tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20019902
Truyện ngắn
30.03.2013
Vũ Bằng
Ông sư mất đầu ở đèo Mẹ Bồng Con

Câu hỏi của Chín hơi vô duyên một chút.


– Sao? Đọc báo hôm qua, ông ký giả có thấy Ba Sinh bị chém mất đầu chưa?


Cái gì là Ba Sinh? Tại sao tôi lại phải biết Ba Sinh bị chém mất đầu? Mà Ba Sinh có liên hệ gì với tôi không, mà Chín hỏi với cái vẻ hình như tôi là bạn Ba Sinh, tôi biết Ba Sinh lâu rồi?


Tháng hai năm 1974, tình hình trong nước rối ren đến cao độ, ký giả, nhà văn bị “chụp mũ” là cộng sản bị bắt giữ có cả mấy chục người. Tôi là một trong số người bị bắt. Đã hai mươi lăm ngày, tôi bị giữ trong “phòng lạnh” bộ Tư lịnh Cảnh sát Quốc gia. Chỉ thị mật không cho phép ký giả được tiếp xúc với bất cứ ai ở bên ngoài. Không được viết gì, không được đọc báo, thế thì làm sao tôi được đọc báo hôm trước để biết tin Ba Sinh bị chém mất đầu! Thêm nữa, ví có được đọc báo, tôi cũng chẳng lưu ý làm gì đến cái tin vặt đó vì hằng ngày báo đăng hàng lô vụ giết người, cướp của rùng rợn, hà tất gì tôi phải lưu ý riêng đến Ba Sinh, mặc dầu Ba Sinh bị mất đầu.


Sau này, tìm hiểu lần lần, tôi mới biết là lúc hỏi tôi câu đó, Chín đã lầm tôi là một người trước đây đã làm việc trong bộ Tư lịnh Cảnh Sát Quốc Gia và khi hỏi như thế tôi đã biết Ba Sinh rồi.


Để cho Chín đỡ ngượng, hai nhân viên “trực” ngồi gần tôi, tìm cách phá tan bầu không khí nặng nề. Một người đùa:


– Ông ký giả này có ở đây đâu mà biết Ba Sinh? Nhưng Ba Sinh làm sao vậy? Hôm qua, tôi nhậu say quá, cũng không đọc báo. Nó bị ai chém vậy?


Thì ra Ba Sinh là một người quen biết của mấy ông làm việc trong bộ Tư lịnh Cảnh Sát, mà cái tin loan trên báo về y đại khái như thế này:


“Ở miền Trung, lối đi về Nha Trang, có một cái đèo kêu là Mẹ Bồng Con, cách Cà Ná chừng hơn cây số. Ở đấy, núi non lởm chởm, đất rắn mà đỏ khè, cây cối cằn cọc, dân cư sinh sống thưa thớt.


Hơn sáu tháng trước đây, có một người lạ đến cái núi đá ở Bãi Trênh, phạt lau sậy, đẵn cây cối, dựng một cái am trên đỉnh núi rồi ở lại tu tại đó với tiếng cuốc kêu sầu và tiếng nói nỉ non của vượn. Không ai lưu ý tới ông ta. Mà cũng chẳng ai biết cái am của ông ra thế nào, chỉ biết rằng cứ sáng tinh mơ và buổi thu không [1] có tiếng chuông, tiếng mõ vọng xuống con đường vắng ngắt, đìu hiu đi Cam Ranh, Nha Trang.


Sáng mới đây, những người Chàm ở trên những trái đồi gần đó không nghe thấy tiếng chuông, tiếng mõ của ông sư, hơi lạ, trèo lên am để xem có gì lạ thì thấy ông sư ấy bị chém mất đầu. Tìm khắp chung quanh, từ sáng sớm đến trưa, vẫn chẳng thấy đầu ông ta đâu hết. Nhà chức trách địa phương đã lập tức mở cuộc điều tra. Hiện người ta biết ông sư ấy tên là Bùi Huy Sinh, tức Ba Sinh, trước đây ở đường Trương Tấn Bửu!”.


Cuối cùng, nhà báo cho biết thêm ông Ba Sinh này dường như trước đây có làm việc với Sở Mật thám Pháp ở đường Catinat, rồi chuyển qua làm việc tại Nha Tổng Giám Đốc Cảnh Sát, Công An từ 1956. Hiện chưa ai biết vụ án mạng này diễn ra vì tiền, vì thù hay vì lý do chính trị.


Chi tiết về vụ ông sư bị chém mất đầu ở đèo Mẹ Bồng Con tại Cà Ná vỏn vẹn chỉ có thế thôi. Nếu sống bình thường ở bên ngoài, chắc chắn cũng như trăm ngàn người khác đọc xong tin ấy tôi cũng bỏ qua, không lưu ý làm gì. May là tôi lại bị giam giữ ở ngay trong bộ Tư lịnh Cảnh Sát ngay lúc xảy ra án mạng nên tôi biết gần như hết cả đầu đuôi, do những chứng nhân đã sống, đã làm việc, đã đi sâu vào cuộc đời Ba Sinh cho biết.


Ý kiến và cảm nghĩ của mỗi người có mặt trong buổi nói chuyện đêm đó trong phòng trực khác xa nhau rất nhiều, khi nói đến tính tình, tâm địa, cách sống của Ba Sinh: người thì bảo y tốt, người thì bảo y độc ngầm. Duy tất cả đồng ý nhau về một điểm: chắc chắn động cơ vụ án mạng này không phải vì tiền nhưng có nhiều phần chắc chắn là vì thù, bởi vì sau này Ba Sinh làm việc trong ban đặc biệt, thế nào chẳng có những hành vi ác độc đối với những phạm nhân chánh trị. Vừa đây, hiệp định Ba Lê lại trao đổi tù binh, thế nào chẳng có người được trả cho “bên kia” lại chẳng trốn ẩn một nơi kín đáo rồi quay trở lại trả một mối thù nào đó trong khi bị giam giữ và bị Ba Sinh “hỏi thăm sức khỏe”.


