tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21056461
Truyện ngắn
30.03.2013
Vũ Bằng
Có nhớ em ơi một buổi chiều (tiếp & hết)

Người vợ được hưởng gia tài của chồng và đương sống yên lành với đứa con gái – à quên, lúc nãy quên, không nói rằng trong thời kỳ ăn ở với ông bác sĩ, bà có được một đứa con gái – thì Chiêu Dương hiện đến như một bức tranh nhân đạo. Thương xót người quả phụ, y tự động xin đứng ra che chở người quả phụ, đứa cô nhi rồi chẳng mấy lúc tự động nhận luôn chức làm chồng người đàn bà tàn tật và làm cha đứa nhỏ. Chao ôi, ở đời cái tình ở với nhau là quý, chớ tiền tài, sắc đẹp có làm gì! Đẹp đến mấy thì nhan sắc cũng phôi pha, tiền của nhiều đến mấy, trời chẳng cho giữ thì cũng hết. Em đừng buồn mà hại sức. Hai trái tim với một mái lều tranh...


Tin những lời ngọt như mía lùi của Chiêu Dương, người quả phụ ấy trao cả thân và cả tiền cho y, để rồi một ngày kia... chàng mất hút, sau khi đã để lại tặng bà một số nợ thòm thèm một triệu.


Tôi không biết sau này người quả phụ ra sao, nhưng một hôm đọc báo, tôi thấy một cái tin cho hay rằng nhà thơ Chiêu Dương bị một bọn du đãng đâm chết ở đường Trần Quang Khải. Nhà báo viết đại khái: “Nhà chức trách đang mở cuộc điều tra. Theo tin riêng của đặc phái viên bổn báo, vụ ân oán giang hồ này không bắt nguyên nhân từ chuyện tiền nhưng là do chuyện tình Chiêu Dương mèo mỡ với một gái vị thành niên, em của chúa du đãng khu Trần Quang Khải là Đức-áo-đỏ, khiến cho cô nọ đeo bầu. Cô tìm Chiêu Dương xin nghĩ lại và thương lấy đứa con trong bụng, nhưng Chiêu Dương xỉ mắng cô tàn tệ. Người anh du đãng của cô gái bị phụ tình bèn tìm Chiêu Dương thanh toán”.


Đọc xong, tôi thấy ớn lạnh nơi xương sống vì tin đó đến với tôi rất bất ngờ. Dần dần, tôi nhớ lại... và tôi hiểu... Tôi hiểu tại sao hai ngày trước, khi lên giường nằm, đương chập chờn sắp ngủ, tôi thấy Chiêu Dương từ ngoài sân đi vào kiếm tôi. Ngay lúc đó, tôi cứ nghĩ “Quái quỷ, trước khi đi nằm mình đã đóng cửa ngõ cẩn thận rồi mà sao thằng “trời đánh” này vào được?” Nghĩ vậy, nhưng không hỏi Chiêu Dương, tôi cứ im lặng để xem y làm gì.


Ngừng bước ở cửa một giây, y đi cà nhót, tiến nhè nhẹ đến gần tôi thì, Trời! Chiêu Dương, anh làm sao mà lại ghê rợn đến thế này? Máu me ở đâu mà chan hòa cả mày mặt chân tay thế này? Tôi muốn nhắm mắt lại để khỏi phải trông, nhưng tò mò, tôi nhắm mắt lại rồi hé ra để xem y muốn gì. Thì thấy đầu y bị nát ra, mặt còn dính những miếng thịt tím bầm, chân tay nguyên vẹn, duy chỉ mất mười ngón chân.


Y không nói gì cả, miệng méo xệch một cách thiểu não, có vẻ như muốn nói mà không nói được. Sau, cố gắng mãi, tôi mới nghe thấy y lú nhú trong miệng:


– ... nhớ lời lúc sống, tôi về báo cho anh...


Chưa hết câu, y bỗng gào lên một tiếng hãi hùng, thê thảm y như con bò bị một búa giáng lên đầu. Mặt y đập vào một bực đá xanh, chung quanh lố nhố những người, cả đàn bà lẫn đàn ông, nhảy múa và la lên những tiếng gì quái đản. Thế rồi, từ đám đông ấy, có một ngọn lửa xanh lè bốc lên, cháy lem lém. Và tôi thấy Chiêu Dương quằn quại, rên lên ằng ặc.


