tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19682334
Tiểu thuyết
29.03.2013
Hoài Anh
Đuốc lá dừa

Tú Chiểu vội gạt đi:


- Đâu phải vậy, chỉ hiềm vì quan Phan đứng đầu phe chủ hòa, nếu hai cậu đứng ra xướng nghĩa, e có người nghi ngờ cho là giống như vị thuốc “dẫn khấu nhập đình”([1]) thì nguy! Như vậy, hai cậu hãy tạm lui về Bến Tre, chỉnh bị lực lượng, khi nào thời cơ thuận lợi hãy nổi dậy cũng chưa muộn. Đó cũng là vị thuốc bổ âm phối hiệp với vị thuốc tráng dương của các vị này. Nếu như thang thuốc phải có “quân thần tá xứ”([2]), thì mọi người trên dưới phải một lòng mới có công hiệu.


Nguyễn Tri Phương ngẫm nghĩ rồi nói:


- Thầy nói vậy quả là đạt lý, nhưng chết nỗi triều đình lại truyền cho ta phải về Phan Rí dưỡng bệnh. Vậy ta nên ở lại hay về Phan Rí theo lệnh triều đình?


Tú Chiểu đắn đo. Lúc này khuyên ông Nguyễn bất tuân lệnh triều đình là chưa phải lúc. Dầu sao hai chữ trung quân đã ăn sâu vào trong tâm óc ông Nguyễn rồi. Mình đòi hỏi ở ông điều vượt quá sức ông là không thể được. Nghĩ vậy, ông thận trọng;


- Tướng công là mệnh quan của triều đình, nếu không về, bọn quan lại chủ hòa sẽ vin vào đó buộc tội tướng công chống lại nhà vua rồi kiếm cách giết haị, khi đó trăm họ mất kẻ cầm đầu, ắt ngơ ngác như gà con lạc mẹ. Tướng công hẳn không lạ gì cái tội “mạc tu hữu”([3]) mà Tần Cối khép cho Nhạc Phi thời xưa.


Nguyễn Tri Phương lắc đầu:


- Mình ta dầu chết cũng có nghĩa lý gì. Trong thiên hạ, thiếu chi người đức hơn ta. – Ông chỉ mấy người trẻ tuổi. – Như các tướng quân đây chẳng hạn.


Tú Chiểu giọng từng trải:


- Nếp quen chuộng người có danh vọng cầm đầu của dân ta có từ ngàn năm nay, đâu phải một sớm một chiều mà thay đổi được. Nói gì thì nói chứ các tướng quân đây tuy thừa nghĩa khí nhưng danh vọng còn thấp, chưa thể đứng làm tiêu biểu cho công cuộc chống giặc. Chi bằng tướng công cứ về Phan Rí, mượn danh nghĩa triều đình mà cổ vũ trăm họ một lòng chống giặc, để mọi người cùng hướng về ngọn cờ đại nghĩa. Nhiệm vụ của tướng công lúc này là phải sống, để đứng làm cột đá ngăn chặn dòng nước xoáy, cứu vớt muôn dân.


- Lời ông nói thấm vào ruột gan ta chẳng khác nào thang thuốc bổ, về y lý thì như vậy nhưng trước mắt ông có phương thuốc nào hay giúp ta không?


Tú Chiểu mở khăn gói lấy ra một cuốn sách giấy bản bìa phất cậy dâng lên:


- Kính bẩm tướng công, tiểu sinh cảm thương thời thế, thao thức suy nghĩ gần một năm ròng mới soạn thảo nên một bổn Lục Vân Tiên để góp phần làm chiếc thuyền chở đạo, và dùng ngọn bút đâm mấy thằng gian. Xin dâng tướng công đọc và chỉ dạy cho.


Ông lật qua mấy trang:


- “Trước đèn xem chuyện Tây Minh”… Chẳng hay ông diễn ca truyện Tây Minh hay viết theo ý bài Tây Minh của Trương Tải?