Tất cả đều nhận giả thuyết ấy có nhiều phần nghe được. Họ nghĩ rằng nếu quả là thù thì mối thù ấy phải là ghê gớm lắm thì hung thủ mới dùng mã tấu (vì cuộc điều tra sau này cho biết Ba Sinh bị chém bằng mã tấu) chém bay đầu nạn nhân đi, chớ nếu chỉ là cướp của lấy tiền thì đâu lại phải sử dụng một hành động ác liệt, gớm ghê đến thế.


Hai hôm sau, một đại úy và ba nhân viên bộ Tư lịnh lên đường đi Cà Ná từ lúc trời chưa sáng. Theo lịnh Tòa án, họ đi để mở cuộc điều tra sâu rộng với sự yểm trợ của cảnh sát địa phương. Kết quả không lấy gì làm súc tích: vẫn không tìm được thủ phạm, còn lý do gây ra vụ án mạng thì bản vi bằng kết luận là “rất có thể một tù binh được trao đổi, vượt tuyến, lần mò tìm về Cà Ná để trả thù vì trong khi y bị cầm giữ, Sinh và các đàn em y đã khảo đả tàn nhẫn quá”.


Chín đi theo phái đoàn điều tra, ngay chiều hôm đó về đến phòng trực nói cho anh em biết đầy đủ chi tiết về chuyến đi ấy và cũng tin rằng phái đoàn nhận xét có phần đúng đắn. Anh Chín tin rằng, hạ thủ xong Ba Sinh rồi, thủ phạm đã vượt tuyến sang bên kia, do đó không hy vọng gì tìm ra thủ phạm.


Nghe câu chuyện, chính tôi cũng tin như vậy, nhưng thấy Ba Sinh bị giết thê thảm như thế, đoán chắc y cũng là một thú dữ tôi thừa cơ hội ông Chín biết Ba Sinh nhiều bèn yêu cầu cho biết một vài thành tích của y.


Chín nói:


– Thực tình, tôi không biết rõ tâm địa của Ba Sinh ra sao bởi vì chẳng bao giờ y nói về quá khứ của y. Nhưng đứng trên phương diện bạn bè nhậu nhẹt với nhau, tôi thấy y cũng là một người “chơi được”, rộng rãi về đồng tiền đồng nong. Phải nói thêm rằng y có ý thích thú bạn bè nhậu nhẹt hơn cả gia đình. Không, nói về nhậu nhẹt, nhất định anh em ở đây ai cũng phải chịu y là tay tổ. Y uống đủ các thứ rượu mạnh của ngoại quốc, không say. Chắc ông đã biết tiếng cái rượu “Porto Rico” của Nam Mỹ, bảy mươi lăm, tám mươi độ là ít, người ghiền uống độ hai ly pha sô đa là say đảo đồng đảo địa rồi, vậy mà y tì tì uống cả nửa chai mới bắt đầu thấy thấm.


Cố nhiên, ai uống rượu cũng vin vào lý do chán nản, buồn rầu, nhưng thường thường đó chỉ là một cái cớ nêu ra để che đậy tật xấu của mình. Nhưng với Ba Sinh, tôi thấy y chán nản thật tình, buồn rầu thật tình – mà buồn rầu, chán nản vì gia đình là phần chắc.


Thấy thế, tôi nghĩ ngay đến việc y gặp phải một người vợ hư hỏng, hoặc bài bạc, hoặc ngoại tình, hoặc lăng loàn hỗn xược, nhưng không phải. Ba Sinh buồn rầu, chán nản chè rượu tối ngày là vì vấn đề con.


*


Bùi Huy Sinh, tự Ba Sinh, xuất thân là lính “rơ xẹc” của Pháp, làm việc ở bóp Catinat. Trái lại lúc làm việc cho cảnh sát Sài Gòn lầm lầm lì lì, không nói nhiều mà cũng ít giao du, lúc trẻ, làm với Pháp, Sinh là một người hống hách, dựa vào thế Tây để “chọc” người bạn này, phá người bạn khác và hết sức hách dịch với những người bị bắt giam. Những cách tra tấn của y đã có một thời kỳ nổi tiếng, ai bị dẫn vào để cho y tra khảo phần đông không chết thì cũng đui què mẻ sứt suốt đời.


Một hôm có một người thanh niên trạc hơn hai mươi tuổi, làm việc ở sở rượu Mazet Chợ Quán bị bắt vì cái tội bắc một cái ghế bố ra ngoài đường ngủ, mà cộng sản lại cắm một cây cờ đỏ ở cái ống máng ngay gần đó. Bị bắt dẫn vào cho Tây lai thẩm vấn, Nghi – tên người thanh niên đó – nhất định kêu oan. Y bị dẫn sang phòng điện để cho Ba Sinh tra tấn.


Để tỏ cho Tây thấy là mình đắc lực, Sinh áp dụng mấy cách tra tấn từng làm y nổi tiếng một thời khiến cho Nghi chết đi sống lại nhiều lần. Kết quả, khỏi nói ai cũng biết, Nghi phải nhận mình là cộng sản, chính mình đã treo cờ đỏ, nhưng ở tổ nào, nhận công tác gì hoạt động trong thành và do tên nào chỉ huy, Nghi không biết trời trăng gì cả, đành phải van lạy Sinh muốn bảo y khai thế nào thì y khai đúng như vậy rồi ký tên và lăn tay ở dưới.