Mở mắt thật to để tỏ rằng mình còn thức, tôi thấy gai ốc nổi lên cùng mình. Tứ bề vắng lặng. Gió đập vào những cành phi lao nghe rào rào như tiếng khóc của những đoàn thủy quái. Không ngủ được nữa! Làm thế nào cho ngủ lại được bây giờ? Tôi bật đèn ngồi dậy, tợp ba ly đế liền để lấy thêm can đảm. Tôi quyết định không nghĩ vơ vẩn nữa. Nhưng không được. Hình ảnh Chiêu Dương mờ mờ hiện ra trước mắt tôi. Tôi cố nhớ lại từng cử chỉ, từng sự việc. Và mặc dầu đã lâu lắm không nghĩ đến địa ngục mà bà nội tôi vẫn kể cho tôi nghe lúc nhỏ, tôi yên trí Chiêu Dương đương quằn quại trong ánh lửa của địa ngục xanh lè.


Đến sáng, cơn sợ qua đi, tôi thấy dâng lên ở trong tôi một tình thương rào rạt. Thế thì ra có địa ngục thật ư? Mà những người đàn ông, đàn bà đứng ở chung quanh Chiêu Dương là quỷ sứ, là chằn tinh hay chỉ là những người đã chết vì tay y đợi y dưới địa ngục, theo y đòi... nợ?


Thôi thế cũng xong. Làm tội, tự mình đền tội ngay ở kiếp này, thiết nghĩ còn hơn là để lụy đến con cháu kiếp sau. Chúng làm tội tình gì mà phải trả nợ cho ông bà cha mẹ?


Xa xa, chuông nhà thờ điểm bốn giờ. Ở Bắc, tháng giêng còn lạnh. Trời chưa sáng. Tôi ra sân, nhìn lên trên trời khấn nguyện cho vong hồn người bạn cũ.


*


Kể xong câu chuyện thì người bồi phòng gõ cửa đưa chai sữa buổi sáng vào.


Tôi nói:


– Em thức đêm, dùng sữa cho đỡ mệt.


– Thôi, em chẳng uống đâu. Em muốn đi nằm một lát.


Thùy Dương lấy mền đắp rồi quay mặt vào tường. Nàng giả tảng ngủ, nhưng tôi biết chắc là nàng thức vì đôi lúc cái mền lại rung lên... và có tiếng thút thít cố giữ để cho khỏi bật ra thành tiếng khóc.


Buổi trưa, trời nắng ráo, tôi kéo tay nàng bảo:


– Em ngủ đã lại người chưa? Sao buồn thế?


Để làm cho nàng vui lên, tôi rủ qua sông, lên núi Sơn Trà xem khỉ làm trò. Nàng nhận lời ngay, nhưng tôi biết nàng cố gượng chiều ý tôi. Người con gái ấy quả thật là ngoan ngoãn và khéo ở: trong buổi đi chơi hôm ấy, không một lúc nào nàng để lộ vẻ buồn. Có lẽ nàng không muốn cho cuộc đi chơi núi của tôi bị phí phạm nên cố nén tâm sự riêng của mình mà chỉ nghĩ cách làm thế nào cho tôi vui lúc sắp về, làm thế nào cho tôi giữ mãi ở trong lòng cảm giác có một ngày tôi đã quên hết nỗi âu sầu trong đời sống, ở bên cạnh một người thương yêu tôi thành thật.


Thùy Dương nói:


– Có phải anh bảo là mai anh về, phải không?


– Mai anh về.


– Chưa bao giờ em sung sướng như hôm nay. Mai, anh về, nhớ em và nhớ mãi buổi đi chơi núi hôm nay, anh nhé. Để lưu niệm, em xin vì anh hiến một nghề mọn của em, chưa có người nào biết... Chỉ riêng hiến anh thôi...


Tôi lặng im chờ.


