử sách biết rằng nhà Lê giết oan công thần!


   Ngồi lặng một lúc, Nguyễn Xí mặt đăm chiêu. Ong hiểu, Nguyễn Trãi cũng có lý lẽ riêng của ông. Ong kiên quyết không nhận tội để giữ thanh danh trong sử sách. Với Nguyễn Trãi,  cái danh là cao nhất! Nhưng như vậy sẽ dẫn tới đâu? Công việc sẽ rối bời, e rằng lớn chuyện! Ong nói nhỏ bằng giọng thân tình:


  -  Quan lớn nói phải, nhận tội đại nghịch dẫn tới họa tru di không ai muốn. Nhưng dù nhận hay không nhận, dù có tội hay không thì vụ án cũng cứ phải diễn ra như vậy. Biết quan lớn coi trọng cái danh nên chúng tôi có cách không phải phiền đến quan lớn.


   - Cách gì vậy, xin quan lớn cho biết?


   - Đây, Xí lấy ra bản khẩu cung có điểm chỉ của Thị Lộ.


  Cầm lấy tờ giấy, Nguyễn Trãi đọc: “Tôi là Nguyễn Thị Lộ, khai nhận rằng, vào đêm ngày mồng bốn tháng Tám năm Nhâm Tuất, trong khi hầu hoàng thượng tuần du qua Trại Vải, tôi đã tiến độc cho hoàng thượng. Mưu mô này là do Thừa chỉ Nguyễn Trãi phu quân của tôi sắp đặt. Tôi xin khai sự thật”. Đọc xong, đặt tờ giấy xuống bàn, Nguyễn Trãi giận dữ nói: “Các ông đã làm gì Thị Lộ? Nếu không, hẳn bà ấy đã không khai những điều dối trá thế này!”


    - Xin quan lớn bớt giận! Chúng tôi không làm gì phu nhân cả. Phu nhân được đối xử tử tế. Việc phu nhân nhận tội đã giúp cho vụ án nhanh chóng kết thúc. Nhờ đó triều đình cho bắt tất cả già trẻ gái trai ba họ quan lớn. Dù muốn hay không muốn, quan lớn cũng không khỏi tội…


    - Ong nói thế nghĩa là bản án đã quyết rồi, chẳng cần chứng cứ?


    - Xin quan lớn hiểu cho, án của triều đình thì dù sao cũng phải tuân thủ pháp lý. Vì vậy chỉ cần lời khai nhận của phu nhân là đủ. Chính vì phu nhân khai nhận sớm nên đã không phải dùng đại hình với phu nhân và tôi có thể nói chuyện với quan lớn trong lễ nghĩa thế này!


     - Quá đáng! Các vị dùng đại hình ép buộc người đàn bà yếu đuối nhận cái tội tày trời mà các vị biết rõ là người đó không làm. Các ông có thể giết tôi chứ đừng mong tôi nhận cái tội đại nghịch vô đạo như vậy. Cứ giết tôi đi, nếu triều đình muốn để cho thiên hạ thấy rằng nhà Lê giết oan công thần!


       Nguyễn Xí vẫn ôn tồn:


     - Xin quan lớn bớt giận. Dù có thế nào chăng nữa thì sự việc cũng không thay đổi được. Thực ra, quan lớn nhận hay không cũng vậy. Nể tình quan lớn, tôi sẽ phê vào bản án như sau: “Mặc dù Nguyễn Trãi một mực kêu oan nhưng trước những bằng chứng rõ ràng, nhất là lời khai nhận của vợ y là Thị Lộ, tội chủ mưu thí nghịch là không thể chối cãi”. Quan lớn chấp nhận lời phê như vậy chứ?


      - Vậy còn thanh danh quan lớn, người xử vụ án này? Sau lúc cúi đầu trầm ngâm suy nghĩ, Nguyễn Trãi hỏi.


     - Như đã nói với quan lớn lúc trước, đây là việc công, tôi làm theo phép nước!


     - Phải, tôi hiểu, quan lớn chỉ làm theo phép nước. Nhưng quan lớn không thấy cái phép nước ấy chả vô lý chả bất công quá sao? Đang không dựng lên vụ án oan để một lúc giết ba họ một công thần…


     - Quan lớn nói phải nhưng thưa quan lớn Thừa chỉ đại học sĩ, lẽ nào kẻ ít học là tôi lại phải nói với quan lớn về cái đạo quân xử  thần tử? Bây giờ chúa còn nhỏ, ý thái hậu chả là ý trời sao?


     - Vâng thưa quan lớn, ngài nói phải. Cái đạo của chúng ta là vậy từ nghìn xưa. Nhưng chỉ khi đứng dưới lưỡi đao của cái đạo đó, ta mới thấy nó trái tự nhiên. Tôi mơ hồ nhận ra, bước đầu tiên của vương triều mới này đã vấy máu oan khuất của công thần thì e rằng vì thất đức mà sẽ bị quả báo… Tôi trộm nghĩ, nếu thực sự vì nhà Lê, các ông phải đứng ra ngăn những việc bạo tàn để tích lũy âm đức là cái gốc vững chãi của chính thể?