Đắc ý vì thành tích... quang vinh đó, đêm hôm ấy Ba Sinh về ăn vã nửa con gà, uống một chai “Người đi bộ” [2] và ăn nằm với vợ một cách vô cùng mê ly. Cũng vào giờ đó, ở trong bóp Catinat, Nghi trào máu ra lỗ mũi, lỗ tai và chết không kêu được một tiếng. Ai cũng biết y chết là vì bị Ba Sinh tra tấn tàn ác quá, nhưng dưới thời Pháp, một thằng người – nhất là một thằng người An Nam bị coi là phản loạn, chống lại mẫu quốc – không ai thèm đếm xỉa. Xác Nghi bị vất vào một xó cho chuột gặm để rồi sáng hôm sau có một cái xe băng ca chở ra cổng, tại đó có một cái xe bít bùng đợi sẵn chở y với các cái xác đồng hội đồng thuyền khác vứt vào trong một cái hố công cộng đào sâu chừng nửa thước.


Nhưng vài tháng sau đó, Sinh hên không chịu được: xếp khen, làm được mấy vố tiền, đánh bạc được. Tuy nhiên, tất cả những niềm vui ấy không thấm vào đâu khi thấy vợ tắt kinh và mang những triệu chứng cấn thai sau đêm ăn nằm mê ly với vợ... Là vì ăn ở với vợ trên dưới mười năm, Ba Sinh vẫn chưa có một đứa con nào. Cả hai vợ chồng Sinh cùng khỏe mạnh – nhất là bà vợ tốt nái không chê được – vậy mà không hiểu chếch lệch về đâu hay vì bịnh tật quái quỷ gì, kỳ nào thụ thai cũng đẻ non. Duy có một lần thai đậu, sanh được một đứa con trai bụ bẫm đáo để thì đùng một cái, chạm cữ, chỉ một tiếng đồng hồ thì bỏ.


Sinh buồn phiền vì vấn đề con cái nên nhậu nhẹt tối ngày là thế. Tuy nhiên, Sinh vẫn không tuyệt vọng. Chẳng thèm đếm xỉa đến tiền nong, cả hai vợ chồng đi khám đủ các bác sĩ tây, ta. Nghe thấy ở đâu có thầy hay, có môn thuốc gia truyền gì nổi tiếng, Sinh cũng cố lặn lội tìm cho kỳ được, nhưng đẻ non vẫn cứ hoàn đẻ non. Thét rồi, vợ y “đực” ra đấy không sinh nở nữa. Đang lúc y buồn rầu như thế thì vợ báo tin là có thai, hỏi không mừng rơn, không... hồ hởi làm sao được. Bao nhiêu tiền “làm ăn” được, y dốc cả ra để bón thuốc, bón ăn cho vợ, tẩm bổ cái thai và không quên đi các đền chùa miếu mạo linh thiêng để cầu xin cho chuyến này sinh đẻ được mẹ tròn con vuông. Thì quả lần sinh này, con vuông, mẹ tròn thật: cô nữ khán hộ nhà thương Đồn Đất báo cho Sinh biết vợ y đẻ con trai, mà đứa bé bụ lắm, cân nặng tới ba ký tám.


Để tránh những chuyện không hay có thể xảy ra như lần sanh đứa bé chạm cữ trước đây, Sinh bắt vợ nằm luôn ở nhà thương một tháng và điều đình với các y tá săn sóc và nuôi dưỡng đứa trẻ, với một số tiền khá hậu.


Không hiểu vì người mẹ ăn uống tẩm bổ nhiều trong lúc mang thai hay phương pháp nuôi dưỡng đặc biệt của người Âu Mỹ, đứa trẻ lớn lên như thổi, mới có ba bốn tháng mà lớn bằng đứa trẻ đầy năm nhà người ta. Thấy thế, Sinh vững dạ hết sức, tâng tiu hơn cả tròng con mắt của mình. Thế rồi, quay đi quay lại, chẳng mấy lúc thằng Phú đã lên năm tuổi, rồi sáu tuổi, rồi bảy tuổi. Được trời thương, nó cao lớn như đứa trẻ lên mười, mặt mũi khôi ngô, đĩnh đạc, mà khôn ngoan đáo để, ăn nói cứ y như ông cụ. Thằng nhỏ thích gì, Sinh cũng chiều: quần áo thì phải là quần áo tốt cắt bằng hàng Pháp, tuần lễ đưa đi ăn cơm Tây một lần, còn đồ chơi của nó thì khỏi nói! Nhưng khác hẳn những đứa trẻ cùng lứa tuổi nó thích cái xe, con ngựa, cái đu hoặc những cuốn truyện bằng tranh để đọc ngoài giờ đi học, Phú chỉ thích chơi súng và dao, mà súng thì phải là thứ súng bắn ra lửa, còn dao thì phải là dao thứ thiệt kiểu “poa-nha” của Pháp.


Thấy con thích thế, Sinh cũng chiều con mua cho nó đủ thứ, nhưng lần nào mua những thứ đó về, vợ Sinh cũng rầy con, trách chồng. Phú thường cười, nói với mẹ:


– Mẹ sợ gì. Con lớn rồi, chơi mấy thứ này, không có sao đâu. Đây này, con múa dao cho mẹ coi xem con sử dụng dao kiếm có tài hay không nhé!


