tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19306621
30.03.2013
Hà Văn Thùy
Tìm cội nguồn qua di truyền học (6)

QUAN HỆ DI TRUYỀN CỦA DÂN CƯ TRUNG QUỐC


(Genetic relationship of populations in China)


J. Y. Chu a,b- W. Huangb,c- S. Q. Kuangc- J. M. Wangc, J- J. Xud- Z. T. Chua, - Z. Q. Yanga, - K. Q. Lina, -P. Lie, - M. Wuf, - Z. C. Gengg, -C. C. Tang, -R. F. Dud, and L. Jing, h,i


Hà Văn Thùy lược dịch


Tóm tắt


Bất chấp một thực tế là sự liên tục về hình thái học của các mẫu hài cốt người hiện đại tìm thấy ở Trung Quốc luôn thách thức thuyết Nguồn gốc châu Phi thì Trung Quốc đang có những cư dân đại diện trong nghiên cứu di truyền. Hồ sơ di truyền của 28 sắc dân được lấy mẫu tại Trung Quốc hỗ trợ cho sự phân biệt dân miền Nam và miền Bắc, trong khi dân miền Bắc có 2 ngành. Những ranh giới ngôn ngữ thường vượt qua các gia đình ngôn ngữ được nghiên cứu, phản ánh sự trôi giạt gen giữa các cộng đồng. Tuy nhiên, bằng chứng di truyền không hỗ trợ quan niệm về nguồn gốc độc lập của người hiện đại tại Trung Quốc. Các bằng chứng phát sinh chủng loại cũng gợi ý rằng, nhiều khả năng tổ tiên của các nhóm dân cư hiện nay ở Đông Á đã nhập cư từ khu vực Đông Nam Á.


Đại bộ phận dân cư Trung Quốc là người Hán (93,3%), và 55 sắc dân thiểu số (6,7%), hầu hết đều có ngôn ngữ riêng của họ, là người bản địa, được tìm thấy trong các vùng ngoại vi. Số lượng các sinh ngữ được thống kê ở Trung Quốc là 205 (1). Mặc dù thực tế là các biến thể sâu rộng giữa các nhóm dân cư Hán Trung Quốc và dân thiểu số ở Trung Quốc đã được quan sát (2-7), các nhóm dân cư thường đại diện trong nghiên cứu di truyền của cư dân trên toàn thế giới (8-10). Tầm quan trọng của một nghiên cứu rộng lớn về dân cư Trung Quốc được tăng gấp đôi. Đầu tiên, sự phân biệt giữa dân cư miền Bắc và miền Nam Trung Quốc (người Hán và dân thiểu số) đã được quan sát trong các phân tích về di truyền đánh dấu (2-4) cả trên những đặc tính thống kê cũng như không thống kê được (5-7).


Hầu hết các tác giả cho là, sự khác biệt đơn giản chỉ do những rào cản địa lý (2-7). Trong khi đó một sự thật là, rào cản địa lý chỉ duy trì sự dị biệt di truyền nếu nó có thật, nhưng là không thỏa đáng đối với câu hỏi thú vị hơn: liệu dân cư phía Nam và phía Bắc là cùng một tổ tiên, hoặc ngược lại, những nhóm dân cư đó tới Trung Quốc từ nhiều nguồn khác nhau? Hơn nữa, sự hiểu biết về nguồn gốc của các nhóm dân cư ở Đông Á có thể soi sáng cho việc tìm hiểu dân cư Siberi và Mỹ. Thứ hai, xương cốt người phát hiện tại Trung Quốc cũng đã thu hút sự chú ý. Vùng phân bố cũng như sự liên tục của hồ sơ xương cốt từ Homo erectus đến Homo sapiens tại khu vực này (11/13) không ngừng thử thách thuyết Rời châu Phi, trong đó đề nghị sự thay thế hoàn toàn cư dân địa phương bằng con người hiện đại có nguồn gốc ở châu Phi. Tính hợp lý của phân tích này (13) đã được đặt vấn đề (14). Bằng chứng di truyền đã trở nên cần thiết để xác minh sự thật. Một loạt các nghiên cứu di truyền học dân cư Trung Quốc sử dụng đánh dấu di truyền được tiến hành. Bản báo cáo này phản ánh một nỗ lực hợp tác thực hiện bởi một số viện tham gia Dự án Đa dạng di truyền người Trung Quốc (CHGDP).