     - Quan lớn nói phải, sau khi suy nghĩ thật lâu, Nguyễn Xí nói, đáng buồn là sự thể đã xảy ra đúng như ý quan lớn lo ngại. Vua cha mất, vua con nối ngôi là sự bình thường của lẽ trời. Ước gì mọi sự hanh thông, không giọt máu nào phải đổ… Nhưng quan lớn biết đấy, cái sông máu này không thể nào ngăn được. Thử hỏi quan lớn, ông Hãn ông Xảo, ông Sát, ông Ngân có tội không mà sao máu các ông ấy vẫn đổ? Quan lớn bảo sao chúng tôi không ngăn lại ư? Chúng tôi có bao nhiêu gan sức mà dám làm cái chuyện vá trời như vậy? Mà biết đâu, ngăn suối máu này lại không khơi dòng suối máu khác cuộn trào hơn? Không ngụy biện đâu, thưa quan lớn, thói đời phù thịnh chứ ai phù suy… Người đời chê trách chúng tôi đành chịu nhưng không thể làm khác được! Người có vận của người, nước có vận của nước, mong quan lớn hiểu cho. Thôi, mời quan lớn về nghỉ. Xin không tiễn. Cũng xin quan Hành khiển hiểu rằng, đây là câu chuyện riêng của chúng ta!


 


                                  *


                              *       *


 


    Trở về phòng giam, Nguyễn Trãi nhớ lại những gì diễn ra trong lúc gặp Tham tri chính sự Nguyễn Xí. Ong nghĩ, vì sao Nguyễn Xí làm vậy? Lẽ ra phải lên công đường tra xét rồi cực hình. Nguyễn Xí đã không làm. Ong ta không làm vậy chắc vì đã có khẩu cung của Thị Lộ. Phải tra tấn cực hình nàng mới nhận những điều chết người như vậy. Có thể nói lời khai của nàng đã đưa gia đình ông vào họa tru di. Nhưng không thể trách nàng, ông nghĩ. Ngay cả khẩu cung của nàng cũng chỉ là cái cớ. Không cớ này cũng sẽ có cớ khác đẩy ông vào tội chết. Phải chăng đây là số phận? Ong tự hỏi mà trong lòng phân vân. Nếu vậy thì số phận của ông thật nghiệt ngã!


     Hơi lạnh làm Thị Lộ tỉnh lại. Nàng thấy mình mẩy ê ẩm, mười ngón tay đau buốt, toàn thân nóng rực. Nhưng sao lại rét run người? Nàng nhận ra mình bị sốt và cảm thấy khát nước ghê gớm. Gượng đau, nàng nhỏm dậy nhìn quanh. Trong ánh sáng mờ mờ của đĩa đèn dầu, nàng nhận ra trong một góc phòng có cái ấm nước. Gắng gượng tụt khỏi giường, nàng chống tay vào đầu gối, lê tới chỗ bình nước, rót uống. Trở về nằm lại trên giường, nàng thấy cơn sốt hình như dịu đi. Lúc này nàng chợt nhận ra mình nằm trong buồng giam khác, không phải gian phòng kín như bưng hôm qua. Tuy cảm thấy dễ chịu hơn một chút nhưng nàng lại bị dằn vặt vì câu hỏi: tại sao? Tại sao có chuyện đối xử khác thế này? Lòng vốn sẵn hoang mang vô độ, thắc mắc ấy càng làm cho nàng khổ sở thêm. Nàng nhớ lại hai buổi hỏi cung. Lê Thụ là ai, xa lạ gì với nàng cùng Nguyễn Trãi. Mới hôm trước thôi, tại nhà nàng và trong chuyến hồi cung, ông ta chả cung kính mình đến điều sao? Rồi cái đêm tai họa ấy, khi nàng hô hoán cứu giá, chả ông ta là người đầu tiên chạy đến sao? Ong ta chả chứng kiến cái cảnh khốn khổ của mình sao? Vậy mà khi hỏi cung, ông ta cứ khăng khăng: “Nguyễn Trãi sai mày tiến độc cho nhà vua phải không?” Nàng cố cãi. Bằng mọi chứng cứ hiển nhiên nàng cãi rằng nàng không hạ độc nhà vua. Tuy vậy, nàng không thể nói đến điều nàng biết mà ông ta cũng quá biết... Sự thật nàng không thể nói được và cũng không ai dám nói. Một sự thật khác, nàng không thể là kẻ giết chàng vì nàng yêu chàng còn chưa hết! Một câu hỏi xoáy sâu trong đầu óc rối tung của nàng: vì sao người ta lại cố tình vu vợ chồng nàng cái tội ghê gớm vậy? Dần dần nàng hiểu ra: Nguyên Long chết, Bang Cơ lên ngôi và Thị Anh là hoàng thái hậu chấp chính. Nàng cùng Nguyễn Trãi là mục tiêu trả thù số một của bà thái hậu độc ác. Không chỉ trả mối thù cũ mà lại dọn cả con đường sắp tới. Không còn Nguyễn Trãi tài đức lừng lững, người đàn bà xảo quyệt lại đầy tham vọng này sẽ tùy thích làm những chuyện không lường được! Vì vậy, việc tiêu diệt vợ chồng nàng đã được định đoạt. Lê Thụ chỉ là người đứng ra thừa hành. Nhận biết mưu mô của họ, nàng vô cùng phẫn uất và nhủ lòng: dù có chết cũng không nhận! Sáng ra, lúc rửa mặt, bỗng nhận thấy ngón tay cái dính son đỏ lòm, nàng giật mình lo lắng không hiểu vì sao. Nhưng rồi ngay đó, nàng cay đắng hiểu ra sự thật: khi nàng bị trượng ngất đi, bọn họ đã bôi son vào tay nàng rồi bắt nàng điểm chỉ! Nhận ra sự thật phũ phàng, nàng uất nghẹn ngất đi. Mở cửa đưa bữa sáng vào phòng giam, người lính thấy nàng nằm bất động liền hô hoán. Ngự y đến vội vàng bấm huyệt cấp cứu. Khi nàng hồi tỉnh, vị lương y già nói với Lê Thụ: “Bẩm quan lớn, bà Lộ quá suy nhược, yếu sức lắm. May mà phát hiện sớm mới cứu kịp, muộn tí nữa thì nguy. Chữa bệnh như chữa lửa, hạ quan đã kê đơn, xin quan lớn cho lấy thuốc sắc ngay để người bệnh uống gấp”. Bước ra khỏi phòng giam, vị lương y già thấy bần thần. Tuy ông không đồng tình việc gian díu của bà nhưng ông lại trọng bà về tài văn học về nết ăn ở thẳng ngay trung hậu góp phần giúp đỡ nhiều người. Bây giờ bà cùng quan Thừa chỉ mắc phải nạn này ông thấy cám cảnh.