Vừa nói, thằng Phú vừa nhảy ra sân, một tay cầm kiếm, một tay cầm “poa-nha” múa may loang loáng. Vợ chồng Sinh tưởng tượng các tay kiếm hiệp ngày xưa mà họ thấy trong các truyện “Bích huyết kiếm”, “Bồng lai hiệp khách”, “Hoàng giang nữ hiệp” cũng chỉ giỏi đến thế là cùng. Cả hai vợ chồng Sinh đều hãnh diện vì đứa con khỏe mạnh, bô trai mà lại “tinh thông võ nghệ”.


Nhưng có một hôm mẹ Phú muốn té xỉu khi nghe thấy con hỏi một câu kỳ lạ. Lúc đó, Phú đã chín tuổi. Ba Sinh đi làm vắng. Chỉ có hai mẹ con Phú ở nhà. Tập quyền và múa dao xong, Phú buột miệng hỏi mẹ:


– Má à, ba con có bao giờ dùng dao búa hay kềm kẹp để giết chết người ta không, má?


– Bậy nào! Ba con cả đời không biết dao súng là gì, sao tự nhiên con hỏi một câu kỳ như vậy?


Phú lúng liếng con mắt, nói nhỏ vào tai mẹ:


– Thế là má không biết gì. Má không trông thấy ổng cầm dao, súng bao giờ, nhưng làm việc ở sở, ông dùng dao, súng, búa, kềm đánh đập người ta dữ lắm đấy, nói cho má biết. Con lại biết có nhiều người chết vì ổng tra tấn, khảo đả, lại có những người bây giờ còn sống nhưng hiện là những người tàn phế, không làm ăn gì được, sống cũng như chết, mang thương tích cùng mình.


Nghe thấy con nói, bà Sinh choáng váng, tưởng như tim ngừng đập:


– Thôi, con đi chơi chỗ khác đi. Mà từ giờ mẹ cấm con nói những chuyện như thế, ba con nghe thấy, giết con chết mất.


Phú không nói nữa, nhưng một trận bão nổi lên trong đầu óc bà Sinh. Ủa, tại sao Phú nó lại biết như thế? Ai bảo nó? Mà nó chỉ quanh quẩn ở trong nhà, có quen biết ai đâu mà ai bảo nó?


Chiều hôm ấy, lên giường đi ngủ, bà Sinh đem câu chuyện ấy nói với chồng. Cả hai cùng băn khoăn, không hiểu ra sao. Nhưng vài ngày sau, cũng quên đi... thì một sự việc khác lại làm cho vợ chồng Sinh rợn cả tóc gáy lên.


Hôm ấy, ăn cơm chiều xong, Phú bắc ghế ra sân nằm ngửa mặt trông lên cây dừa. Không hiểu trong lúc tranh tối tranh sáng nhìn vào lùm lá dừa xao động, Phú thấy gì, nó chạy vào trong nhà hỏi cha:


– Ba! Có phải trước khi má sanh ra con thì má đã xảy mấy lần rồi đẻ ra một đứa con trai sống được mấy ngày thì nó chết, phải không?


Nghe con hỏi, Ba Sinh rùng mình, châu thân toát mồ hôi vì tuyệt nhiên ông không nói chuyện ấy với ai cả, mà tại sao Phú biết? Tuy nhiên, ông vẫn làm ra vẻ bình thản hỏi Phú:


– Tại sao con lại hỏi thế? Mà tại sao con biết?


– Con biết là con biết, chứ chẳng tại làm sao cả. Sở dĩ con hỏi như thế là bởi vì con “nghe thấy nói” rằng những cái thai bị xảy không phải đem chôn đi hay giục đi, hay cho vào thùng rác là xong đâu. Trái lại, hồn của những cái bào thai xấu số đó cứ bay vật vờ trong không trung, để chờ cơ hội nhập vào một người mang thai khác, có khi nhập ngay chính vào người mẹ đẻ của nó để hy vọng đầu thai lên làm người. Những linh hồn đó có phải kêu là những cái “rong”, phải không ba? Không hiểu tại sao hôm nay con lại chợt có cảm giác con cũng là một cái rong của một cái thai bị xảy hay của một người chết oan chết uổng nhập vào mẹ rồi đẻ ra con...


– Tại sao con lại có ý nghĩ kỳ cục như vậy kìa?


– Con “biết” là có những đứa trẻ hữu sinh vô dưỡng lúc chết đi, bố mẹ nó thường đánh dấu chàm để cho không đầu thai vào cửa họ được nữa. Nhưng có những đứa, dù đánh dấu chàm, dù băm ra từng mảnh (vì có ông bố bà mẹ đã băm những đứa con hữu sinh vô dưỡng ra từng mảnh) vẫn cứ đầu thai như thường và mang ở trên mình những dấu vết tiền kiếp của mình. Riêng phần con cũng mang trong người một hai dấu vết, ba không biết hay sao?


Nghe đến đó, Ba Sinh sởn gai ốc rùng mình và tưởng như có thể tắt thở ngay tại chỗ.


Phú nói tiếp:


– Đây này, con lật tóc con lên cho ba coi, có phải chung quanh đầu con có một lằn bầm tím mà dưới hai bàn chân con có những nốt rỗ cũng tím bầm, phải không?


Bắt đầu từ hôm đó, Ba Sinh lâm bịnh nhưng không mấy nặng, vẫn ăn vẫn uống như thường nhưng nói trước quên sau, như một người lãng trí, mà đêm ngủ thì sảng sốt, giựt mình, kêu ú ớ những tiếng kêu nghe không rõ. Thức giấc lúc nửa đêm để ngồi một mình suy nghĩ, Ba Sinh mỗi lúc lại thấy trí óc rối mù thêm, không còn hiểu ra sao. Y cố nghĩ, cố nhớ: Ờ, tra khảo các can nhân, y có cái lối đeo một vòng đai bằng sắt vào đầu họ rồi vặn ốc xiết chặt lại lần lần, tùy theo can nhân thú tội hay không. Còn quay điện thì y không cặm điện vào mũi, vào môi hay vào hạ bộ họ mà lại ưa cái lối truyền điện vào gan bàn chân và hậu môn.