Ty thể (microsatellites) đã được sử dụng rộng rãi để nghiên cứu mối quan hệ di truyền giữa những cộng đồng người từ các lục địa khác nhau (8-10). Những kết quả thu được chỉ ra rằng, vị trí ty thể (microsatellite loci) thường cung cấp mối quan hệ chủng loại gần gũi hơn trong số những quần thể có quan hệ mật thiết so với những quần thể có liên hệ xa (15) và do đó đã được coi là những dấu hiệu lý tưởng để nghiên cứu những quần thể gần gũi.


Tuy nhiên, những quần thể gần gũi có xu hướng sống trong cùng một khu vực địa lý và sự lưu chuyển gen giữa những cư dân lân cận có thể là đáng kể, điều này có thể gây ra thay đổi lớn trong tần số gen gốc (16). Đến lượt mình, độ tin cậy của những suy luận về chủng loại trong sự hiện diện của hòa trộn gen có thể được thừa nhận rộng rãi (17). Tuy nhiên, sự cởi mở của những gen allele microsatellite và việc nhận được lượng lớn vị trí (loci) thông tin cao như vậy qua bộ gen của con người làm cho chúng thành dấu hiệu của sự lựa chọn trong nghiên cứu này.Tài liệu và phương pháp


(Phần này quá đi sâu vào kỹ thuật nên lược bỏ)


 


Kết quả


Việc nghiên cứu dựa trên 30 microsatellites (Hình 1 A) tiết lộ sự phân biệt rõ ràng giữa dân cư miền Nam và miền Bắc Trung Quốc, mặc dù số lượng quần thể dân Trung Quốc sử dụng trong nghiên cứu còn nhỏ. Ba nhóm dân miền Bắc Trung Quốc cùng nhóm với dân Nhật Bản và Hàn Quốc như mong đợi. Những nhóm dân phía Nam trong nghiên cứu này không phải là tiêu biểu vì ba trong số năm nhóm dân miền Nam là người Đài Loan bản địa nói ngôn ngữ Austronesian. Tuy nhiên, nghiên cứu này xác nhận các phương pháp tiếp cận hiện tại của chúng tôi, vì thực tế là mối quan hệ giữa các nhóm dân cư trên toàn thế giới là giống nhau, được trình bày trong công trình của Bowcock và đồng nghiệp. (8).


Kết quả sau nhận được bằng cách sử dụng một bộ đánh dấu hoàn toàn khác, nhưng một số nhóm dân cư được phân tích trong nghiên cứu này đã được bao gồm trong tài liệu của Bowcock và đồng nghiệp. (Việt Nam, Karitiana, Maya, Úc, New Guinean, Ý, Zaire Pygmy, Cộng hòa Trung Pygmy, và Lissongo). Dân cư từ Đông Á tạo thành một cụm riêng biệt, cho thấy các nhóm này có chung một tổ tiên. Người thổ dân Đài Loan bắt nguồn từ cụm dân cư phía Nam lục địa, cho biết nguồn gốc của họ có lẽ là Polynesian.


Sự phân biệt giữa dân miền Nam và miền Bắc đã được ghi nhận, nhưng chưa thật rõ ràng khi 16 nhóm dân Trung Quốc được bổ sung, kết quả nghiên cứu được trình bày trong Hình 1. B. Số vị trí (loci) đã được giảm đến 15 do một số vị trí (loci) không đủ dữ liệu. Một lần nữa, các nhóm dân cư từ Đông Á được bắt nguồn từ cùng một dòng.


Trong Hình. 1 B, hai cụm dân cư phía Bắc được thể hiện rõ. Người Buryat, Yakut, Uighur, và Manchu nói ngôn ngữ Altaic cùng nhóm với Hàn Quốc và Nhật Bản, hai ngôn ngữ khác biệt nhưng có liên quan mật thiết đến Altaic. Hai nhóm Hán, một từ phía Bắc Trung Quốc và một từ Vân Nam, cũng đóng góp vào nhóm này (nhóm N1). Một nhóm nói ngôn ngữ Altaic khác, Ewenki, hình thành nhóm (nhóm N2) với Tây Tạng, Tujia, và Hui, tất cả đều bắt nguồn từ phía Bắc mặc dù hiện tại đang sinh sống ở phía Tây của Trung Quốc (21).


