tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18518185
Tiểu thuyết
26.03.2013
Hoài Anh
Đuốc lá dừa

Lộc xua tay:


- Không sao không sao, giấu ai chứ tụi mình sắp cùng khuông phò một chúa, giấu làm chi! Để bữa nào tui sẽ thân đi lựa gà và luyện giùm ông chủ một con thiệt là vô địch!


- Lếu có gà như của thầy Cai thì ngộ dám cầm thế nhà đất để theo nắm à…


Tường cười:


- Tiền bạc để dùng vô đại sự chớ theo cái trò gà đá uổng lắm ông chủ à.- Vừa tợp một ngụm rượu nếp Gò Đen, Tường bèn nổi “hào khí” theo cái lối riêng của y.- Nè, lúc này đang có hứng bất tử đây muốn xin chữ xin nghĩa gì thì lẹ lẹ lên, kẻo “tửu nhập ngôn sơn sơn”([1]) chữ ra không kịp đó!


Sầm hối gia nhân mang tới hai tấm lụa trắng và nghiên bút. Tường nghĩ một hồi rồi dầm ngọn bút đại tự xuống nghiên đá viết hai hàng chữ nho… Lộc lẩm nhẩm đọc…


- Anh hùng hà xứ bất… Quân tử kiến cơ nhi… Câu này dường như còn thiêu thiếu chữ gì nữa phải không cậu Ba?


- Đủ rồi mà… - Tường xoa tay tủm tỉm.


- Anh hùng hà xứ bất gì thì tôi chưa rõ nhưng Quân tử kiến cơ nhi tác([2]) thì mới trọn vế chớ.


Tường phá lên cười:


- Thầy Cai thiệt thà quá, cái ngón xảo lộng thì chỉ vậy là dư hiểu rồi. Anh hùng hà xứ bất gợi lên câu Giang sơn hà xứ bất anh hùng, còn Quân tử kiến cơ nhi là đủ cho người ta đoán được chữ tác. Vậy mới thiệt là tài tình chớ viết đủ chữ thì còn ra cái mẹ gì!


Chừng ngà ngà say, Tường lộ hẳn chân tướng:


- Tôi viết hai câu đó là có ý muốn nói giang sơn nào chẳng có anh hùng. Chỉ cần có thời cơ là a-lê, hấp! Cống-hỉ, mét xì thằng Tường này đều thuộc nằm lòng, ha ha…


Lộc biểu đồng tình:


- Phải đó, ta bàn vô công việc cho lẹ lẹ chút, kẻo Nguyễn Tri Phương thì lỡ mất cơ hội ngàn vàng. Bữa nay sẽ có một qúy quan tới bàn với ông chủ việc mua trữ lúa gạo cho Lang- Sa… À ông chủ đã sửa soạn các món ăn Tây chưa?


- Hầy, món Tây, món Tàu, món A-lam, ngộ có hết à…


Tường vờ giựt mình đứng phắt dậy:


- Có người Lang-Sa à? Sao thầy Cai không cho tôi hay trước?


- Người Lang-Sa thì cũng là người, cần chi cậu Ba hoảng hốt như gặp ma vậy?


- Mình người Nam vô cớ gặp người Tây, thầy Tú Chiểu, thầy Cử Trị hay được chuyện này họ chửi cho mất mặt! – Nói rồi, Tường nhấp nhổm tính đường chuồn…


Biết Tường chỉ vờ chứ thiệt tình đã muốn ngả sang bên Lang-Sa từ lâu rồi, Lộc nắm lấy cánh tay Tường giữ lại:


- Tiệc rượu đang vui bỏ đi sao tiện cậu Ba. Sách có chữ “Tứ hải giai huynh đệ”([3]) có người Tây vô luôn càng vui chứ sao? Nếu tôi nói trước với cậu thì làm sao có chuyện Đông Tây hạnnh ngộ như vầy…


- Thì ra cuộc gặp gỡ này có xếp đặt trước, tôi thiệt thấp cơ thua trí thầy Cai. Thôi đã ngồi lỡ phải ngồi luôn, vậy là tôi lại mang tiếng là “tư thông địch quốc” đó…


Có tiếng gõ cửa. Một sĩ quan Lang-Sa bước vô, chân cứng đơ khiến người tưởng y không có đầu gối. Khuôn mặt dài nhỏ với đôi mắt màu vàng đầy vẻ tinh quái. Y đội mũ sĩ quan thủy quân cầu vai đeo lon một sao một vạch. Đó là thiếu úy Phơ- răng-xi Gạc- nhe, sĩ quan tùy tùng của đô đốc Sác-ne. Y nói tiếng Việt khá sõi vì đã từng theo đoàn thám hiểm sông Cửu Long từ lâu.