Thằng Phú nói về tiền kiếp, hậu kiếp, về những cái “rong” ốp vào bụng những người đàn bà mang thai, chẳng biết có thực không? Mà ví có thực thì thằng Phú là cái “rong” của đứa trẻ hữu sinh vô dưỡng nào, là kết quả đầu thai của can nhân nào, bị tra khảo, quay điện hồi nào? Càng nghĩ, Sinh lại càng thấy rối mù trong óc bởi vì trong mấy năm trời làm “rơ-sẹc” được Tây giao cho quyền tra tấn tội nhân, y đã “đụng độ” biết bao nhiêu người, già có, trẻ có, đàn ông có, đàn bà có, làm sao cho đủ sức nhớ?


Trong khi đó, bịnh tình của Ba Sinh mỗi ngày mỗi nặng hơn, nhưng không vì thế mà kém ăn kém uống, duy chỉ có bộ thần kinh kém sút, trí óc mỗi lộn xộn, lẫn lộn hơn lên. Tuy nhiên, bảo y điên, không đúng hẳn, bởi vì y không hề có một hành động gì hay nói năng một câu gì bậy bạ, càn quấy hay mất quân bình, đập phá đồ đạc, xé quần xé áo. Ba Sinh vẫn tỉnh táo như thường, nhưng bất thình lình, vài ba bận trong ngày, y lại ré lên như mọi hú hoặc ngồi bần thần nói lẩm bẩm một mình, kiểu một người si, cười tủm hoặc lấy khăn chấm những giọt nước mắt không ai trông thấy.


Bấy giờ, Phú đã được mười ba tuổi và học chương trình Pháp ở trường Chasseloup-Laubat [3]. Tháng nào, Phú cũng được giấy của nhà trường ban khen cả về học vấn lẫn hạnh kiểm. Ông giáo dạy thể dục thể thao cũng nhận Phú rất siêng năng tập luyện.


Bà Sinh thương con không để đâu cho hết, nhưng ông Sinh bắt đầu thấy có một cái gì trục trặc giữa tình phụ tử. Mặc dầu vẫn hỏi han, chiều chuộng đứa con trai duy nhất, ông cảm thấy một sự sợ hãi vẩn vơ, không muốn gần con, không muốn chuyện trò lâu với nó, nhất là khi ngồi một mình nhậu lai rai mà nhìn ra sân thấy nó múa dao và tập “poa-nha”, ông nản hết sức, không muốn nhìn, phải quay mặt đi chỗ khác. Lần lần, ông không muốn nhìn thẳng vào mắt thằng Phú, cả những lúc ăn cơm hay sum họp gia đình trò chuyện. Không. Ông sợ thật, sợ một cái gì không ai biết, mà chính ông cũng không biết luôn. Không thể kéo dài tình trạng ối đọng, nghẹt thở, ông bàn với vợ:


– Thằng Phú nó lớn rồi, cho nó ở ngoại trú sợ bắt chước bè bạn chơi bời hư hỏng. Tôi tính cho nó vào nội trú trong trường để các giáo sư săn sóc nó kỹ hơn, chớ bà thì bận công bận việc, mà tôi thì yếu, sợ không săn sóc chu toàn được.


Thấy nói ở nội trú trong trường, học sinh ăn uống đầy đủ mà lại có người săn sóc học hành chu đáo, xét nét kỹ càng về đức dục, bà Sinh chịu liền.


Phú vào ở nội trú, mỗi tuần được về thăm nhà một lần, vào ngày chủ nhật.


Đời trôi đi thanh thản như một bản đờn, nhưng bệnh tình của Ba Sinh không thuyên giảm chút nào, mặc dầu ông đã cho người đi tìm thầy mo, thầy ngải ở Châu Đốc về chữa trị. Chán nản vô cùng, ông nẩy ra một quyết định: sang tất cả gia tài, sản nghiệp cho vợ và con, chỉ giữ một số tiền đủ lập một cái am vắng để tu cho qua ngày, đoạn tháng. Cái am lập ở Bãi Trênh, vùng Cà Ná, giữa đoạn đèo Mẹ Bồng Con và Cam Ranh, xuất hiện từ lúc đó, nhưng cũng từ đó, bà Sinh tuyệt nhiên không biết tin tức gì của ông Sinh. Là vì, lúc ra đi, ông Sinh chỉ nói là đi lục tỉnh vài ba hôm lại về, không ngờ đâu ông lại đi thẳng, tuyệt nhiên không cho nhà biết tin tức gì của ông. Mặc dầu đã đăng nhiều báo để tìm, bà Sinh vẫn tuyệt mù âm tín. Rốt cuộc, bà đành phải chịu đựng số phần, cho rằng ông Sinh đã chết vì một tai nạn gì đó và mất xác.


Hay tin bố đi mất không về, Phú buồn rã rượi. Một chiều thứ sáu, đột nhiên y về nhà kiếm mẹ. Ngạc nhiên thấy con về nhà giữa một ngày không phải là ngày nghỉ, mà cũng không phải là một ngày lễ, bà hỏi Phú:


– Con đau hay sao mà về đột nhiên như vậy?


– Không, con chẳng làm sao hết, nhưng con muốn về thăm mẹ.