Những cư dân nguồn gốc miền Nam hình thành ba cụm. Trong nhóm phía Nam đầu tiên (S1), Blang, một quần thể Austro-Asiatic, nhóm với Deang, Aini, Lahu, và Đại, tất cả các mẫu được lấy từ phía Tây Nam của Vân Nam. Dòng này sau đó hợp với ba nhóm dân từ Đài Loan (Paiwan, Atayal, và Yami), có lẽ phản ánh nguồn gốc của thổ dân Đài Loan, cũng như dân Polynesian từ khu vực Đông Nam Á. Nhóm thổ dân Đài Loan thứ tư, Ami, tạo thành một nhóm khác biệt với các cụm Hán Trung Quốc gốc miền Nam, sinh sống ở Hoa Kỳ trước khi họ tham gia vào nhóm đến trước để tạo thành nhóm S1. (The fourth Taiwanese aboriginal population, Ami, forms a separate cluster with Han Chinese of southern origin living in the U.S. before they joined the previous cluster to form cluster S1). Nhóm miền Nam thứ hai gồm ba quần thể Daic (Li, Đông, và Yao từ Jinxiu) tất cả từ Quảng Tây hoặc Hải Nam, hai dân Hmong-Mien (Yao và She nói tiếng Punu), Campuchia (một sắc Austro-Asiatic), và Yi Han từ Hà Nam (cụm S2).


Dòng miền Bắc thứ hai (cụm N2) bao gồm hầu hết là dân miền Tây này bắt nguồn từ miền Nam, ngoại trừ nhóm Ewenki. Jingpo và Wa hình thành dòng miền Nam thứ ba (cụm S3). Trong nghiên cứu này, những cư dân ở Đông Á có thể được chia thành hai nhóm: một nhóm phía Bắc bao gồm những cư dân trong cụm N1và nhóm miền Nam bao gồm tất cả các cư dân miền Nam (cụm S1, S2, và S3) và cụm thứ hai, có nguồn gốc phía Bắc (cụm N2). Mối quan hệ này đã không được hỗ trợ mạnh mẽ của giá trị tự thân (bootstrap value) trong số những cụm chính mà tuyệt đại đa số của chúng là nhỏ. Tuy nhiên, một nghiên cứu với 17 nhóm dân Trung Quốc và 8 nhóm dân trên toàn thế giới dựa trên 26 vị trí (loci) trình bày một địa hình học (topology) rất giống với Hình 1 B, và các bootstrap value hỗ trợ cho sự phân ly của cụm phía Bắc đầu tiên và cụm phía Nam được 13% và bootstrap value dòng Bắc thứ hai là 19% (dữ liệu không được hiển thị).


Phương pháp di truyền xa, Dc (19), đã được sử dụng trong nghiên cứu này bởi vì nó thường vượt qua những phương pháp khác trong việc đạt được topology chính xác đối với ti thể đánh dấu trong một nghiên cứu mô phỏng mở rộng (15). Phương pháp hàng xóm kết hợp có xu hướng ít bị ảnh hưởng bởi hiện diện của sự hòa trộn xảy ra giữa các nhóm dân cư trong khôi phục topology chính xác so với các phương pháp cặp-nhóm trọng lượng trung bình (UPGMA) và do đó đã trở thành phương pháp được chọn trong phân tích này (17). Những nghiên cứu bằng cách sử dụng UPGMA cũng đã được xây dựng, nhưng không được tính đến bởi vì các mối quan hệ của những cư dân trên toàn thế giới là khác nhau trong tài liệu Bowcock và đồng nghiệp cũng như các nghiên cứu khác sử dụng ty thể (8-10). Các biện pháp di truyền xa như của Dsw, Rst, và (Δμ) 2 cũng đã được sử dụng trong phân tích (20-23), nhưng chúng dẫn tới kết quả ít rõ ràng và không phù hợp lịch sử sắc tộc của những nhóm dân cư được nghiên cứu. (15-17).