Vừa thấy Gạc-nhe, Sầm Tống Hếnh buột miệng chào:


- Cống hỉ quý quan! Bông dua me-sừ!


Gác-nhe hơi cau mặt trước cái cổ đầy mỡ và cáu ghét của Sầm, nhưng vẫn ráng giữ phép lịch sự;


- Chào ông chủ, chúc ông chủ mạnh giỏi…Y quay sang Tường. – Còn ông, tôi chưa được hân hạnh…


Lộc vội giới thiệu:


- Bẩm quý quan, đây là ông Tôn Thọ Tường, một học giả bổn xứ mà tôi từng được vinh dự giới thiệu với ông!


Gạc-nhe giơ tay bắt tay Tường:


- A! ông Tôn Thọ Tường! Thiệt là hân hạnh được làm quen với một học giả nổi tiếng xứ này… Ông thứ lỗi cho nha, lẽ ra con nhà văn chúng ta phải gặp nhau ở một nơi khác, với bộ y phục khác để đàm đạo với nhau về văn chương triết lý Á Đông mới phải. Nhưng tôi thì mắc thi hành công vụ, xin ông cảm phiền sẽ có dịp khác tới thăm ông riêng tại tư thất. Xin tự giới thiệu, tôi Phơ-răng-xi Gạc-nhe, sĩ quan và là nhà văn Lang-Sa.


Tôn Thọ Tường rút tay ra khỏi tay Gác-nhe chắp lại xá:


- Kính chào quý quan, được nghênh tiếp ngài tại đây quả là duyên trời run rủi.


Gạc-nhe cười:


- Người nhà cả, ta khỏi cần khách sáo với nhau. Theo sự giới thiệu của ông Trần Bá Lộc, nếu được ông Sầm nhận lời giúp người Lang-Sa về mặt kinh tế, ông Tường nhận lời giúp về mặt chính trị, thì việc bình định xứ này sẽ dễ như trở bàn tay. Trước mắt là nhờ ông Sầm đây mua giùm cho một số lúa gạo…


Sầm Tống Hếnh híp mắt, vẻ xảo quyệt:


- Bẩm quý quan, ngộ xin hết lòng giúp dùm quý quan nhưng cái lày ngộ còn phải pàn với tồng chủng tồng pang, nên xin quý quan cho giá trước à…


Gạc-nhe dư hiểu tâm lý dân “các chú” nên nói liền:


- Thôi, mười quan tiền Tây một tạ, chúng tôi không để các ông thiệt…


- Xin quý quan cho mười lăm, hè hè …


- Ừ thì mười lăm! Tôi chịu thua các ông rồi đó!


- Dạ để ngộ pàn với pà con rồi sẽ trả lời quý quan sau à!


Sầm nhẩm tính, sáng mai mình sẽ ra giá với các chủ hiệu khác. Có mối rồi mình cứ ra giá mười hai nếu ai ra giá mười bảy thì mình sẽ bán hết số lúa gạo của mình cho người đó, không cần bán cho Lang-Sa nữa. Còn nếu mọi người chịu giá mười hai thì mình sẽ mua vét tất cả để bán cho Lang-Sa, như vậy có lời mỗi tạ ba quan. Đằng nào mình cũng nắm đằng chuôi!


Gạc-nhe gật đầu:


- Được ngày mốt tôi sẽ trở lại gặp ông chủ. À, ông Lý Hồng Chương vừa ký với chúng tôi một điều ước ở Thiên Tân, từ nay người Tàu và người Lang-Sa là anh em với nhau, ở đây các ông cũng phải coi chúng tôi như là anh em mới phải chớ!


Trần Bá Lộc reo lên:


- Hay! Hay! Hồi nãy tôi đã nói vậy mà giờ trúng phóc! Tứ hải giai huynh đệ mà!


Một tràng cười vang đánh dấu phút khai trương ngôi hàng chung lưng buôn bán của một bọn mạt cưa mướp đắng.


Từ nhỏ Gạc-nhe đã nuôi mộng trở thành một nhà văn. Sau khi cuốn Salammbo với phong vị exotic([4])được xuất bản, cả Pa-ri ngưỡng mộ danh tiếng nhà văn Guýt-xta-vơ Flô-be vi đã viết về Phương Đông huyền bí đầy quyến rũ.


Thấy Phương Đông là một đề tài ăn khách với nhà văn, nên Gác-nhe xin sang Nam kỳ, làm nhân viên trong đoàn thám hiểm của Đu-đa đơ La-grê đi khảo sát sự lưu thông hai sông Cửu Long, Nhĩ Hà. Sau khi Đu-đa chết, lại tìm đến đầu quân dưới trướng tên cáo già Đuy-pơ-rê. Đuy-pơ-rê sai y mở con đường thông Bắc kỳ với Vân Nam.