Hỏi công việc học hành ra sao, Phú cho mẹ biết là vẫn bình thường, nhưng Phú có một mối buồn, muốn ngỏ riêng với mẹ: Không hiểu tại sao Phú nhớ bố quá và mấy đêm liền có một cái gì thúc đẩy Phú phải tìm bố cho kỳ được. Hỏi thực mẹ nhé: mẹ có biết hiện giờ bố ở đâu không? Chắc hẳn trước khi đi, bố có bảo cho mẹ biết, sao lại không nói với con khiến mấy đêm nay con nóng ruột quá, không ăn không ngủ được.


Bà Sinh thật tình kể cho Phú biết là chính bà cũng không biết bố Phú bây giờ ở đâu. Bà có cảm giác ổng chết rồi.


– Lúc ba đi, lẽ nào không nói với má một lời gì sao?


– Ba con nói đi chơi lục tỉnh mấy ngày. Nhưng bây giờ ngồi suy đi nghĩ lại, má cảm thấy ba con nói dối má, ba con có vẻ hoảng hốt bất thường và dường như không muốn cho cả má lẫn con biết nơi ổng đi... Ổng có vẻ sợ hãi một cái gì kỳ lắm.


Phú không nói, sáng hôm sau lại trở lại trường. Bà Sinh nhận thấy mắt con lóng lánh, có vẻ khác thường một chút nhưng rồi cũng quên đi.


Chủ nhựt đó, Phú không về nhà như thường lệ, nhưng đột nhiên sáng thứ hai, tức là ba ngày sau, Phú lại không học, trở về khóc rưng rức trong lòng mẹ.


– Con lại có chuyện gì vậy?


– Con khổ không thể nói được, má à!


– Thì con phải nói ra, má mới biết mà giúp con giải quyết nỗi đau khổ của con được chớ!


– Đây này, mẹ coi!


Vừa nói, Phú vừa đưa cho mẹ một bức thư, đề gửi cho ông hiệu trưởng nhà trường. Thư viết như sau: “Thưa Ông hiệu trưởng, tôi là một thân nhân của trò Phú, biết rõ trò Phú lắm. Xin trình ông rõ: trò Phú là một thanh niên mặc dầu còn non dại, nhưng đã có óc cực đoan chống Pháp, tham gia một đảng hoạt động ngấm ngầm để đợi một ngày nổi lên diệt Pháp. Tôi đề nghị với ông hiệu trưởng cáo tri cho chính quyền Pháp biết để theo dõi từng hành động của y, đồng thời giữ y luôn ở nội trú, không bao giờ cho về nhà nữa. Kính thư!”


Đọc xong bức thư, bà Sinh run lên như cái lá trước cơn giông. Phú đỡ mẹ trong tay, nói:


– Má đã thấy chưa? Ba con khôn mà không ngoan, viết thư này cho ông hiệu trưởng trường con, lấy danh nghĩa là một người trong thân quyến, nhưng trời lại che mắt ổng khiến quên mất một điều: không đổi kiểu chữ viết trong thư.


– Thế con có coi cái bao thư có đóng dấu gửi đi từ miền nào không? Ở ngoại quốc gửi về? Hay ở ngay trong nước.


– Cái đó, con cho là không quan hệ lắm bởi vì rất có thể ba con không gửi thư ở địa điểm mà ba con ở, nhưng đi đến một xứ khác, một tỉnh khác gửi để đánh lạc hướng, không cho người nhận thư biết nơi sanh sống đích thực hiện giờ của ba con. Tuy nhiên, lời má nói cũng nhắc con phải lưu ý đến cái bì thư. Ngay hôm nay, con trở lại trường và bằng mọi cách con phải xem cho được thấy cái bao thư ấy.


Nói đoạn, Phú ôm lấy mẹ khóc dầm dề, đoạn kêu xe kéo về trường. Nhưng kể từ hôm đó, Phú vắng mặt ở bên cạnh bạn bè. Nhà trường gửi thư về cho bà Sinh hỏi tại sao Phú nghỉ học thì bà đáp chính bà cũng không hiểu con bà đi đâu.


Một số bạn bè của Phú cho rằng, đúng như bức thư tố cáo, Phú đã đi theo một đảng chính trị chống Pháp. Có người lại cho rằng Phú gặp một tai nạn gì, hoặc đã trốn xuống tàu biển đi lén sang nước ngoài.


Chừng ba bốn tháng sau, vụ Phú mất tích chìm vào trong quên lãng thì chính cũng là lúc các báo loan tin ông sư tu ở cái am Bãi Trênh ở Cà Ná, khúc đèo Mẹ Bồng Con bị chém mất đầu.


*


Thực ra, câu chuyện liên quan đến cuộc đời của Ba Sinh không phải hoàn toàn do Chín kể lại cho tôi. Đó là những mẩu thuật lại, rồi từ đó tôi ghi nhớ trong óc, đem ra sắp xếp lại. Tài liệu tuy mỏng mảnh nhưng tôi cũng có một ý niệm nho nhỏ về vụ án mạng ở đèo Mẹ Bồng Con và mong rằng sẽ có dịp được biết thêm đoạn chót câu chuyện này, mặc dầu nhân viên cảnh sát có thành kiến vụ này là một vụ án chánh trị mà thủ phạm, sau khi thi hành thủ đoạn đã vượt tuyến sang bên kia Bến Hải.


Đầu tháng ba năm ấy, tôi được thả về sau khi phái đoàn Thượng viện Mỹ sang điều tra về vụ 300 triệu USD quân viện và thăm các ký giả bị chụp mũ cộng sản, trở về Hoa Thịnh Đốn.