 


                                     *


                                 *       *


 


    Trong phòng giam, qua những người lính, Nguyễn Trãi biết rằng cả ba họ nhà ông đã bị bắt giam trong nhà lao của bộ Hình. Ong cũng biết Thị Lộ bị ngất trong phòng giam, người đang bị ốm. Ong rất muốn gặp nàng để nói với nàng đôi câu trước khi chết. Qua một người lính có cảm tình với mình, Nguyễn Trãi nhờ anh ta chuyển lời nhắn muốn được gặp quan Tham tri chính sự Nguyễn Xí. Buổi chiều Nguyễn Xí vào thăm ông.


     - Công việc hiện đang rất bận. Nghe quan lớn muốn gặp, tôi tới ngay. Chẳng hay quan lớn có điều gì...


     - Xin cảm ơn quan lớn đã cưu mang tôi trong những ngày ở đây. Tôi vô cùng cảm kích tấm lòng quan lớn. Tôi biết, làm những việc như vậy là quan lớn bất chấp hiểm nguy. Bây giờ xin quan lớn ân huệ cuối là cho tôi được gặp mặt bà Lộ.


    - Ay chết, quan lớn nói sao, đấy là điều cấm kỵ…


    - Thưa quan lớn, tôi hiểu, tiền lệ chưa có nhưng quan lớn cũng thấy chưa có vụ án nào thảm khốc vầy. Đằng nào thì chúng tôi cũng bị xử. Nghĩa tử là nghĩa tận, tôi muốn trước khi chết được gặp nàng. Việc hai kẻ tử tù gặp nhau trước khi chết thiết tưởng cũng không ảnh hưởng gì đến an ninh quốc gia. Trăm sự là ở quan lớn…


      Nguyễn Xí đứng lặng suy nghĩ… Lòng ông cũng rối bời. Không thể nói ra lòng kính trọng của ông với Nguyễn Trãi cũng như sự uất ức của ông với vụ án bất công tới quái đản này chỉ nhằm thỏa mãn ý trả thù của mụ đàn bà... Làm cái gì đây để nhẹ bớt nỗi đau của hai con người tội nghiệp này đồng thời cũng giữ được sự an toàn cho mình? Nghĩ vậy, ông nói với Nguyễn Trãi:


        - Sở nguyện của quan lớn rất nên thông cảm nhưng quan lớn cũng biết, quy định của ngục thất rất khắt khe. Bây giờ chưa thể trả lời ngay được, tôi hứa sẽ lưu ý điều này, nếu có thể, sẽ thu xếp hầu quan lớn!


 


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Thị Lộ. Tiểu thuyết lịch sử của Hà Văn Thùy. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 09.03.2017
xem thêm »