Một hôm bài đăng trên báo “Monde Illustré” đã làm cho Gác-nhe phải chú ý. Tác giả bài báo, một danh tướng trong cơ binh Lang –Sa viết: Thấy phương pháp dụng binh của Nguyễn Tri Phương, người ta phải tin rằng vị nguyên soái anh hùng của nước Nam đã biết phương lược xây dựng lối pháo đài tạm thời như Tô-lê-ben ở Xê-bát-xtô-pôn, Đăng-phe Rô-sơ-rô ở Ben-pho, quân Phổ đánh Pa-ri, Ốt -măng Pa-sa trong trận Plơ-na([5])


Vừa đọc bài đó, Gạc-nhe nhún vai tỏ vẻ không tin. Chính lòng tò mò muốn biết những pháo đài đó ra sao đã thúc đẩy Gác-nhe xin chuyển sang nhà binh. Sau chiến dịch bột hải ở Trung Quốc, bị quáng lòa trước vinh quang của tên phó đô đốc năm sao Sác-ne xuất thân trường thủy quân Tu-lông hiện đang thống quản tất cả lực lượng binh bị của Lang-Sa ở Viễn Đông, y liền xin chuyển qua thủy quân, vì cho là ngành này có tương lai hơn cả. Thấy Gác-nhe là người có học, Sác-ne dùng y làm sĩ quan tùy tùng, và cho y đóng lon thiếu úy.


Khi được chứng kiến cảnh Đại đồn, chính Gác-nhe cũng phải khâm phục. Y đã viết ngay trên chiếc kỳ hạm Anh-pê-ra-tri-xơ một bài báo, sau được đăng ở Pa-ri. Trong bài báo, y viết:


“Những chiến lũy mà người Việt Nam dựng lên rất kiên cố, đều bằng đất sét, cốt tre; họ làm một đêm gần được 400 mét bề dài và ban đêm, một khi quân Lang-Sa triệt hạ chiến lũy đó thì tảng sáng, ta lại ngạc nhiên thấy nhiều chiến lũy mọc lên, cách tiền quân của ta chỉ 500 mét. Quân Việt Nam rất can đảm, và về dũng cảm, cũng như lòng khinh thường trước cái chết, chỉ xem một việc dùng chiến khí sau này của họ thì sẽ rõ lời nói của tôi không phải là không xác đáng. Trong khi giáp chiến, họ dùng giáo; thứ khí giới này chỉ đâm được quân địch cách bốn mét, đó là một lối tự vệ rất can đảm, đến quân Tàu cũng chưa bao giờ nghĩ đến”.


Gạc-nhe tin rằng bài báo sẽ mở ra con đường văn chương cho y sau này. Nhưng đồng thời y cũng cảm thấy Phương Đông ở đây không huyền bí đầy quyến rũ như Flô-be tưởng tượng mà là một thực tế tàn khốc đầy đe dọa.


Sau khi được phổ biến lệnh đánh Đại đồn, y rất hồi hộp. Phen này y quyết lập được chiến công, chí ít cũng viết được một bài báo tả cảnh tấn công Đại đồn, một bài báo mà y tin rằng sẽ mang lại vinh quang cho y. Tay gươm tay bút, y quyết giành lấy vòng nguyệt quế đội lên đầu để cho càng thêm xứng hợp với cái dáng điệu cố làm ra bơ phờ của một nhà văn và khuôn mặt lạnh lùng bắt chước pho tượng cẩm thạch của một danh tướng La Mã thời xưa.


Ít lâu sau, ở trang nhất của các báo xuất hiện ở Pa-ri đều in bằng tít lớn dòng chữ: K’I HOA([6]), MỘT PÔN-TA-VA MỚI. Nguyên văn như sau:


“4 giờ sáng ngày 24-2, liên quân Phú-Y khởi hành tại đồn Cây Mai, đạo bên hữu (bộ thuộc thủy binh) do thiếu tá An-li-dês- đơ Ma-ti-nhi-cua chỉ huy, đạo bên tả do trung tá Đê-vô và đại úy Ga-li-na dốc sức hiệp với đạo binh của Sác-ne và Vác-xoa-nhơ tiến về phía Đồng Tập Trận. Quân Phú Lang-Sa đưa vào trận đánh có trên 3000 người”.


Trời mờ sáng, pháo binh bắn đại bác 12 mi-li-mét dọn đường, quân lính tiến rất chậm.