Tú Chiểu mỉm cười, nụ cười hóm hỉnh mà đôn hậu:


- Bẩm, đây là bổn thơ do tiểu sinh nghĩ soạn ra, không dựa vào cuốn truyện xưa nào, cũng không muợn ý của bài Tây Minh của Trương Tải. Sở dĩ kêu là Tây Minh là ngụ ý chuyện có liên quan đến giặc Tây bắt đầu thời vua Minh Mạng. Bởi ám chỉ giặc Tây nên mới gán cho nó cái tên rợ Ô Qua ở ngoài cửa biển…


Nguyễn Tri Phương đọc thử mấy dòng rồi gật gù:


- Cứ đọc câu “Nhớ câu kiến ngã bất vi. Làm người thế ấy cũng phi anh hùng” cũng đủ làm cho người ta sôi bầu nghĩa khí rồi. Ý đã cao mà thơ lại hay… - Ông lại đọc tiếp:


Dời chân ra chốn hoa đình,


Xem trăng rồi lại chạnh tình cố nhơn.


Than rằng: Lưu thủy cao sơn,


Ngày nào nghe đặng tiếng đàn tri âm…


Ông xúc động đặt sách xuống:


- Đọc câu này ta lại nhớ đời ta chỉ có một người bạn tri âm là ông Phan Thanh Giản, đời ta cũng chỉ có một lần làm thơ bài thơ tiễn ông Phan về Nam: “Cá lại Long Giang hai ngả nước. Nhạn về Du Hợp một phương trời”. Bây giờ ta với ông Phan không chỉ là hai cá rẽ dòng nước mà vĩnh viễn thành đôi nhạn lạc bầy…


Mọi người chung quanh đều bùi ngùi. Anh em họ Phan đưa vạt áo lên chấm nước mắt. Nhưng Tú Chiểu cương nghị:


- Bẩm tướng công. Cá lại Long Giang nếu vượt qua ba lớp sóng sẽ hóa rồng, nếu không thì chỉ là loại cá thường mà thôi. Làm thân cá sao chẳng mong có lần vượt được Vũ môn.([4])


Như một phấn phát, ông Nguyễn lại say sưa đọc. Ông cảm thấy không phải là thơ trong truyện nữa mà là những lời tâm sự của chính ông…


Quan sơn ngàn dặm đăng trình,


Lãnh cờ bình tặc phá thành Ô Qua.


Ông càng đọc càng hào hùng. Giọng vị tướng già sang sảng như đọc một bài hịch cứu nước.


V. Con sông Cần Giuộc chảy ngang qua chợ Trường Bình, từ làng Phong Đước cho tới bãi sông Xoài Rạp. Dọc sông có nhiều lò ấp trứng vịt của bà con, trong đó có lò của Huân là phát đạt nhứt.