Luôn một tuần, tôi ở nhà chơi với đoàn trẻ nhỏ và đọc báo. Một hôm, có một tin đăng ở mục “Tin Đô Thành” làm tôi giựt mình. “Xài xì ke quá độ hóa điên, một thanh niên lấy dao cắt gân máu ở cổ tay tự vẫn!”.


Tin ấy đại khái như sau: Chiều qua, tại một căn nhà số I0823 đường Trương Tấn Bửu, một thanh niên tên Bùi Huy Phú đã lấy dao cắt gân máu ở cổ tay tự vẫn sau khi đã khóa kín cửa phòng ngủ lại. Đến khi người nhà biết thì Phú đã chết rồi. Được biết Phú là con một nhà giàu, đua đòi bè bạn ăn chơi, ít lâu nay ghiền “xì-ke”. Có lẽ vì đã dùng một số xì-ke quá lớn, Phú nổi cơn điên xé quần xé áo rồi lấy dao cắt gân máu ở cổ tay như đã nói ở trên. Người ta thấy ở cạnh hai lọ pê-nê-xi-lin nhỏ, trong còn một ít ma túy chưa dùng hết. Nhà chức trách đang mở cuộc điều tra”.


Đọc xong tin ấy, ngay buổi chiều, tôi tìm đến căn nhà số I0823 đường Trương Tấn Bửu, gõ cửa vào, với danh nghĩa là giám thị trường Chasseloup – Laubat. Quả nhà ấy là nhà Bùi Huy Phú, con ông Bùi Huy Sinh. Lúc ấy, công việc chôn cất Phú đã xong xuôi, chỉ còn một hai người bà con của bà Sinh ở lại, hầu hết đã ra về.


Bà tiếp tôi trong phòng khách. Tôi chia buồn. Sau khi tỏ ý tiếc rằng nhà trường mất đi một trò thông minh, ngoan ngoãn, tôi nhắc đến câu chuyện bức thư nặc danh trước đây người ta gửi đến ông hiệu trưởng. Tôi nói:


– Thành thực, đến bây giờ, nhà trường vẫn không tin lời vu cáo trong thư, mà cả cái tin trên báo nói Phú ghiền xì-ke rồi tự vẫn, cũng không ai trong trường tin hết. Phú dường như có một mối buồn khác thế...


Và tôi bịa:


– Sinh thời, Phú đã có lần nói với tôi câu chuyện ấy. Bây giờ cháu đã qua đời, tốt hơn hết là để cho cháu được mồ yên mả đẹp, đừng khuấy động câu chuyện lên làm gì... Nhưng vì thương yêu Phú, tôi muốn hỏi bà một chút về những giờ cuối cùng của Phú. Bà có biết trong những tháng gần đây, Phú đã đi đâu không và lúc về có cho bà biết là đã gặp người viết bức thư cho ông hiệu trưởng?


Bà Sinh không trả lời. Nhưng sau một hồi suy nghĩ, yên trí tôi đã biết hết cả đầu đuôi câu chuyện rồi, bà rơm rớm nước mắt, nói:


– Thực ra câu chuyện này không ai biết mà tôi cũng định sống để dạ, chết mang đi. Nhưng bởi vì ông đã biết hết rồi, tôi cũng chẳng giấu làm gì. Tôi tin ông là thầy dạy cháu thì ông kín đáo, không tiết lộ cho ai biết. Mà thí dụ bây giờ có ai biết chăng nữa thì cũng chẳng làm gì vì chồng tôi chết rồi, đứa con độc nhất của tôi cũng chết, tôi cũng chẳng thiết sống làm gì!


Nói tới đây, bà Sinh òa lên khóc một hồi lâu mới nói được ra lời:


– Nào tôi có biết đâu. Nhà trường viết giấy báo tin cháu nghỉ học, tôi cứ tưởng cháu dại dột đi theo đảng nọ, phái kia xuống tàu trốn đi ngoại quốc. Không ngờ... Biền biệt bốn năm tháng không được tin tức gì, một buổi sáng cuối năm, Phú đẩy cửa đi vào, mặt mày xanh lét mà quần áo nhầu nát khác thường. Mừng quá, tôi ôm chầm lấy cháu, vồn vã hỏi xem cháu đi đâu mấy tháng nay thì cháu không trả lời ngay, đóng cửa lại, lên lầu. Hai mắt cháu đờ đẫn mất thần mà miệng thì mím chặt một cách chua cay, buồn thảm.


Tôi pha sữa cho cháu uống, cháu vẫn không nói gì, chỉ hỏi tôi có mạnh không và bảo:


– Con nhớ má quá. Nhân sắp tết, con về thăm má, chúc má một năm mới tốt lành, may mắn.


Nói đến đây, Phú khóc như lúc cháu còn bé.


– Má có biết con thương má ngần nào không? Cả một đời má khổ: khổ vì chồng, khổ vì con, má không được hưởng một ngày sung sướng. Má đừng dấu con, con biết. Nhưng từ năm mới, má có thể sung sướng hơn, má đi tu đi, má à, vì sẽ không còn ai làm khổ má nữa.


– Con nói thế là nghĩa làm sao?


– Nghĩa là sẽ chỉ còn một mình má thôi. Con sẽ đi. Còn ba thì ba chết rồi.


Hình như nghe thấy, tôi ngất lịm đi một phút. Lúc mở mắt tỉnh dậy, tôi thấy nằm ở trên giường, Phú ngồi bên cạnh, ôm mặt khóc. Tôi hỏi cháu:


– Sao con biết là ba chết rồi? Chắc không, con?