Ban đầu, quân Phú Lang-Sa chạm trán một đoàn quân Việt ẩn trong đám rừng chồi ở Hòa Hưng. Hai bên xả súng bắn nhau. Sau quân Phú Lang-Sa dùng đại bác mới đánh lui được toán người kia. Qua khỏi đám rừng này quân Phú Lang-Sa gặp đám rừng khác. Quân Việt đã núp sẵn trong đó, xả súng công kích đoàn lính đi đầu, đồng thời súng đồng trong đồn KỳHòa bắn ra ầm ầm. Quân Phú Lang-Sa phải dùng toàn lực mới giải tán được toán quân này và tiến dần đến gần đồn Trung.


Khi đến sát đồn, mặc dầu đạn bắn ra rào rào, một tốp quân Phú Lang-Sa cầm đầu là thiếu úy Giô-re hùng hổ tiến tới hãm đồn. Quân Phú Lang-Sa bắc thang leo lên mặt thành, quân Việt nấp sau các ụ đất và các mồ mả bắn ra và ở trên thành ném đá xuống. trong trận này 300 người Phú Lang-Sa tử trận mất hai viên sĩ quan là Te-xta và Giô-ha-nô, bị thương 30 trong số đó có thiếu úy Lơ-xe-blơ và viên quản Tê-ly, tổn phí hết 204 trái phá và 36 thùng đạn.


Qua ngày sau 25-2, quân Phú-Y hạ được đồn Trung và công hãm đồn hậu rồi tiến tới đồn chính Kì Hòa do Nguyễn Tri Phương án ngữ. Bấy giờ là lúc phó đô đốc Sác-ne tự chỉ huy liên quân hãm thành. Pháo binh của trung tá Cru-da đóng ở giữa cánh hữu do đại tá thủy quân La-pơ-lanh chỉ huy. Cánh tả là do đội bộ binh và công binh. Đội kỵ mã chuyên giữ việc do thám và thông tin. Ở cánh hữu, một chi đội pháo thủ nã đại bác vào đồn quân Việt. Pháo binh của quân Việt bắn trả lại và dần dần núng thế, người Phú Lang-Sa tiến đến cách quân Việt 250 thước mà bắn lên mặt hào, yểm hộ cho tiền quân hãm thành. Ba người đi đầu trúng đạn, một người tử trận, hai người bị thương. Ở cánh trung ương, quân của Ma-ti-nhi-cua đông nhất và súng ống nhiều nhất, tấn công rất dữ dội, trong khi cánh tả liên đội thứ ba lữ đoàn thứ tư và quân tình nguyện bản xứ liều chết xông vào. Quân Việt chạy lui về cố thủ trong đồn. Quân Phú Lang-Sa đuổi theo và đặt thang trèo lên cửa thành. Quân Việt lấy gươm giáo phá hủy thang, quăng đồ dẫn hỏa xuống và nã súng hỏa mai giết hại quân Phú Lang-Sa. Tình thế lúc này trở nên nghiêm trọng. Đô đốc Sác-ne đem thêm quân cứu viện cho hai cánh quân tả hữu. Đội quân phía hữu được nhiều liên đội thủy binh và quân Y-Pha-Nho giúp, đội phía tả làm theo hai liên đội bộ binh. Đến quá trưa, cửa đồn bị phá thủng, quân Phú Lang-Sa lên được mặt đồn. Quân Việt vừa bắn vừa lui ra cổng hậu. Trận ấy Phú Lang-Sa chết 100 người, bị thương 125 trong đó có các sĩ quan tử trận là trung tá Tet-xta, hai đại úy Đờ Phô-côn và Rô-đen-léc Duy-pu-dích, trung úy Bec-giê, hai thiếu úy Nô-en và Phrốt-xtanh, hai sĩ quan bị thương nặng là lục quân thiếu tướng Vát-xoa-nhơ và đại tá Pa-lăng-ca.Thắng lợi của chúng ta hoàn toàn nhưng chúng ta đã trả giá thắng lợi ấy rất đắt.


Đây là một trận Pôn-ta-va mới của phương Đông. Phương Đông quyến rũ chúng ta bằng vẻ đẹp huyền bí man rợ của đêm trung cổ, phương Đông càng quyến rũ chúng ta hơn bằng những kho vàng chôn giấu trong lòng đất đầy bí ẩn.


Hãy tiến lên, những người con của đất nước Phú Lang-Sa, xứ sở đầu tiên của tự do, bình đẳng, bác ái!


Vinh quang đang chờ đợi những con người phiêu lưu và mạo hiểm, những Cơ-rít-xtốp Cô-lông phát hiện lại cựu Thế Giới”.


Cuối cùng là cái tên ký sau này sẽ đi vào lịch sử - nhưng không vinh quang-Phrăng - xi Gạc-nhe.