Nàng nói:


– Anh biết em hết, hết cả rồi, nhưng chưa biết em còn hay tân nhạc, hò Huế và ngâm thơ nữa. Anh ngồi xuống bực đá dưới gốc tùng kia, nhắm mắt lại, em sẽ vì anh ngâm một bài mà chắc chắn em sẽ không bao giờ ngâm lại cho ai nghe nữa.


Đó là một bài thơ tình son trẻ:


Có nhớ, em ơi, một buổi chiều,


Rạt rào anh gửi chiếc hôn yêu


Trên làn môi thắm, em xinh quá


Lúc ấy, em ơi, gió rất nhiều


Đấy nhé, em ơi, anh nhớ rõ


Nhớ từ trận gió lướt qua ta...


Rung cành soan đỏ bên hồ vắng


Rớt xuống đầu em một cánh hoa.


Em gọi: “Anh ơi hoa đỏ quá


Màu hoa tôn hẳn sắc hoa lên”


Anh bảo: “Hoa kia tuy đỏ đấy


Nhưng còn kém đỏ sắc môi em...” [1]


Tiếng ngâm đang rung động, bay bổng lên cao rồi hạ xuống để nhảy múa trong bầu trời xanh biếc đầy hương và ngát hoa, đột nhiên ngừng lại. Chưa kịp mở mắt, tôi đã thấy hai cánh tay Thùy Dương ôm lấy lưng tôi và nàng hỏi khẽ vào tai tôi:


– Mùi không anh?


– Mùi quá. Mùi cả về lời thơ lẫn giọng ngâm. Nhưng sao em ngưng lại?


– Thế là tạm đủ. Bây giờ, anh thưởng em cái gì?


Chúng tôi cùng nằm lên trên cỏ, nghe tiếng những trái thông khô rơi ở chung quanh. Tôi nói:


– Anh nghĩ mãi không ra. Đúng bài thơ em vừa ngâm, anh đã đọc ở đâu một lần mà không thể nhớ được tên tác giả.


– Nhớ bài nào ngâm bài ấy. Em cũng chẳng biết tác giả bài ấy là ai. Em chỉ cần biết anh thưởng em cái gì...


Tinh mơ sáng hôm sau, tôi lên xe ra phi trường. Trời còn tối. Gió thổi mạnh làm cho lá cây lào xào, như tìm nhau để ấp ủ lẫn nhau cho đỡ lạnh.


Thùy Dương lấy chiếc khăn mỏng chùm lên trên tóc, dựa đầu vào vai tôi và ngâm khe khẽ đủ nghe:


“Lên xe tiễn anh đi,


Chưa bao giờ buồn thế


Trời mùa đông Pari


Suốt đời là chia ly”


Chính tôi cũng chưa bao giờ buồn thế. Lúc nào đời cũng chỉ là giấc mộng, lúc này cuộc sống chỉ là lời hứa hẹn suông. Hôm qua, nghe tiếng ngâm của Thùy Dương, tôi thấy bao nhiêu mùa xuân đầm ấm ngày xưa, bao nhiêu ngày xuân tươi tốt đến với tôi trong tiếng nói câu cười của người con gái sông hồ, thế mà bây giờ đây hai đứa lại chia tay, không biết có còn bao giờ gặp lại nhau không?


Lúc phi cơ cất cánh, tôi giơ tay chào từ biệt, nhưng mắt mờ, không trông thấy rõ nàng. Tôi định về thẳng Sài Gòn, nhưng rầu rĩ trong lòng quá, tới Quảng Ngãi tôi lại thay đổi ý kiến, lưu lại đó để thăm một người bạn cố tri, một tuần sau mới về.


*


Đến nhà, nghỉ ngơi tẩy trần xong, tôi nhởn nha pha một tách cà phê uống thì người nhà mang vào cho tôi một tập dày bọc giấy màu kèm một bức thư.


Nhìn dấu nhà bưu điện, tôi thấy ghi “Đà Nẵng”, vội vàng dở ra coi thử. Đó là một tập sách dày chừng hai trăm trang, ngoài bìa vẽ hai cánh hạc bay trên đỉnh núi có trăng soi, dưới kẻ chữ “MÂY TẦN”. Thơ của ai thế này? Chắc lại của một bạn văn nào đó gửi về đăng báo. Thôi, để khi nào rảnh đọc.