Huân là em trai út của Tú Chiểu, cha mẹ mất sớm, Huân được ông Tú nuôi cho ăn học. Con người hiếu thảo đã khóc mẹ đến nỗi đui mắt ấy cũng là một người anh ăn ở chí tình với các em. Lương dạy học của ông Tú ít ỏi, Huân phải kiếm cách làm thêm để đỡ đần cho anh. Sống ở vùng Cầu Kho, vùng đất sình lầy lau sậy, sau lưng là dòng sông Bến Nghé hai hướng đông tây chắn ngang bởi hai con rạch từ sông mở vào là rạch Cầu Kho và rạch Bần, bên cạnh những con người quen sinh hoạt trên sông rạch: lưới cá, làm than, chở củi, chở hàng hóa đi trao đổi, đóng ghe, làm mộc… nên Huân đã học được nhiều nghề chân tay. Huân thường đi làm mướn cho những người chở than quen cái thói dọc ngang sông nước của dân hạ bạc. Có khi theo ghe đến mấy tháng ròng khi về không quên lượm củi trôi giữa dòng mang về bán giúp đỡ gia đình. Cũng vì vậy Huân không theo đuổi việc học được đều đặn. Cuối cùng, Huân xin phép nghỉ học để theo hẳn nghề thương hồ, đỡ cho anh một gánh nặng. Tú Chiểu lúc đầu không ưng, nhưng thấy em nói tha thiết quá đành phải chấp thuận. Vả chăng, ông Tú cũng biết em mình sống gần người nghèo nên học được nhiều nết tốt. Hầu hết, họ đều là những người thật thà, thẳng thắn, chuộng khí tiết, trọng nghĩa khinh tài. Họ lại can đảm, hào hiệp, sẵn sàng phò nguy cứu khốn theo đúng câu phương ngôn: Lộ kiến bất bằng, bạt đao tương trợ([5]). Nhưng không phải cá hung hăng của kẻ vũ phu mà do rất mực thương người cô thế. Tuy có nóng nảy nhưng lại biết phục thiện. Nếu như gia đình họ Võ trong thơ Lục Vân Tiên, ông lấy mẫu từ một gia đình có thiệt ở kế bên rạch Bần, đã từng hứa hôn với ông khi ông bị đui mù, thì những nhân vật như ông Ngư, ông Tiều, Hớn Minh, Tiểu đồng…, ông lấy mẫu từ chính những con người nghèo nàn lam lũ ở đây mà ông đã nhiều năm tiếp xúc, tìm hiểu. Nhiều câu thơ Lục Vân Tiên được viết ra trong tiếng quăng chài, kéo lưới trên sông rạch, tiếng nước rỏ róc rách, tiếng gió thổi hây hẩy và mùi tôm cá tanh nồng… Những lúc đứng hóng mát trên cầu Rạch Bần, ông lại mường tượng hình ảnh người con gái họ Võ đã phụ bạc ông vì tham chốn giàu sang, và không thể không so sánh hai cảnh đời khác nhau chỉ cách nhau bằng một nhịp cầu mong manh bắc qua con rạch.


Vì biết chăn vịt từ nhỏ nên khi theo anh dời về Cần Giuộc, Huân cũng gây một bầy vịt. Chỉ cần mua vịt con và tốn thức ăn cho nó một tháng đầu. Khi vịt con đã cứng cáp, biết chạy nhảy bơi lội tự nó mò cua bắt ốc tìm lấy mà ăn thì chỉ còn tốn công chăn. Đầu tháng mười Huân mua vịt con, bước qua tháng mười một nó đã lớn bằng bắp chân, bắt đầu mọc lông cánh cũng là lúc bắt đầu gặt. Anh cho nó chu du một chuyến dọc sông ăn cua, ốc, cá, tép, rồi lên các cánh đồng gặt xong nhặt thóc rơi thóc rớt. Đến tối con nào cũng no đẫy đi lặc lè, anh lấy mấy tấm phên quẩy theo quây nó ngủ tại bờ ruộng. Đàn vịt đi ăn như thế hai tháng là vừa đúng lứa, kịp lúc các chủ vựa tới đón mua, ngã giá xong anh trở về là áp Tết.


Chán nuôi vịt đẻ, Huân lại xoay qua nuôi vịt thịt. Nuôi vịt đẻ tốn vốn nhiều vì cần cho nó ăn thêm thóc mới sai trứng. Cũng vất vả hơn, người nuôi cũng phải thắp đèn canh chừng suốt đêm, nếu để chuột chồn đến khuấy làm vịt giựt mình nhảy rộ lên kêu oang oác là nín đẻ luôn. Đêm nào bầy vịt ăn no ngủ say nó sẽ đẻ trứng nằm sắp lớp trắng đất. Trứng vịt của Huân lòng đỏ đỏ rực như mặt trời mới mọc, béo ngậy vì được tẩm bổ nhiều cua, ốc, tép. Huân mở ngay một lò ấp trứng vịt để lấy vịt con bán cho người chăn.