 


IV. Khỏi cầu đá xanh ngang qua dãy hào hình cánh cung, chiếc võng trần màu hồng điều đi lọt vào cửa tiền ngôi thành đá ong đỏ tỉnh Biên Hòa, giữa hai khẩu đại bác giàn hai bên. Viên chánh quản cơ đi đầu nạt đường rồi đến hai quân sĩ nón chóp, áo dấu cầm hai tấm biển gỗ sơn khắc chữ “Tĩnh túc” và “Hồi tỵ”([7]). Dẫn kế là lá cờ đuôi nheo, tiếp đến đoàn quân và các đồ nghi trượng.


Qua khỏi khuôn cửa, hai lính vệ khiêng đòn võng vội trở vai cho đỡ mỏi. Chiếc mành mành cánh sáo được vén lên, người ta thấy quan Tổng thống quân vụ ngồi xếp bằng tròn trên võng, nét mặt đầy ưu tư. Trên con đường thênh thang, đoàn nghi vệ đi qua vọng cung, hai bên có lầu chuông trống rồi đến tòa công dinh rộng lớn.


Một hồi trống báo, quan Tuần phủ Nguyễn Đức Hoan lật đật ra đón quan Tổng vào dinh giữa. Sau một tuần trà nước, quan Tuần phủ hỏi:


- Kính bẩm tướng công, tình thế nguy cấp lắm có phải không ạ?


Nguyễn Tri Phương chậm rãi:


- Giặc Phú Lang-Sa hạ được Đại đồn, ta cùng quan Tham tán Tôn Thất Cáp và Phạm Thế Hiển phải rút về thôn Tân Lạc phủ Tân Bình. Chúng lại rượt theo, quân ta đành rút về đây. – Ông lau nước mắt. – Chỉ thương cho Phạm tham tri, bị thương nặng không biết mệnh hệ ra sao…


- Dạ… còn quan Tán lý… - Nguyễn Đức Hoan ngập ngừng.


- Em ta bị trúng một trái đại bác giặc, thi thể không còn mảnh nào nguyên vẹn…


Ông nghẹn ngào nhớ lại cảnh tượng trong lúc giao chiến… đại bác ầm ầm thụi vào tường thành chỉ trong nháy mắt có thể san phẳng tất cả hào lũy… Quân ta từ trên quăng đá xuống nhưng vì hoảng hốt nên không trúng một tên Lang-Sa nào. Quân giặc vẫn lừng lững tiến lên, và khẩu đại bác như con quái vật há cái miệng đen sì của nó ngoạm từng mảng thành.


Giữa lúc đó, Tán lý Nguyễn Duy xông ra. Vừa ra tới nơi thì bị ngay một trái đạn bắn sạt đầu. Nhưng Nguyễn Duy vẫn dũng cảm xông tới. Một tên Lang-Sa vác một chiếc thang chạy tới định đặt để trèo lên cửa thành thì bị Nguyễn Duy chém một nhát. Tên giặc ngã lăn trên mặt đất. Lại một tên, rồi tên nữa. Nguyễn Duy đang đà hăng cứ vung gươm chém lia lịa hết tên này đến tên khác. Máu giặc bắn vào nhuộm đỏ chiếc áo ông đang mặc. Thấy nhiều đồng bọn gục ngã, đoàn quân Lang-Sa hốt hoảng lùi lại… Đạn đại bác lại nổ ầm ầm yểm hộ cho đoàn tiền quân giặc. Nguyễn Duy đang xông xáo như giữa chốn không người thì một trái đạn đại bác nổ trúng người ông. Thân thể ông tan ra như xác pháo không còn mảnh nào nguyên vẹn. Quân sĩ xông ra cứu ông chỉ còn lượm được một mảnh áo là dấu hiệu duy nhất để nhận ra ông.


Quan Tổng thống quân vụ đang đứng đốc chiến ở cửa Tả hậu, thì nhận được tin dữ. Vừa cầm lấy mảnh áo đẫm máu… nóng hổi trên tay ông như một quả tim thì người võ tướng thân cận quan Tham tán quân vụ Phạm Thế Hiển đã ngã gục dưới chân ông…


Hiểu nỗi đau đớn của quan Tổng, Nguyễn Đức Hoan an ủi:


- Ty chức xin có lời phân ưu cùng tướng công. Xin tướng công chớ quá lo buồn mà tổn hao ngọc thể. Hiện giờ người là trụ cột của xã tắc, tính mạng của ba quân, nếu có bề nào thì tai hại cho đất nước không nhỏ…


- Em ta có chết nhưng là cái chết vì nước như vậy ta cũng vui lòng rồi…


Ngừng một lát, ông Nguyễn tiếp:


- Vả chăng, quân ta cũng còn nhiều thương binh, tử sĩ lẽ nào ta lại chỉ riêng nghĩ đến người em ruột. Quan lớn cho binh lính đi chôn cất tử sĩ và săn sóc thương binh…