 


Kết luận và thảo luận


Sự xác nhận lợi ích của ty thể trong việc tái hiện lịch sử tiến hóa dân cư đã được thực hiện không chỉ trên phương diện lý thuyết (20-23), mà còn bằng kinh nghiệm; các mối quan hệ dựa trên ti thể thường phù hợp với những bằng chứng hình thái và cổ sinh vật cũng như các dạng di truyền đánh dấu khác (8-10). Tuy nhiên, rất nhiều nghiên cứu như vậy đã sử dụng các nhóm dân cư quan hệ xa, và vì vậy, tiện ích của các đánh dấu trong nghiên cứu những quần thể gần gũi cũng được khám phá. Nghiên cứu dòng, ở mức độ nào đó, phản ánh sự thiếu quyết định của ti thể trong việc tái cấu trúc các nhóm dân cư có quan hệ gần, có lẽ vì không đủ vị trí (loci) và một số lớn các cư dân được nghiên cứu nhưng ít chính xác hơn, do số lượng mẫu vật cho mỗi quần thể quá nhỏ theo công bố của Shriver và đồng nghiệp. (20).


Điều này là như vậy bởi vì sự khác nhau của khoảng cách di truyền giữa các loci là lớn hơn nhiều so với giá phải trả khác nhau do mẫu bị lỗi (20) trong dự đoán về khoảng cách di truyền. Những giá trị tự thân nhỏ (small bootstrap values) phản ánh không đủ lượng thông tin thích hợp để giải quyết các mối quan hệ di truyền trong số những quần thể quan hệ gần trong sự hiện diện dòng lưu chuyển gen mạnh giữa những quần thể đó. Nhưng việc sử dụng số lượng lớn hơn nhiều vị trí ty thể (microsatellite loci) trong phân tích hiện hành có thể không bảo đảm giải quyết tốt hơn theo một kịch bản. Tuy nhiên, nó không phải là mục đích ban đầu của chúng tôi để khám phá mối quan hệ di truyền chi tiết trong số những quần thể quan hệ gần gũi đó, thay vì chúng tôi đang quan tâm đến việc thăm dò mô hình chính của lịch sử tiến hóa của những quần thể dân cư hiện đang sống ở Đông Á.


Trong cả hai phát sinh loài với loci và các nhóm dân cư khác nhau, các nhóm dân cư từ Đông Á luôn xuất phát từ một dòng riêng, thể hiện nguồn gốc duy nhất của những quần thể dân cư đó. Nó không từ bỏ khả năng về một nguồn gốc độc lập của con người hiện đại ở Đông Á, nhưng những đóng góp của nó cho các quần thể dân cư hiện hữu không phải là có thể nhận ra trong phân tích này. Bây giờ có thể kết luận chắc chắn rằng con người hiện đại, nguồn gốc ở Châu Phi đã tạo ra phần lớn vốn gen ở Đông Á. Một phát sinh loài với cấu trúc topo rất khác nhau đã được trông đợi, nếu có một nguồn gốc châu Á độc lập của con người hiện đại, đóng góp chủ yếu vào nguồn gen của dân cư Á châu. Từ khi các phương pháp áp dụng trong những phân tích này có thể phát hiện ra đóng góp của một nguồn gen chính, một thể đơn bội (haplotype) dựa trên phân tích về sự đóng góp nhỏ hơn từ một nguồn gốc độc lập của con người hiện đại ở Đông Á (24, 25).


Ngược lại với các nghiên cứu trước đó (2-4), chỉ ra sự phân biệt rõ ràng giữa dân miền Bắc và miền Nam, những phân tích hiện tại của chúng tôi cho thấy những cư dân miền Bắc thuộc về hai nhóm khác nhau, mặc dù sự hỗ trợ về thống kê còn yếu. Một khác biệt nhận biết được trong nghiên cứu của chúng tôi là việc sử dụng trong tái cấu trúc phát sinh loài của phương pháp liên kết gần, đó dường như là sự mạnh mẽ hơn trong hiện diện của hòa trộn di truyền. Việc sử dụng các ti thể, một loại di truyền đánh dấu từ các nghiên cứu trước đó, và các biện pháp di truyền xa dẫn tới sự phức tạp thêm. Tuy nhiên, những quần thể phía Bắc trong nhóm N2 được lấy mẫu từ Tây Nam Trung Quốc, ngoại trừ Ewenki, nơi có nhiều khả năng xảy ra hòa trộn di truyền với dân phía Nam. Điều đó có thể giải thích tại sao nhóm này của dân phía Bắc hợp thành nhóm với những cư dân miền Nam.