Nhưng dở đến bao thư lên coi, tôi biết ngay là không phải như tôi vừa đoán. Bức thư và tập thơ “Mây Tần” là của Thùy Dương gửi cho tôi.


“Anh yêu,


Cùng với thư này, em gửi anh bản thảo tập thơ “Mây Tần” anh coi và tùy nghi sử dụng. Anh yêu, có nhớ không anh? Ngày chúng ta lên đỉnh núi Sơn Trà, em có ngâm thơ cho anh nghe để lưu niệm ngày cuối cùng của hai ta sống bên nhau, anh hỏi em bài thơ “Có nhớ không em, một buổi chiều”, bài thơ ấy của ai, em bảo em không biết.


Ấy là em nói dối anh đấy, tha lỗi cho em nhé! Em biết tác giả bài thơ đó hơn cả ai ai, nhưng lúc đó em không nói, vì em sợ nói ra em sẽ òa lên khóc mất. Như thế, sẽ hoài mất cả một ngày hoa mộng mà cả anh và em đều muốn rũ hết nỗi sầu vô tuyệt kỳ.


Hôm nay, gửi tập bản thảo “Mây Tần” về cho anh, em muốn tỏ cho anh biết là đối với anh, em không giấu diếm một tí gì. Vâng, tác giả bài thơ ấy là Chiêu Dương, tên thật là Hoàng Quý. Hoàng Quý, tự Chiêu Dương chính là bạn anh, là ba em, mà cũng là vai chính trong câu chuyện anh kể cho em nghe đêm hai đứa chúng mình không ngủ, ngồi uống cà phê đến sáng.


Anh kể chuyện một cách bình thản, hồn nhiên, nhưng em chỉ nghe một khúc thôi đã biết ngay là ba em rồi. Em tủi thân, quay mặt vào tường khóc và kể từ lúc đó không một chút nào em không bị câu chuyện của anh ám ảnh.


Anh ơi, muốn kiếm cách gì bào chữa cũng không thể được: ba em bị báo oán đến thế nào đi nữa cũng là xứng đáng, còn em, dù bị đọa đày đến chừng nào cho ba em, vì ba em, em cũng không phàn nàn. Em chỉ buồn một điều: nếu đó là báo oán thực thì trời đối xử với em nghiêm khắc quá.


Đời hại chị em, đời em oan khổ lưu ly đến như thế còn chưa đủ hay sao mà lại còn xui khiến cho em... gặp gỡ anh – anh, bạn của ba em, anh, mà đằng thằng ra em phải coi là bố – rồi lại xui khiến cho em làm bạn chăn gối với anh, trong mấy bữa anh qua chơi Đà Nẵng?


Em cho đó mới thực là hình phạt nặng nề nhất, cay đắng nhất mà Đấng Tối Cao đã ban phát cho em. Tuy thế, cũng chưa thấm thía bằng điểm này: em biết như thế mà vẫn cứ yêu thương anh, dù biết yêu thương như thế là tội lỗi thêm tầng nữa.


Thôi, anh yêu ơi, vĩnh biệt nhé! Anh về nhà, vui cảnh vợ con, có khi nào nhìn ra mưa tím, gió xanh mà nhớ lại người em phúc bạc này, nhớ thắp một tuần nhang van vái cho em, để giải oan ở kiếp sau, anh nhé!


Hoàng Thùy Dương”.


 


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học, 2002.


www.trieuxuan.info







[1]    Người viết sách rất tiếc không nhớ tên tác giả chính của bài thơ này.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người đàn bà nghe nhạc đêm - Lưu Thị Mười 19.11.2017
Như vạt rêu ngoài suối - Kiều Duy Khánh 05.11.2017
Nhà số “100Big” - Y Mùi 17.10.2017
Nơi bão đi qua - Trịnh Bích Ngân 17.10.2017
Mụ Tân - Y Mùi 12.10.2017
Người tử tế - Y Mùi 12.10.2017
Vương quốc mộng mơ - Nguyễn Trường 23.09.2017
Yêu rừng như yêu đời - Triệu Xuân 01.09.2017
Nắng chiều - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Lầu 3 Phòng 7 - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
xem thêm »