Bỗng thấy quan Tổng hơi nhăn mặt, viên tuần phủ giật mình:


- Hình như cụ lớn cũng bị thương, xin rước người vào hậu đường tĩnh dưỡng đã…


Nguyễn Tri Phương lắc đầu:


- Giặc đã lấy được toàn thành Gia Định, chắc sẽ kéo tới Biên Hòa, ta phải lo đi sửa sang hào lũy, doanh trại, để sẵn sàng đối phó. Lúc này không phải là lúc nghỉ ngơi…


Rồi ngay hôm đó, Nguyễn Tri Phương thân hành đi đôn đốc việc bảo vệ tỉnh thành. Ông còn cho đắp- lại các hào lũy Tân Hoa, Trúc Giang, Trảo Trảo, Sông Ký, rào thêm tre gai ở lũy Đông Giang, Phước Tứ và năm đồn Đồng Môn. Ở bảo Phước Thắng túc Vũng Tàu và cửa Cần Giờ, ông cũng cho đóng hêm đồn quân canh giữ mặt biển.


Đang say sưa trong công việc thì triều đình Huế sai Khâm sai Nguyễn Bá Nghi điều bốn ngàn binh sĩ vào Biên Hòa. Tới nơi việc đầu tiên của Nghi làm là lập hội đồng nghị tội những người thua trận. Hội đồng tâu xin giải chức Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Cáp và xử trảm giam hậu([8]) các thuộc quan khác.


Mấy hôm sau có sắc chỉ của nhà vua tới nơi, nói vì xét công, cho hưởng trường hợp giảm khinh giáng Phương xuống chức Tham tri, Cáp Viên ngoại, còn Hiển đã qua đời, được miễn tội. Các thuộc quan cũng được ân giảm theo.


Nguyễn Tri Phương đang sửa soạn về Phan Rí chạy chữa vết thương thì được tin Nguyễn Bá Nghi đã gửi thư nghị hòa với đô đốc Lang-Sa Sác-ne. Cuộc hội đàm được mở trên tàu Pri-mô-ghê.


Nắm được thóp của Nghi, Tôn Thọ Tường khuyên Sác-ne nên làm căng. Phái viên của Sác - ne dự hội nghị hòa liền đòi mười hai khoản trong đó có hai việc chuyển nhượng thành Gia Định, hai tỉnh Định Tường, Thủ Dầu Một và bồi thường bốn triệu nguyên bạc là nặng nhứt.


Không thể chịu được cảnh ấy, ông Nguyễn mặc dầu đang bệnh nặng vẫn nhờ người dìu tới chỗ Nghi khuyên Nghi đừng làm chuyện bán nước. Nghi không nghe, lấy lý nếu không nghị hòa mà Tây đánh, đòi thêm đất, bấy giờ công chẳng được, thủ không xong mà hòa cũng không được vẹn.


Giữa lúc ấy, Trương Định,Nguyễn Văn Lịch vừa hộ tống các quan tỉnh Gia Định rút về Biên Hòa. Tới nơi, hai người vội đến tận giường bệnh thăm hỏi vị chủ tướng và một hai xin ông đứng ra cầm đầu các sĩ phu nghĩa dũng đứng lên chống giặc.


Nghe xong, ông Nguyễn cảm khái:


- Lòng dân như vậy, ta dầu có chết cũng nhắm được mắt.


Trương Định vội thưa:


- Sao tướng công lại nói gở như vậy? Hiện nay tướng công là sinh mệnh của cả trăm họ, tiêu biểu cho công cuộc chống giặc. Tiểu tướng biết có một nơi hiểm yếu là Đám Lá- Tối Trời ở Gò Công, xin rước tướng công về đó tĩnh dưỡng để rồi tính kế lâu dài. Người chớ về Phan Rí để rồi chui vào bẫy của bọn Nguyễn Bá Nghi…


Ông Nguyễn chưa kịp trả lời thì Trần Nhượng vào báo:


- Kính bẩm tướng công, có hai cậu Phan Liêm, Phan Tôn, xin vào vấn an…


Quản Lịch cau mày:


- Phan Liêm, Phan Tôn con ông Phan Thanh Giản. Ông này cũng một duộc chủ hòa như Nguyễn Bá Nghi. Hay là vô đây để dò xét tướng công chăng?


Trương Định lắc đầu:


- Không, tôi nghe nói hai cậu Phan Liêm, Phan Tôn tính tình trung hậu, lại rất ghét giặc Tây, chưa chắc đã có chuyện đó đâu. Xin tướng công cứ cho hai cậu vô để hỏi coi ra sao đã…


Nghe lời Trương Định, ông Nguyễn cho mời hai anh em họ Phan vào. Đó là hai chàng trẻ tuổi mặt mũi khôi ngô, nước da trắng trẻo, mình mặt áo gấm lam nổi hoa chữ thọ, đầu chít khăn nhiễu tím, chân dận hài đỏ, tỏ ra người sinh trưởng trong chốn cao sang. Tuy vậy nét mặt đầy vẻ hòa nhã của kẻ có học thức.