Một đêm thanh vắng, Huân đang ngồi canh lò thì bỗng nghe từ dưới sông có tiếng hò cất lên trong trẻo:


- Hò ơ… Đêm canh lụn thì não nề ai oán. Còn cảnh u sầu thì mây áng trăng lu, Ai người quân tử đó ru, Để em khép cửa phòng thu em đợi chờ…


Nghe tiếng hò chứa chan tình cảm, Huân thấy lòng rạo rực liền ra bờ sông lấy nón ngoắc cô gái rồi cất giọng hò theo:


- Hò ơ… Nước chảy liu riu, lục bình trôi líu ríu, anh thấy nàng nhỏ xíu anh thương, này nàng ơi hỏi thăm thục nữ gia đường ở đâu…


Thấy có người cất tiếng hỏi, cô gái bèn đỏng đảnh:


- Hò ơ…Chiếc thuyền tôi thả luôn theo dòng nước, anh hỏi chuyện gia đường cách bước mà làm chi…


Tuy nói vậy nhưng cô gái cũng ghé thuyền vô bờ. Thấy Huân đứng trước cửa lò ấp, cô liền đánh tiếng hỏi mua trứng vịt lộn. Huân sốt sắng mang ra chục trứng khoe với cô:


- Chẳng dám nói ngoa, hột vịt lộn của tôi ngon nhất miệt này. Cô nếm qua chút đỉnh rồi sẽ thấy…


Cô gái trả tiền nhưng anh nhất định không lấy. Thấy anh cứ nhìn mình chăm chú, cô gái nguẩy đi:


- Làm chi mà cứ ngó lom lom người ta mắc cỡ muốn chết…


Tiếng “muốn chết” cô uốn cong lưỡi nghe như “muốn chớt”, mới dễ thương làm sao, Huân thăm dò:


- Tôi dám hỏi chẳng hay cô Hai đã có gia đình chưa?


- Anh hỏi làm chi mới được chớ?


- Nếu cô chưa có nơi chốn nào thì hay là…cô về đây làm lò chung với tôi…


Cô gái cười rũ rượi:


- Nói chi mà kỳ hôn, hổng thấy người ta đang mắc công việc đây à…


- Công việc của cô Hai là việc gì mới được chứ…


- Giỡn hoài…


_ Tôi đâu có giỡn. Cô Hai không nghe người ta nói: Phải duyên gặp vịt cũng lùa, gặp sông cũng lội gặp chùa cũng tu à.


Đôi má bầu bầu của cô gái bỗng đỏ rần:


- Anh khéo nói lắm!...Thôi bây giờ xin phép anh tôi phải đi kẻo có người trông.


- Ai trông cô Hai vậy cô Hai?


- Ai trông thì mắc mớ chi tới anh mà hỏi…


Nói rồi cô gái nguây nguẩy bỏ đi. Nhưng rồi lần khác ghé qua cô lại vô lò của anh mua ít trứng vịt lộn. Cô khen:


- Hột vịt lộn của anh đập ra, húp nước ngọt không kém gì mì hoành thánh của “các chú” ở Chợ Lớn. Ăn một lần là nhớ hoài…


- Cô chỉ nhớ hột vịt thôi chớ hổng nhớ ai à?


Cặp môi cô gái uốn cong lên đầy tình tứ:


- Nhớ ai? Có ai mà nhớ?


- Nhớ…nhớ…chớ còn nhớ ai….


Vừa nói Huân vừa chỉ tay vào ngực mình. Cô gái đỏ bừng mặt:


- Anh đừng nói bá láp bá xàm, người ta cười cho mắc cỡ chết.


- Ai cười mặc ai, miễn cô Hai không cười tôi là được rồi.


Đôi mắt to đen của cô gái ngước nhìn Huân, cảm động.


- Em đâu dám cười anh… A mà anh ở đây một mình thui thủi, chắc buồn lắm phải không?


- Tôi đâu có phải một mình, tôi có gia đình hẳn hoi. Anh tôi là ông Tú Chiểu dạy học ở trỏng.


Huân chỉ về phía trong làng. Cô gái sửng sốt:


- Ủa, anh là em ông Tú Chiểu à? Ông Tú Chiểu đặt thơ Lục Vân Tiên phải hôn?


- Cô cũng nghe tên anh tôi kia à?