Một đặc điểm nhận biết được từ phân tích này là biên giới ngôn ngữ thường vượt quá sáu gia đình ngôn ngữ đã được nghiên cứu (Hán-Tạng, Daic, Hmong-Mien, Austro-Asiatic, Altaic, và Austronesian). Có hiện tượng là, ở dân cư phía Nam, những quần thể trong cùng một khu vực địa lý có xu hướng tạo nhóm phát sinh loài (xem Hình. 1 B). Quan sát này phù hợp với lịch sử của những quần thể dân cư Trung Quốc, nơi dân số đã được di chuyển đáng kể.


Các phân tích hiện có cho thấy rằng dân cư ở phía Nam Đông Á có thể được bắt nguồn từ các nhóm dân cư trong khu vực Đông Nam Á có nguồn gốc di cư từ Châu Phi, có thể thông qua Trung Á, và các nhóm dân cư phía Bắc đã chịu ảnh hưởng mạnh về di truyền của dân cư Altaic từ phía Bắc. Nhưng có điều không rõ ràng là làm cách nào để dân Altaic di chuyển tới Đông Bắc châu Á. Có thể tổ tiên dân Altaic đến từ Trung Á, hay có thể họ có nguồn gốc từ Đông Á.


Phân tích các số liệu đo được và không đo được về hình thái sọ người Siberi và Trung Quốc hiện đại cũng như tiền sử cho thấy, người Siberi gần với người Bắc Trung Quốc và Mông Cổ hơn là người châu Âu (26, 27). Họ có cùng một dạng mặt phẳng (26-28). Người châu Âu không xuất hiện ở Siberi, miền Tây Mông Cổ, và Trung Quốc cho đến thời Đồ Đá Mới và Đồ Đồng (26, 27, 29, 30). Hơn nữa, những phân tích sọ và răng cho thấy có liên hệ giữa dân Bắc Cực, Buryat và Đông Á với thổ dân Mỹ Indians (31-35), những người đã băng qua cầu đất liền Bering vào thời gian nào đó giữa 15000 và 30000 năm trước (36). Các quan sát này nói chung phù hợp với các bằng chứng di truyền từ các nghiên cứu ở đây cùng dữ liệu mitochondrial DNA (37-40). Vì vậy, nhiều khả năng hơn là tổ tiên người nói tiếng Altaic có nguồn gốc từ Đông Á mà các dân này vốn từ khu vực Đông Nam Á lên (người dịch nhấn mạnh), mặc dù hiện nay dân nói tiếng Altaic có sự hòa huyết không thể chối cãi với người Đông Á tại Trung Á và châu Âu (xem Hình. 2, đường liền, mảnh). Khả năng con đường di cư sớm lên phía Bắc từ Trung Á đến Siberi là đáng nghi ngờ, bởi một thực tế là thời Băng Hà cuối cùng chỉ chấm dứt vào 15.000 năm trước (xem Hình. 2, đường ngắt đoạn).
 Đường di cư của loài người.


Kết luận này có thể được kiểm tra bằng cách sử dụng phép quy nạp logic đơn giản. Nếu tổ tiên người nói tiếng Altaic có nguồn gốc miền Bắc thì quan hệ di truyền của dân cư hiện có sẽ theo phát sinh loài được trình bày ở phía dưới Hình 3. Sự phát sinh loài tạo ra trong nghiên cứu của chúng tôi hỗ trợ rõ ràng sự phát sinh loài phía trên của Hình 3. Trong phân tích này, dân Altaic được đại diện bởi Buryat và Yakut. Dân miền Nam Trung Hoa là những cư dân ở Vân Nam và Đài Loan, những quần thể không có bất kỳ sự hòa huyết nào với người Altaic. Dân cư từ Trung Á không có trong nghiên cứu này



Quan hệ phát sinh loài của những cư dân trên toàn thế giới theo hai giả thuyết.


Bây giờ chúng tôi đã chứng minh rằng cư dân Đông Á được hình thành từ nhiều nguồn: Khu vực Đông Nam Á, Altaic từ phía Đông Bắc châu Á, Trung Á hay châu Âu (người dịch nhấn mạnh). Sẽ là thú vị để ước lượng sự đóng góp tương đối từ mỗi nguồn. Không may là, nghiên cứu hiện nay chủ yếu dựa trên những cư dân thiểu số (người dịch nhấn mạnh). Một nghiên cứu liên quan khắp đất nước là cần thiết để hoàn thành bức tranh.