– Con chắc chắn với má như thế. Là vì chính tay con đã... giết ba ở trong một cái am thiết lập ở Bãi Trênh, khúc đèo Mẹ Bồng Con. Sở dĩ con biết được chỗ ba trốn lánh, thật cũng là nhờ... má. Nguyên lần thứ nhì con bỏ học về nhà, đưa cho má coi bức thư của ba con viết cho ông hiệu trưởng, tố cáo con là phản loạn, quá khích con chưa có một ý niệm gì về việc kiếm ba con để phân trần trái phải. Tự nhiên má hỏi con bức thư đó gửi từ đâu về. Thế là con nẩy ra ý kiếm tìm cho được ba con, con kiếm được cái bao thư và thấy đóng dấu xuất phát từ Cà Ná. Mới đầu, con cho đó là một sự đánh lừa, ở chỗ này đem đi chỗ khác bỏ thư, nhưng con cũng cứ đi Cà Ná, dọ hỏi xem sao. Thì ra đến lúc chẳng ra gì thì trời che mắt con người ta lại, làm mụ tâm hồn, trí óc đi: ba con đã khôn ngoan giấu diếm nhiều điều lại quên mất việc nhà bưu điện đóng dấu bao thư từ Cà Ná. Dọ hỏi cả hai ba tháng trời, con biết ba con lập am ở Bãi Trênh.


Thế là một đêm kia, con lên núi tìm ba và con đã gặp ba. Thú thật với má, trước đó, lòng con bình tĩnh lắm, con chỉ muốn phân trần một đôi câu và hỏi tại sao ba lại nỡ xử với con như thế. Nhưng không hiểu tại sao vừa thấy ba, chưa kịp nói năng gì hết, tự nhiên con cảm thấy như có một luồng điện gì mạnh lắm nó giựt khắp châu thân con. Mắt con hoa lên, mắt con mờ đi một lát. Con cố nhướng mắt lên thì... thì thấy có một người hết sức hung hãn lấy một cái vòng sắt quăng vào đầu ba con, xiết lại, xiết chặt lại, đồng thời lấy búa đập vào hai gò má ba con.


Tức giận run lên, con rút thanh mã tấu mà chính ba đã mua cho con khi trước, chém một lát thật ngọt vào cái thằng người hung hãn đã hành hạ ba con một cách vô cùng tàn ác.


Máu bắn ra như suối. Con tuyệt nhiên không thấy cảm giác gì lạ, cúi xuống nhìn thì ra là đầu... ba con! Vậy mà, kỳ lạ, lúc đó con không thấy thương xót một chút nào, lại bằng lòng là khác. Con cầm cái đầu ấy ra đứng ở ngoài cửa am, nhìn ra đêm vắng, ném thật xa, xa thật là xa, lên một ngọn đồi tối tăm mù mịt.


Nói tới đó, Phú có vẻ rất mệt, nằm xuống cái đi-văng gần cửa sổ. Tôi đứng dậy, rót nước cho cháu uống thì thấy cháu ngáy khe khẽ, nho nhỏ, thỉnh thoảng lại lẩm bẩm những câu gì nghe kỹ lắm mới thấy: “... tao làm ăn lương thiện ở xưởng rượu Mazet... không thù oán gì mày, ... Tao chết, vợ tao chết theo, ba đứa con tha phương cầu thực cũng chết nốt...”.


Thế là nghĩa làm sao? Tôi không hiểu. Đến chiều tối, Phú thức dậy, ăn cơm với tôi. Cháu lại vui vẻ như thường. Khoảng mười một giờ, cháu lên phòng cháu ngủ. Tôi xuống nhà, tụng kinh rồi cũng đi ngủ. Nào có biết đâu... Đến sáng, kêu cháu dậy uống cà phê thì xảy ra cớ sự thế...


Bây giờ, ngồi nghĩ lại, tôi thấy rằng cháu đã tính toán việc này từ trước cho nên mới nói “... chỉ còn một mình má thôi, con sẽ đi...” và mua sẵn một lọ xì-ke nhỏ – các báo nói hai lọ là lầm – để hít sau khi cắt gân máu ở tay.


Chắc chắn là cháu buồn khổ lắm cho nên cháu muốn “phi” để quên hết mọi sự việc trên đời, trong khi quằn quại trên giường chờ chết.


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học, 2002.


www.trieuxuan.info


 


Nhà văn Triệu Xuân: Trong chuyện này, có lẽ tác giả nhầm lẫn về thời gian và sự việc: Cái chết của Sinh và Phú xảy ra vào năm 1974. Vào thời đó, người Pháp không còn cai trị Sài Gòn, do vậy chi tiết lá thư tố cáo “Phú chống Pháp” gửi cho ông hiệu trưởng trường Chasseloup-Laubat là không logic. Trường này sau khi Pháp rút khỏi Việt Nam đổi thành trường Lê Quý Đôn.







[1]    Thu không: buổi chiều, lúc mặt trời sắp lặn.




[2]    Johnnie Walker, rượu whisky, có in hình người đi bộ trên nhãn hiệu. (BT).




[3]    Sau khi Pháp rút khỏi Việt Nam, trường Chasseloup-Laubat đổi tên thành trường Lê Quý Đôn.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Anh Nhoàng - Triệu Văn Đồi 07.07.2017
Thần sông - Trịnh Bích Ngân 30.06.2017
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
Nghĩa địa bên sông Chanh - Ngọc Toàn 07.06.2017
Hoa khôi xứ Mường - Ngọc Toàn 01.06.2017
Ông chéo ngà, Bà rách tai - Ngọc Toàn 01.06.2017
Kẻ vô ơn - Ngọc Toàn 01.06.2017
Đầu Phạm Nhan - Ngọc Toàn 01.06.2017
Rắn hổ mang chúa - Ngọc Toàn 01.06.2017
xem thêm »