- Danh tiếng ông Tú Chiểu khắp miền này ai còn lạ. Nhưng em hỏi thiệt anh câu này, anh đã đọc kỹ thơ Lục Vân Tiên chưa?


- Tôi nằm lòng từ hồi nào rồi chớ.


- Vậy anh thích nhất câu nào trong đó?


Huân nhìn cô gái tủm tỉm cười:


- Tôi thích nhất câu:


Tới đây duyên đã bén duyên,


Trăng thanh gió mát cắm thuyền chờ ai?


Cô gái bỗng nghiêm trang:


- Em thì em thích câu:


Trọn giồi một tấm lòng son,


Chí lăm trả nợ nước non cho rồi.


Rồi giọng cô chuyển sang tha thiết:


- Anh đã hỏi thì em xin tỏ thiệt, ở đời em chỉ ao ước gặp được một người có chí khí như trong thơ Lục Vân Tiên mà thôi.


Huân chợt tỉnh, rõ là cô gái có ý nhắc nhở mình về bổn phận làm trai. Như vầy là mình đã trót “thấp cơ thua trí đàn bà”. Để chuộc lại, anh cũng đáp bằng một giọng thành khẩn:


- Tôi chắc rằng, người mà cô ước nguyện cũng không còn ở xa cô lắm đâu…


Sau ngày đó, hai người thường xuyên chuyện trò thân mật với nhau, lâu dần tình cảm càng thêm gắn bó. Cô gái cho Huân hay tên cô là Xuyến, con một gia đình làm nghề dệt chiếu ở Long An. Cha mẹ cô bị giặc giết trong một trận chúng hành binh qua làng. Từ đó, cô xin gia nhập nghĩa binh của Thống quân Bùi Quang Diệu để kiếm phương trả thù nhà nợ nước. Cô chở thuyền trên sông nước thế này là bởi có nhiệm vụ đưa tin tức cho nghĩa quân.


Được lời Xuyến khích lệ, Huân cũng hăng hái xin sung vào đội nghĩa quân của Đốc binh Là. Lúc hay được ý định của em, ông Tú rất tán thành và vô cùng khen ngợi cô gái chở thuyền “thục nữ chí cao” đó. Huân thưa với anh:


- Em gặp cô này thật là kỳ ngộ chẳng khác gặp tiên. Hay là nhân vật trong sách của anh đã hóa thành cô kỳ nữ đó!


Tú Chiểu chỉ mỉm cười không đáp. Nhưng từ khóe mắt ông, Huân thấy lấm tấm đôi hạt nước mắt…


VI. Trên bãi đất rộng cạnh chợ Trường Bình, bà con quây vòng trong vòng ngoài quanh một ông già mù hát dạo và đứa cháu gái nhỏ. Ông già mù vừa đàn độc huyền vừa nói thơ Vân Tiên. Tiếng thơ khi trầm bổng, khi ngân nga, hòa với tiếng đàn réo rắt. Trong tiếng đàn một dây chứa đựng muôn ngàn thứ tiếng: tiếng sóng reo trên sông Cần Giuộc, tiếng lá dừa nước xào xạc, tiếng hò man mác trên con thuyền nước chảy ngược dòng, tiếng giọt mưa đêm rơi tí tách trên chiếc thau đồng, tiếng chim chuyền ríu rít hót mừng mặt trời buổi sớm…


Hữu tình chi bấy Ngưu Lang,


Tấm lòng Chức Nữ vì chàng mà nghiêng.


Thôi thôi em hỡi Kim Liên,


Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê…


Tiếng xuýt xoa của các bà già. Tiếng cười rúc rích của các cô gái. Tiếng tấm tắc của các chàng trai. Tiếng những đồng kẽm Thiệu Trị, Tự Đức liệng rào rào vô lòng chậu thau cô gái nhỏ ôm trong tay. Trong khi đó, cô gái vẫn đưa mắt liếc nhìn về dãy đồn Lang-Sa bên kia chợ, ở tả ngạn rạch Cầu Tràm, nép cạnh một nhà dạy đạo. Về phía đó, vẳng lại tiếng tàu sắt nổ máy dưới sông, tiếng Tây la thét và tiếng lính mã-tà hô ắc ê bước chân đều nhịp.