Lời cảm tạ


Chúng tôi cảm ơn những người có DNA đã được cung cấp bởi LL Cavalli-Sforza, J. Kidd, M. Hsu, SQ Mehdi, và J. Bertranpetit. Thông báo đã nhận được sự chấp thuận cho Trung Quốc mới được thu thập mẫu. Dự án này đã được hoàn thành dưới sự tổ chức của Z. Chen và BQ Qiang và tài trợ của Quỹ Phát triển Khoa học tự nhiên Trung Quốc. Chúng tôi cũng cảm ơn P. Watkin và P. Morin từ Sequana Therapeutics, Inc.


Mấy nhận xét


Công trình của nhóm Y. Chu là nghiên cứu đầu tiên về di truyền học sắc tộc (ethnic genetics) ở Đông Á nên có ý nghĩa phát hiện lớn đối với khoa học. Công trình này khẳng định 2 điều:


1. Người Trung Quốc hiện đại là hậu duệ của tổ tiên từ châu Phi di cư tới. Phát hiện này là sự phủ định quan niệm hình thành từ lâu cho rằng người Trung Quốc do Homo erectus tại chỗ tiến hóa lên. Mặc nhiên nó cũng phủ định thuyết Nhiều vùng về nguồn gốc loài người.


2.         Đại đa số người Đông Á có nguồn gốc chung là những người từ châu Phi di cư tới Đông Nam Á.


Tuy nhiên, vì là nghiên cứu tiên phong, trước khi có những nghiên cứu di truyền chung (general genetics) về sự thiên di của loài người chiếm lĩnh Trái đất nên công trình này có những hạn chế:


1.         Con đường tư châu Phi sang Viễn Đông không phải vượt qua đất Ấn Độ như được thể hiện trên hình 2 mà ven theo bờ biển Nam Á. Những nghiên cứu sau này của Stephen Oppenheimer cho thấy như vậy.


2.         Đa số dân cư Triều Tiên và Nhật Bản không thuộc về nhóm ngôn ngữ Altaic như các tác giả công bố mà họ cũng từ Đông Nam Á đi lên. Sai lầm này là do nghiên cứu chỉ dùng mẫu gen của dân thiểu số phía Bắc hai nước này. Xin đọc “Góp một cách nhìn về lịch sử Nhật Bản


Những phát hiện của nhóm Y. Chu về nguồn gốc của những người nói ngôn ngữ Altaic là chính xác: “Nhiều khả năng hơn là tổ tiên người nói tiếng Altaic có nguồn gốc từ Đông Á mà các dân này vốn từ khu vực Đông Nam Á lên, mặc dù hiện nay, dân nói tiếng Altaic có sự hòa huyết không thể chối cãi với người Đông Á tại Trung Á và châu Âu”


Nhưng trong công trình của mình, các tác giả chưa lý giải được hiện tượng này. Từ nhiều nghiên cứu khác, tôi cho rằng, khoảng 40.000 năm trước, người từ Đông Á đi qua Tây Tạng, vào Trung Á rồi tới châu Âu. Ở đây họ hòa huyết với người Europid từ Trung Đông lên, tạo ra người Europian, tổ tiên người châu Âu hiện đại. Vào cuối thời kỳ Băng Hà, khoảng 15.000 năm trước, một bộ phận người châu Âu trở lại Trung Á, qua Tây Tạng tới đất Trung Quốc. Nhưng lúc này người Việt cổ sống trên địa bàn Trung Quốc đông và văn minh hơn, đã chống cự quyết liệt nên những nhóm di cư rời rạc từ Trung Á tới không thể xâm nhập Trung Quốc mà một bộ phận chuyển dịch lên phía Bắc rồi sang Đông Bắc châu Á. Di duệ của nhóm này là những tộc thiểu số ở Triều Tiên hay người Ainu Nhật bản. Bộ phận khác đi xuống rìa Tây Nam, tạo thành những tộc thiểu số mang gen Á - Âu và nói ngôn ngữ Altaic ở vùng Tây Nam Trung Quốc.


(còn tiếp)


Nguồn: Tìm cội nguồn qua di truyền học. Khảo luận của Hà Văn Thùy. NXB Văn học, 2011.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
xem thêm »