Tới nơi, Phan Tôn vái chào rồi nói:


- Bẩm, bá phụ thọ thương, chúng cháu tới thăm trễ, thiệt là đắc tội.


Phan Liêm cũng nói:


- Chắc bá phụ không được hài lòng về việc làm của phụ thân cháu…Xin bá phụ hiểu cho, chúng cháu cũng rất khổ tâm về chuyện đó, nay tới đây để giãi tỏ lòng thành…


Ông Nguyễn ôn tồn:


- Từ lâu ta đã hay hai cháu không phải người cạn nghĩ. Cách biệt mấy năm, hai cháu đã trưởng thành cả rồi, bác rất vui mừng…


Trương Định cũng vồn vã hỏi han hai anh em họ Phan, riêng Lịch vẫn đứng yên một góc, nét mặt đầy vẻ ngờ vực. Bỗng Phan Tôn sực nhớ thưa với ông Nguyễn:


- Bẩm bá phụ, có gia sư là Nguyễn Đình Chiểu muốn vô vấn an, nhưng vì chưa được diện kiến bá phụ lần nào nên e rằng đường đột…


- Nguyễn Đình Chiểu nào? Có phải thầy tú tài Chiểu nổi tiếng thơ hay đó không?


- Bẩm, chính phải. Khi ông mở trường ở Tân Thuận, chúng cháu có tới tập văn một độ. Nay ông về Bình Vị Biên Hòa thăm nơi dạy học cũ, gặp chúng cháu nên chúng cháu dẫn ông tới đây…


- Ta nghe danh thầy Tú Chiểu từ lâu, vẫn có lòng khao khát. Cháu ra mời thầy vô và xin lỗi giùm ta vì thọ thương nên không ra đón được, nghe!


Anh em họ Phan ra mời Tú Chiểu vào. Trương Định nghe nói mừng ra mặt vì Định cũng mong gặp lại người bạn mới quen.


Lát sau, ông Nguyễn nhìn thấy một người cao lớn, nước da trắng trẻo, tuy mù nhưng dáng điệu hết sức trang nhã, với chiếc áo trắng dài vải thô sạch sẽ không một nếp nhăn. Chiếc búi tóc giắt lược sừng nhô cao lên vành khăn nhiễu tím. Thoạt trông, ông Nguyễn đã sinh lòng kính nể, gượng đau đứng dậy đón. Tú Chiểu biết ý vội thưa:


- Xin tướng công chớ bận lòng vì kẻ hàn sĩ này. Người cứ an tọa để tiểu sinh đứng hầu là đủ rồi…


Nguyễn Tri Phương không nghe, một hai ép ông Tú phải ngồi lên giường cạnh ông. Tú Chiểu khoan thai vén áo ngồi ghé một bên, rồi kính cẩn:


- Bẩm, tiểu sinh có biết chút ít về y lý, nghe nói tướng công thọ thương nên mạn phép đến vấn an, coi có thể góp phần điều trị được chút nào chăng?


Ông Nguyễn cảm kích:


- Thầy có lòng, ta rất cảm ơn. Từ lâu ta đã nghe danh thầy, thuốc đã giỏi mà thơ cũng hay, nên thường ao ước có phen gặp gỡ, ai ngờ không hẹn mà nên. Nhưng vết thương của ta có đáng kể gì so với vết thương của đất nước. Trước khi điều trị cho ta, thầy hãy cho ta biết ý thầy về thời cuộc đã…


Tú Chiểu điềm tĩnh:


- Bẩm, tiểu sinh trộm nghĩ đất nước như con bệnh trầm kha([9]) muốn chữa lành chốc lát không phải là chuyện dễ. Trước hết phải dùng thang công phạt để khu trừ cho hết âm độc, sau mới dùng sâm nhung để bồi bổ nguyên khí. Như người các mạch bị uất kết, phải khai thông các mạch bằng phép châm cứu, thì ở đây phải cổ vũ lòng dân căm hờn lũ giặc, vì nước hiến thân. Sau tới việc khu tà giải độc từng ăn sâu vào tạng phủ, phải dùng vị thuốc có tính nhiệt tính cấp, thì ở đây phải nhóm họp nghĩa sĩ, chọn nơi đóng quân, sắp sẵn khí giới đánh giặc. Nếu cây cỏ cũng đều trở thành vị thuốc được, thì một ngọn tầm vông cũng có thể làm binh khí giết giặc, một bó rơm con cúi cũng có thể làm hỏa mai đốt tàu, một lưỡi dao phay, một thanh kiếm sắt đều là quân nhu, một chiếc chiêng đồng, một thớt mõ gỗ đều là hiệu lệnh. Sách có chữ “gươm gỗ giáo sào” cũng là lẽ ấy. Nếu như trăm họ đều là quân binh, khắp đất đều là chiến lũy thì giặc không thể thoát khỏi lớp thiên la địa võng([10]) như loài trùng bệnh khi có các loại thuốc khắc chế đưa vào, sẽ hết cách hoành hành.


Ông Nguyễn vui mừng:


- Lời thầy nói về căn bệnh đất nước mà lại làm thuyên giảm tâm bệnh của ta. Xin thầy nhận xét giùm về sở trường sở đoản của ta trong việc cầm quân vừa qua, để còn bồi bổ cho lần sau…


Tú Chiểu nghiêm trang:


- Bẩm, sở trường của tướng công là dựa vào thành lũy…


- Còn sở đoản?


- Sở đoản của tướng công cũng là dựa vào thành lũy…


- Sao? Sở trường sở đoản cũng là thành lũy, vậy là nghĩa thế nào?


Tú Chiểu bình tĩnh:


- Bẩm, thành lũy có cái hay là cố thủ được ít lâu để có thời giờ tập trung binh lực khởi thế công, nhưng cũng có cái dở là chỉ chống cự được với những đoàn quân dùng gươm giáo hay súng thần công kiểu xưa, chớ khi đem chọi với một đội quân có súng ống tối tân đủ sức san phẳng hào lũy thì lại phơi ra nhiều chỗ yếu, chẳng khác nào giơ lưng ra cho người ta thụi.


Ông Nguyễn nhíu đôi lông mày bạc như cước, nét mặt căng thẳng tỏ vẻ hết sức quan tâm:


- Theo ý thầy thì nên làm thế nào?


Nghe giọng nói ông Nguyễn, Tú Chiểu biết ông hiện đang hết sức đau khổ vì Tú Chiểu đã chọc đúng vào vết thương trong lòng ông. Muốn ông Nguyễn tâm thần đỡ bị chấn động, Tú Chiểu không vội nói ngay cốt cho cơn nóng nảy của ông qua đi đã. Giây lát đợi ông bình tĩnh trở lại, Tú Chiểu mới nói, giọng điềm đạm như một thầy thuốc chẩn bệnh:


- Muốn đưa được thuốc vào phải biết cách dẫn kinh, chớ nếu uống đủ các vị hàn nhiệt vào một lúc sẽ công phạt lẫn nhau rồi mắc chứng trệ, hay ứ huyết, rối loạn kinh mạch. Cũng như ở đây phải biết chia quân đi đóng các nơi hiểm yếu, nằm trên các đường trục giao thông để có thể cứu ứng lẫn nhau. Cứ ý ngu của tiểu sinh thì Trương Lãnh binh nên lui về giữ đất Gò Công, Nguyễn Quản cơ nên về giữ đất Rạch Giá, còn Cần Giuộc thì tôi sẽ nói với Đốc binh Là mang quân về đóng chốt. Ngoài ra như các nơi Đồng Tháp, Mỹ Tho cũng nên chia người đóng giữ. Còn tướng công là linh hồn của cuộc chiến đấu, nên tĩnh trấn một nơi để dóng dả mọi người, cũng như là vị thuốc chủ để bổ hư ích khí([11]) vậy.


Nghe xong lời Tú Chiểu, Định và Lịch đều gật gù khen phải. Phan Tôn gặng hỏi:


-            Sao từ nãy tới giờ tôn sư không nhắc tới bọn tiểu đồ, hay tôn sư cho rằng…


(còn tiếp)


Nguồn: Đuốc lá dừa. Tiểu thuyết. Rút từ bộ Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info







[1] Hai chữ sơn là chữ xuất. Tửu nhập ngôn xuất là rượu vào lời ra.




[2] Quân tử nhân thời cơ mà hành động.




[3] Bốn bể đều là anh em.




[4] Hương xa.




[5] Những chiến lũy nổi tiếng trên thế giới.




[6] Pháp phiên âm chữ Chí HòaK’i HOA, do đó các nhà viết sử trước đây lầm là Kỳ Hòa




[7] “Giữ yên lặng” và “tránh ra”




[8] Xử chém nhưng còn tạm giam lại




[9] Bệnh đau lâu khó chữa.




[10] Lưới trời, lưới đất.




[11] Bồi bổ chổ yếu, có lơị cho khí huyết.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 28.03.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 26.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 09.03.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 09.03.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.03.2017
xem thêm »