Ông già mù lại chuyển sang đoạn ông quán. Giọng ông cất cao hẳn lên, chiếc cần cũng lướt nhanh trên dây đàn gợi hình ảnh đàn chim nhảy lách tách trên cành trúc la đà:


Quán rằng: Ghét việc tầm phào,


Ghét cay ghét đắng, ghét vào tới tâm.


Ghét đời Kiệt Trụ mê dâm,


Để dân đến nổi sa hầm sẩy hang.


Ghét đời U Lệ đa đoan,


Để dân luống chịu lầm than muôn phần…


Có tiếng xôn xao trong đám người nghe. Tiếng tiền kẽm lại reo loảng xoảng trong chậu. Bỗng từ phía đồn, có một toán lính mã tà đi tới chợ. Một tên reo:


- A, có người “nói thơ Vân Tiên”, tụi bây ơi!


Cả bọn xúm lại gần ông già hát dạo. Một tên lính nói:


- Ông già mần cái đoạn Bùi Kiệm máu dê cho tụi này nó nghe, nó khoái cái đoạn đó bất tử.


Một tên khác nói:


- Thôi khỏi, ông có rành mần tuồng thì mần lớp Nguyệt Nga cống Hồ cho tụi tôi nghe mới đã.


Muốn chiều lòng tụi lính, ông già chuyển sang mần tuồng, lần này ông sắm vai Nguyệt Nga còn cô gái nhỏ vai Kim Liên.


Nguyệt Nga cất tiếng than: “Kim Liên em nầy, cô nghĩ lại cô tủi cho phần cô lắm em. Đã vô duyên không trọn nghĩa với ngưòi thương, còn bạc phận phải lìa xa cha mẹ, nữa kìa. Dòng nước chảy đưa thuyền phới nhẹ, giọt sầu tuôn tấc dạ bâng khuâng, bóng trăng rằm vằng vặc một vừng, hồn cố quốc triều triều nửa túi”.


Kim Liên tiếp: “ Thưa cô, người có cơn thành bại, nước có lúc lớn ròng. Xin tiểu thư nén dạ an lòng, phú tạo hóa định phần may rủi”.


Nguyệt Nga nói: “Em ôi, mù mịt tương lai đầy cát bụi, phất phơ quá vãng luống bồi hồi. Cô cũng muốn làm lơ, nhắm mắt đưa chân lắm chớ. Ngặt vì: mầm ước mong một phút bỗng dứt chồi, gái trinh bạch hai lòng đâu đành chịu, cho được em. Kim Liên em ôi, nước bạc thà trao thân liễu yếu, đền vàng quyết chẳng để danh nhơ. Chữ ân tình cô khó nỗi làm ngơ, về Phiên quốc cô cậy em thay thế”.


Kim Liên nói: “Tiểu thư đừng có nghĩ như vậy, không nên đâu”


Nguyệt Nga làm điệu bộ mở bức tượng Vân Tiên ra nhìn:


“Ai ôi, nếu đó tưởng tình xin chứng chiếu, cho đây hiệp mặt với nhau cùng. Liều mất ngay cho vẹn vẻ thủy chung, để xú tiết thêm thẹn thùa cây cỏ…”


Bọn mã tà khoái quá, cầm những xâu tiền điếu liệng rào rào vô chậu. Ông già hát dạo cất tiếng:


- Cảm ơn mấy chú thương kẻ đui mù, ơn này nguyện ghi tạc.


- Ơn huệ gì? Tụi tôi muốn nghe ca cho đã, rủi có chết cũng hổng còn tiếc đời. Vì ba cái đồng xèng mang về nuôi vợ nuôi con, mà phải dấn thân vô vòng tên đạn, còn không biết, mất không hay đó ông già!


- Cữ này cứ đưa quân hoài hoài về miệt Biên Hòa, cái đồn bỏ trống lổng, nghĩ mà thấy ớn xương sống.


- Nghe nói ở Biên Hòa sắp đánh nhau lớn lắm, nên các ổng điều quân gắt. Hổng biết bao giờ tới phiên tụi mình đi làm bia đỡ đạn cho mấy ổng.


Cả bọn nhao nhao nói, rồi một tên bàn:


- Thôi đi kiếm vài be rượu nhậu lai rai chút cho nó quên cái sầu đời đi mày!


Bọn lính rủ nhau vô quán nhậu. Bà con từ khi thấy lính tới e xảy chuyện phiền phức cũng tản đi dần. Lúc này chỉ còn hai ông cháu người hát dạo. Ông hỏi nhỏ:


- Cháu nhìn rõ như vậy chớ?


- Cháu nhìn rõ ràng ràng mà. Tụi nó đưa quân đi tới bến ở mé tay trái, xuống tàu có bòng bong che trắng lốp, ông cũng nghe thấy đó thôi!


- Thôi ta về, cháu à.


Hai ông cháu cuộn chiếu rồi người mang đờn, kẻ ôm chậu quẹo sang phía con đường làng hướng đi Bình Chánh. Khỏi ao sen lớn đào cặp cổ một con đường nhỏ tới một cảnh chùa nằm lọt giữa mảnh vườn xanh um. Ngoài cổng có biển đề ba chữ: “Tôn Thạnh Tự”. Ông già gõ cửa, một chú tiểu chạy ra trông thấy, vội vào báo cho hòa thượng hay.


Hòa thượng cao lớn khỏe mạnh, tướng con nhà võ, tay lần tràng hạt ra đón. Vừa “Mô Phật” thiệt lớn, hòa thượng lại đổi sang nhỏ giọng:


- Thế nào có tin gì mới không. Ông đốc binh đang chờ.


- Bạch thầy có chớ.


- Nếu vậy ông theo tôi.


Vị hòa thượng dẫn hai ông cháu vô tận gian Đại Hùng bửu điện, vừa đẩy một pho tượng Phật lớn thì sau tượng có một cái cửa thông vào hậu liêu. Bên trong tranh tối tranh sáng, Đốc binh Là đang nóng ruột đi đi lại lại. Đôi lông mày mũi mác nhăn tít, những nếp nhăn trên trán nổi hằn. Đang bước những bước nặng chịch, đôi hài mũi cong ấn mạnh xuống mặt sàn, bỗng thấy ông già, nét mặt ông chợt tươi lên:


- Có tin mới phải không?


Ông già thưa:


- Dạ, có. Ông cháu tôi thấy bọn Lang-Sa chở đầy nhóc quân về miệt Biên Hoà, nghe bọn mã-tà kháo nhau thì ở đó sắp có đánh lớn, hiện giờ trong đồn chỉ còn bảy chục tên…


Đốc binh Là tay bưng trán suy nghĩ. Rồi ông bảo cô gái nhỏ:


- Cháu đi rước thầy Tú Chiểu tới đây cho ta. Lẹ chút, nghe!


Cô gái nhỏ vâng lời. Đốc binh Là lại hỏi ông già:


- Ông có chắc chắn là trong đồn còn ít quân không?


- Bẩm ông lớn, tôi xin cam đoan với ông lớn là quân trong đồn hiện còn rất ít. Bọn còn lại cũng đang hoang mang lo sợ phải đi tiếp ứng cho miệt Biên Hòa.


Đốc binh Là gật gù. Từ ngày theo Thống quân Bùi Quang Diệu dấy binh, nghĩa quân do Đốc binh Là cầm đầu đã hùng cứ một vùng Cần Giuộc, chặn đánh quân Lang-Sa nhiều trận khiến chúng không ra khỏi được Chợ Lớn, từ Chợ Lớn xuống Gò Công chúng chỉ có thể đi bằng đường thủy.


Mải suy nghĩ, Đốc binh Là không biết ông Tú Chiểu đã tới từ hồi nào. Mãi khi nghe tiếng chào ông mới giật mình quay lại, thấy Tú Chiểu, ông niềm nở:


- Ủa! Thầy Tú! Tôi trông thầy thiếu  điều cháy gan cháy ruột.


Ông Tú điềm tĩnh:


- Có chuyện chi vậy, bác Đốc?


Đốc binh Là đem tin tức vừa nhận được, thuật lại. Tú Chiểu gật đầu:


- Bữa tôi về thăm chỗ dạy học cũ ở Bình Vị Biên Hòa cũng nghe thấy nói bọn Lang-Sa đang tính dốc toàn lực để đánh chiếm Biên Hòa, chặn đường giao thông của ta ra miền Trung. Đội quân thám thính của chúng ở Suối sâu bị đánh lui, lại một đội khác tới hai thôn Bình Thạnh, Bình Chuẩn bị phó đề đốc Lê Quang Tiến nhân đêm đánh úp, chúng phải thua chạy. Chắc vì ít quân nên bọn chúng phải đốc quân từ các đồn ở Gò Công, Cần Giuộc, Tân An để kéo về đánh Biên Hòa…


- Tôi cũng nghĩ vậy. Hiện nay trong đồn Cần Giuộc chúng chỉ để lại có ngót trăm quân, hay là nhân đêm nay ta đánh úp đồn…


Tú Chiểu ngẫm nghĩ một lúc, rồi thong thả:


- Việc dùng binh cũng như dùng thuốc, phải biết sắp đặt phương lược. Nếu không nhất tề nội ứng ngoại hợp, chỉ cốt nhổ lấy một đồn, nhổ xong nó lại dồn quân từ các nơi khác tới đàn áp thì mình khó lòng chống lại được. Nghĩa quân bị tổn thất đã đành mà giặc còn triệt hạ xóm làng, giết hại bà con là đằng khác nữa.


Giữa ngôi chùa tĩnh mịch, từng câu nói của Tú Chiểu vang lên như từng tiếng chuông ngân:


- Tôi thấy bác Đốc binh nên trình với ông Thống quân để ông sai người báo tin cho ông phó lãnh binh Trương Định ở Gò Công, và ông Quản cơ Nguyễn Văn Lịch ở Tân An cùng phối hợp với ta đánh úp bọn Lang-Sa ở tất cả các đồn trại, như vậy mới tăng thêm thanh thế cho quân ta và buộc giặc phải rút lui khỏi các đồn chúng chiếm đóng trong vùng này. Thế là vừa đánh được giặc lại vừa bảo vệ được dân, bà con sẽ càng nức lòng ủng hộ nghĩa quân. Cũng như dùng thuốc không chỉ ham dùng các vị công phạt để chữa khỏi bệnh liền tức khắc, mà phải tìm cách bồi bổ nguyên khí, cái gốc có mạnh mẽ thì mới mong dứt tuyệt được mầm bệnh…


Đốc binh Là nghe xong, vụt reo lên:


 - Hay! Hay! Thầy Tú không chỉ là y tướng mà còn là chiến tướng nữa đó!


(còn tiếp)


Nguồn: Đuốc lá dừa. Tiểu thuyết. Rút từ bộ Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info







[1] Dẫn giặc vô nhà




[2] Thuốc có các vị chính phụ như vua tôi họp nhau.




[3] Nhạc Phi đang chống giặc Kim thì bị tên gian thần Tần Cối giả chiếu vua đòi về triều rồi giết hại. Có người hỏi: “Nhạc Phi có tội gì mà bị giết?” – Cối trả lời: “Cần gì phải có tội” (Mạc tu hữu) ý nói không có tội cũng buộc thành tội.




[4] Theo truyền thuyềt, cứ đến thánh tám có cuộc thi giữa các loài sống dưới nước, con nào nhảy vượt được qua cửa Vũ (Vũ môn) thì sẽ hóa rồng.


 




[5] Giữa đường gặp nỗi bất bằng, rút dao giúp đỡ.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »