tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20193243
Những bài báo
25.03.2013
Nhiều tác giả
Vài ý kiến về tiểu thuyết Gần như là sống và tác giả Đỗ Phấn

Gần như là sống – Đỗ Phấn và văn chương phân lập


Nico (từ Paris)


Về Đỗ Phấn, mở ra hai mảng đề tài cần khai thác: Hội họa Đỗ Phấn và Văn chương Đỗ Phấn. Mảng thứ nhất, nên dành các nhà lý luận phê bình Mỹ thuật. Tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật, nhiều năm đứng trên giảng đường giảng dạy Mỹ thuật, ông đã thành danh trong hội họa mấy mươi năm trước, trước khi đến với văn chương. Nhiều người lấy hội họa Đỗ Phấn tham chiếu, làm nền, làm đòn bẩy khi nghiên cứu văn chương Đỗ Phấn. Với chúng tôi, đó là một thiệt thòi cho ông. Người đọc thường có hai xu hướng: Hoặc khe khắt đòi hỏi ông phải khẳng định ngay vị thế trong văn chương ngang tầm như với hội họa, hoặc chỉ nhìn nhận như một thú vui nhàn tản của họa sĩ chen vào văn chương, xem nhẹ lao động văn chương mà ông đang say mê dấn thân thăng hoa tới ngưỡng. Chúng tôi nghĩ cần phải có cái nhìn công bằng với ông hơn. Hãy thử quên hẳn «họa sĩ Đỗ Phấn» để viết về Văn chương Đỗ Phấn.


 


«Gần như là sống1», cuốn sách mới nhất là tiểu thuyết thứ tư của ông  xuất bản đầu năm 2013 sau «Vắng mặt (2010), «Rừng người » (2011), «Chảy qua bóng tối» (2012). Mười chương, dưới hình thức trần thuật tự sự ở ngôi thứ nhất của nhân vật chính tên Thành, một viên chức độc thân diễn tả tâm lý trên không gian ba chiều: Bản năng, tư duy và trí tuệ của con người. Bản năng hay thói quen sinh hoạt ăn uống và tình dục được kể lại qua hình ảnh các nhân vật và những mối quan hệ của - Tôi với nhiều người đàn bà ở các tầng lớp xã hội khác nhau. Tư duy tôn trọng bản năng là tự nhiên, không định kiến, không phán xét và áp đặt đạo đức các hành vi giữ cho chủ thể đứng ở vị trí khách quan. Trí tuệ chính là bản lĩnh của nhân vật được nhân giống từ kiến thức, những trải nghiệm trong tình cảm và công việc không thuận lợi, kèm thêm niềm ham mê vừa phải với nghệ thuật giúp cho nhân vật giữ được năng lượng tồn tại cùng đồng loại giữa những biến náo và tha hóa của xã hội đương đại.


 


Tại sao phải làm một cái việc rắc rối là mổ xẻ tác phẩm trong khi bản thân tác giả muốn ghi nhận chuyển tải cuộc sống qua cách nhìn tự nhiên, chân thực và giản dị nhất? Tuy cốt truyện «Gần như là sống» không phức tạp, tình tiết nhẹ nhàng, văn bản dễ đọc và cuốn hút nhờ duyên dẫn truyện sinh động cùng lối so sánh sắc sảo biếm - hài nhưng ý tưởng đã ngân âm vượt ngoài tầm tác phẩm. Cuốn sách trao cho ta chính cái mà nó đang ẩn giấu. Nó đòi người đọc vận động, phải kiên nhẫn lang thang ngoặt nghẹo trong vô số những câu chuyện, sự việc li ti diễn tiến của đời sống thường ngày để nắm bắt được cái gọi là nỗi ám ảnh. Nó xoay quanh nhiều khái niệm trong văn chương phân lập (l’écriture fragmentaire) của dòng văn học hậu hiện đại (la littérature postmoderne) mà ông không chủ ý hướng tới: Tính trung dung; sự hiện diện và ẩn mặt; tính bình yên và bất ổn. Những mảng vụn ẩn hiện ngổn ngang làm nên thần cốt của truyện.


 


Nhân vật của Đỗ Phấn luôn bị bản năng và ý thức co kéo bên dưới thẩm thấu đời sống để lựa những điều có thể tương thích mang lại cảm giác yên ổn nhất thời. Ông phơi bày sự  ê chề của cái tôi đời sống nhưng không khiêu khích chống lại nó mà là đánh thức mỗi cá nhân thay đổi và điều chỉnh hành vi sống bằng giọng điệu đôi khi bất lực và ngán ngẩm...


 


Nhân vật của ông sợ ồn náo xung quanh nhưng lại cần nó như một liệu pháp để cân bằng với những bước sóng âm thanh bên trong tâm hồn đang chực phá vỡ lớp vỏ bọc da thịt trần trụi...


 


Những hình ảnh đầu tiên của tiểu thuyết xoay vào cảnh quán rượu nơi biển vắng. Chuyến đi của những người gốc hoặc định cư tại thành phố nhưng uể  oải với cuộc sống nhàm chán trong thành phố, muốn thoát ra khỏi những «chiếc hộp xinh xắn»,  khao khát sự đổi thay nhất thời bằng chuyến du ngoạn về vùng hoang dã. Những gì Tôi thấy thì những người bạn đồng hành: Trọng – Yến, chàng doanh nhân đương đại tên Phi và chúng ta đều thấy trên diện phẳng; nhưng khi đã hiện diện trước cặp mắt sành sỏi của anh ta vụt ánh xạ một thứ ánh sáng khác lên ý nghĩ rồi lang thang tới tận cùng ngõ hẻm của các chi tiết sự vật lổn nhổn dắt díu tới liên tưởng và chiêm nghiệm. Kể và chiêm nghiệm đan xen. Từ quán ăn ven biển đến nhà hàng sang trong thị trấn, từ quán trọ nát tới căn phòng khách sạn, khuôn vẻ hấp dẫn của người bạn gái thăng hoa hưng phấn đưa họ tới với những cô gái làng chơi gặp ở ngoài cổng chùa. Cảnh làm tình kết thúc chương I sau này sẽ được nhấn nhá lặp lại nhiều lần, cụ thể và luôn qua đôi mắt tỉnh táo tới thản nhiên cho tới hết cuốn tiểu thuyết.


 


Thủng thỉnh, Thành đưa người đọc trở lại thành phố, bộc lộ từ từ như trang nhật ký  đoạn đời riêng của anh ta thời hiện tại - thời không bấn loạn. Bối cánh xã hội được đề cập giới hạn trong phạm vi của đô thị đang đà phát triển, xa với cảnh áo cơm, xen lẫn một vài hồi tưởng không cảm xúc về quá khứ. Tối tăm không nằm trong phạm vi chật chội, nghèo đói mà ở tốc độ đổi thay ngột ngạt được diễn đạt sắc gọn qua hình ảnh: «Chiếc xe phóng nhanh như bão. Hình như nó chạy theo tốc độ cạnh tranh của nền kinh tế thị trường. Vừa lành mạnh, vừa gian lận. Lành mạnh ở chỗ chạy đúng tuyến, đúng giờ, đủ khách khi xuất bến. Gian lận ở chỗ nhồi thêm khách bắt dọc đường và phóng nhanh vượt ẩu. Con đường không tiến kịp với tốc độ chạy xe. Cả những người đi trên đường cũng vậy. Đành bỏ lại giữa hành trình những hành khách kém may mắn… » (P.13). Giữa bối cảnh đơn chiều, mâu thuẫn trong tiểu thuyết không phải là những mâu thuẫn lớn lao của cũ và mới, của giai cấp hay dân tộc, mà đa phần phát sinh từ những quan hệ tình cảm cá nhân. Nhân vật Thành, một trí thức, có khả năng duy trì một cuộc sống tạm ổn,  không chịu chi phối của môi trường bởi anh ta tường tận thấu đáo hai mặt của nó nên chấp nhận và bình thản đối diện theo cách của mình. Trong các tác phẩm văn học, thông thường người ta đổ lỗi cho hoàn cảnh xã hội tác động lên con người nhân vật, nhưng ở tiểu thuyết của Đỗ Phấn, chính nhân vật là nhân tố tác động lên sự hình thành một cách thức tồn tại mới của xã hội hiện tại cho dù nó không tiêu biểu cho hình thức nhân vật chính diện hay phản diện nào.


 


I/ Tính trung dung:


Sự hình thành khái niệm tính trung dung trong tiểu thuyết thể hiện trước hết ở phương thức xử lý mâu thuẫn đối với nhân vật chính trên một cốt truyện hầu như không có và hoàn toàn vắng bóng các tình tiết ly kỳ. Anh ta không là khuôn thước của cái đẹp và nhân cách cao thượng sáng ngời đáng ngợi ca cho thời đại để văn chương tải thêm sức hướng thiện. Anh ta càng hoàn toàn không gồng lưng vác vô vàn thói xấu xa, bệnh hoạn, thủ đoạn của tuyến nhân vật phản diện nên cũng khó có thể choàng lên cho tiểu thuyết cái áo giá trị giáo dục. Trung dung nhưng được chọn làm nhân vật chính của tác phẩm, hội tụ đầy cá tính và mâu thuẫn, anh  góp mình vào cái số đông trí thức của đô thị nơi mà «Giống nhau ở chỗ như tất cả những dân phố cũ chuyện tốt nghiệp một đại học nào đó với chúng tôi chẳng phải là việc khó khăn!» (P.43). Thành, nhân vật trong tác phẩm của Đỗ Phấn xa lạ với chủ nghĩa văn học giáo điều. Anh ta là mẫu số chung trần trụi và chân thực của hiện tại.


 


Con người ấy, cũng là người tử tế và  sẽ không bao giờ mất đi sự tử tế. Thấp thoáng chút thương xót nào đó khi anh ta dừng mắt trên  đàn chó gầy trơ xương, lũ trẻ nghèo không đủ quần mặc, sự chia sẻ nào đó trước hình ảnh chiếc điếu cày bịt vòng nhôm gợi đến nhà tù, những chục nghìn gửi mua quần áo cho con chủ quán trọ, hay ý thức về sự «điên rồ», «khiếm nhã», hay tự nhận là «đốn mạt» khi để những ham muốn mơ hồ với Yến, người yêu của bạn, trôi trượt trong đầu.


 


Tính trung dung thể hiện quanh việc diễn tả mối quan hệ tình cảm với Khánh Ly, một đồng nghiệp được coi là đậm nét nhất trong nhiều mối quan hệ khác sau này. Ánh nhìn  châm biếm về công việc cơ quan cũng như đồng nghiệp nơi anh ta đóng vai trò một kỹ sư, làm cái việc có cũng được, không cũng không sao giống như những đồng nghiệp khác. Khánh Ly xinh đẹp xuất hiện, chuyến đi dã ngoạn nhạt phèo cùng cơ quan là điểm khởi đầu cho của một cuộc tình.  Chương II - III và IV, không vội vã, nhân vật nhấm nháp từng sự kiện có thể gọi là lớn trong tác phẩm: Chuyện cặp kè của Khánh Ly với trưởng phòng, vụ đánh ghen và chia tay tất yếu phải xảy ra. Cảm xúc của nhân vật chợt òa bột phát khi mối quan hệ đã bị phá hủy ở lời tự thú: «Chỉ một hình ảnh duy nhất tôi muốn nó nhòa đi nhưng không thể được. Khánh Ly!»(P.217)


 


Tính trung dung được nhấn nhá qua chi tiết nhân vật quan sát tỉ mỉ tới lạnh lùngchiếc áo nịt của người yêu vào lúc cô đang bị tấn công khi người ta chờ đợi ở anh ta một hành động khác. Nhân vật bộc lộ nhu cầu vượt qua nỗi thất vọng nặng nề bằng cách làm mình thành xa lạ với xung quanh.


 


Tính trung dung sắc nét qua cách che giấu cảm giác tê tái tuyệt vọng trước một tan vỡ, được lặp lại dồn dập qua những ngồi và nhìn: «Tôi ngồi trong quán nhìn ra mặt đường nhộn nhịp» (p212). «Hư vô tôi nhìn ra phố» (p.213) «Tôi ngồi yên lặng nghe tiếng con chích chòe đến hót chuyện lép nhép lan man như tiếng dế» (p.216). Rồi lại: Tôi ngồi chăm chú ngắm nhìn dáng tần tảo khiêm nhường con chum cu gáy… (p.216)


 


Câm lặng. Bất lực. Ngồi và nhìn hoặc thủ dâm. Và làm tình với bất cứ ai khi có cơ hội. Nhạy như màn hình cảm ứng điện tử iPhone thời hiện đại. Trong suốt tác phẩm, trước mỗi cuộc ra đi hay biến mất: Sự cố tai nạn của người bạn nhỏ thân thiết là Phi, việc ra đi của Khánh Ly, sự biến mất của Yến với đứa con tương lai của hai người…những hành vi tính dục lặp lại, khủng khỉnh và tỉ mỉ, như nhu cầu ăn uống, như trò xem tivi bắt cá nhàm nhạt để đưa vào cơn ngủ dễ dàng…


 


Tính dục trong tác phẩm là chuỗi mắt xích buộc ta phải theo đuổi, nó không có sự bắt  đầu và không hồi kết. Nó trơ mòn nhưng dai dẳng và có thể kéo dài thêm cả vài trăm trang nữa. Tính dục ở đây thể hiện sự  bất lực hay tuyệt vọng nhưng còn chứa chan tiếc nuối cuộc sống nơi con người hiệu hữu. Nhân vật cố làm mất mình trong một cơ thể sinh học khác. Hai cơ thể ẩn náu trong nhau, không phải là hành vi yêu đương lãng mạn nhưng cũng không mang tính khiêu dâm hay bạo lực. Nó xoa dịu và lấp đi một trống rỗng tinh thần. Điều cần nói hình như vẫn chưa nói, điều chưa nói sẽ không nói nữa. Tính trung dung có hiệu ứng làm xóa mờ nhân vật tới mức phải biến mất. Đó là cái cách «Tôi cất mình vào nhàu nhĩ phố phường»2


 


Biểu đạt này đúng hay sai,đáng khen hay chê? Đi hết cuốn tiểu thuyết để thấy cách nhìn Đỗ Phấn: Chối bỏ mọi phán xét về giá trị. «Những nghệ sĩ chân chính không rẻ rúng bất cứ điều gì, họ tự buộc mình phải ngộ hơn là phán xét…3»


 


II/ Sự hiện diện và ẩn mặt


Ngẫm nghĩ về tên tác phẩm «Gần như  là sống», truy xét hai chữ «gần như», chúng tôi thử tra trên từ điển đồng nghĩa, gần nghĩa của từ «Sống» bằng tiếng Pháp, thì nhận được một số kết quả: Tồn tại, cư ngụ, hưởng thụ, tồn vong, ăn ở…


 


Chúng tôi muốn dùng đến khái niệm «hiện diện» ở đây vì nó gần với cả hai nghĩa đời sống và triết học đề cập trong tác phẩm, chứng minh trạng thái phân lập của hiện hữu, mở ra nhiều điểm đặc trưng của khuynh hướng văn chương phân lập mà các nhà văn tiêu biểu được kể đếntrên thế giới là Maurice Blanchot (Pháp), Tony Morrison(Mỹ), Jean Sénac (Algérie), Jerzy Nikodem Kosinski (Ba-lan)…


 


Thuật ngữ phân lập, tiếng la-tinh (fragmentum) được định nghĩa là“mảnh của một vật bị vỡ vụn, như phần còn lại của cuốn sách, của một bài thơ bị mất đi” (Littré)4.  Một vài đặc trưng nổi bật của văn chương phân lập là phá bỏ quy chuẩn của cấu trúc như luật phát triển và tháo gỡ cao trào,không chú trọng xây dựng nhân vật mà làm mờ nhân vật, phân tán các chi tiết rời rạc thành nhiều mẩu mảnh trong thế giới ngẫu nhiên, côi góa đối thoại, hạn chế bộc lộ cảm xúc chủ quan…Không còn bị giới hạn về kỹ năng và nguyên tắc, nhà văn tự do phát triển khả năng tư duy tìm kiếm cái tôi giữa hỗn mang cuộc sống. Hiệu quả mà văn chương phân lập mang đến cho tác phẩm và nhân vật được Maurice Blanchot5 gói lại trong một câu mà chúng tôi thấy vô cùng đầy đủ vàsinh động: Lấp lóa một cô đơn, trống rỗngcả bầu trời, thoi thóp: ôi, thảm họa! (L’écriture du désastre – P.219)


 


Trở lại với “Gần như là sống” của Đỗ Phấn, để phác họa được chân dung nhân vật hiện diện trong tiểu thuyết, người đọc phải làm công việc liên kết nhiều mảng chi tiết hỗn mang ngẫu nhiên ấy, chắt lọc lại bằng những nhát xén sao cho nhân vật từ một kẻ xa lạ trở thành quen thuộc. Dù ông không quan tâm đến phương thức xây dựng chân dung nhân vật nhưng chịu cóp nhặt một số chi tiết, ta vẫn có vài thông tin diện mạo cụ thể của nhân vật Thành qua lời kể về người vợ cũ: Anh ta mang “Những nét quyến rũ đàn ông”, một thân thể cường tráng và nước da rám nắng rất phong trần. (P.8); có “bộ răng di chỉ thời tem phiếu”…(P.247).Từng có ý muốn nhận diện mình, ít nhất trong gương, nhưng anh ta lại phủ nhận nó: «Tôi kinh hãi trả lại chiếc gương về chỗ cũ. Phải mất vài tháng sau mới có thể quên đi được bộ mặt phì nộn biến dạng của mình. Từ đó ở bất cứ đâu khi nhìn thấy gương tôi đều cố ý tránh xa...Tôi không bao giờ để ý đến nó. Hay chính là không bao giờ để ý đến mình. (P.289). Xa lạ với bản diện hay chính con người mình, phủ nhận, trốn tránh và tìm cách quên đi, tâm lý của nhân vật đặt ra một dấu hỏi, ám ảnh sự tìm kiếm.


 


Và môi trường nơi anh ta hiện diện tồn tại những sinh thể lụy thêm vài thói quen kiểu trà lâu tửu quán của một xã hội trí thức chẳng mấy gì thú vị được diễn tả gián tiếp qua lời thoại: «Mối quan hệ nhằng nhịt thành phố rất hiếm khi có thể gọi là tình bạn. Tôi không thể thân thiết với những ông nhàn tản suốt ngày ngồi nhà bật máy nghe nhạc giao hưởng để phân biệt cách chơi của những giàn nhạc nổi tiếng thế giới. Đơn giản chỉ vì tôi không có hai thứ tối thiểu. Thời gian và máy móc hiện đại.Lại cũng không thể rượu chè hàng quán liên miên cũng vì thiếu hai thứ là sức khỏe và tiền bạc. Không đàm đạo văn chương nghệ thuật với mọi người vì những gì mình biết thì họ cũng đều biết cả… ». Xã hội được phơi bày lập tức bị phủ nhận, đẩy lùi và bỏ lửng. Vô hại nhưng trống rỗng. Tôi xa lánh, rời bỏ cái nơi chỉ bật tín hiệu hiện diện mà vô nghĩa với anh ta. Bật trong tâm thức người đọc câu hỏi: Tôi cầngì, tôi khao khát cái gì?


 


Các nhân vật liên quan tới cuộc sống của Thànhkhông có nhân dạng cụ thể rõ rệt mà mang một vài đặc tính gợi cho người đọc những tưởng tượng về tính cách. Đỗ Phấn không tả nhân vật mà dùng biện pháp sáp gần với một hình ảnh khác, có thể gọi là phép so sánh. Đây là phong cách nổi bật của ông thể hiện thành công và sinh động trong suốt bốn cuốn tiểu thuyết và nhiều tập tản văn khác làm nên sức duyên dáng hấp dẫn trong văn ông. Người đọc không trực tiếp khám phá nhân vật mà phải thông qua hình ảnh thứ hai, mập mờ và kém tin tưởng hơn, nhưng có tác dụng hơn. Cách thức này làm biến mất tiết diện thứ nhất là đối tượngtrực tiếp mà ta chưa kịp thấy vì không phải là cái mà tác giả có chủ ý diễn tả, phơi bày ngay một lớp khác, hàm chứa sự phủ nhận. Nửa đùa nửa thật, mỉa mai, tinh quái: đàn ông mà ông không ưa lướt qua bàn phím ông thì “Nét mặt bẳn gắt táo bón,có gương mặt lâu ngày gặp rất nhiều khó khăn trong việc đại tiện.”(nhân vật Khôi trưởng phòng – P.64), phụ nữ ông không yêu đều“da mặt trông như sắp sửa xông lên chiếm lĩnh sân khấu nước nhà” (P.64), hoặc: “Thân hình lùn tịt béo lẳn…Chiếc bụng núng nính hằn lên từng múi như những khoang chứa trên tấm đệm nước. Nụ cười toen hoẻn…(Huyền vợ Khôi - P.83). Các nhân vật khác: Hương vợ cũ, Trọng, Phong, Khải hay Chi, Quyên không mang xung đột tâm lý sâu sắc nên dần mờ nhạt trong tác phẩm. Xung quanh Thành còn tồn lại những hình thù quái quỷ kiểu như thế múa may nhảy nhót và những hiện diện nhạt nhòa.


 


Nhân vật Phi xuất hiện mang lại không khí hứng khởi cho tác phẩm. Một doanh nhân trẻ năng động, tử tế, tràn đầy sức sống, nuôi dưỡng mơ ước trí tuệ là nắm bắt nghệ thuật đích thực bỗng bị tai nạn,không còn khả năng tự sinh tồn. Anh bị biến dạngđột ngột,«như một em bé sơ sinh không có dấu hiệu trưởng thành»! Người đọc buộc phải chấp nhận sự phũ phàng của thực tế, phải tập quên, đối diện với chặng đường trước mắt không còn bóng dáng hiện hữu của người vừa khơi nên thiện cảm, gần gũi và đành bằng lòng với một hiện diện mới.


 


Các nhân vật của "Gần như là sống" hiện diện rồi ẩn mặt trong những biến thể  của đời sống. Họ vẫn tồn tại dưới dạng cảm xúc lát cắt, mảnh vỡ nhưng không đáp ứng được  ý nghĩa đích thực của một gương mặt đủ  đầy. Họ bỏ mặc cho Thành một vũ trụ trống hoang lơ lửng những ám ảnh về ý nghĩa hay giá trị sống của con người. Anh ta đi tìm bản thân giữa ảo ngộ mờ nhạt ký ức, níu vào bản năng tẻ nhạt, lộn xộn như chuyển động Brown giữa trường con người...


 


III/ Ý nghĩa tư tưởng  qua phương thức bộc lộ trong «Gần như là sống»


Lướt qua hành trình tiểu thuyết của ông, ta nhận thấy ngay từ cuốn đầu tiên, tiểu thuyết «Vắng mặt» đã mang những nét đặc trưng của văn chương phân lập.Từ đó đến nay, bốn cuốn tiểu thuyết ra đời, ông chưa hề phản bội chiến lược văn chương của mình. Ta cảm thấy ông diễn đạt thoải mái theo mạch cảm xúc và tư duy mà không bị ràng buộc bởi một hình thức nguyên mẫu nào. Có thể tâm thế thời cuộc đã đưa tác giả đến với văn chương phân lập chứ bản thân tác giả không dụng ý sử dụng văn chương phân lập.


 


Người ta nói Văn chương là cuộc sống. Nhưng với Đỗ Phấn, câu nói mang sắc thái ngược lại:cuộc sống là văn chương. Làm thế nào mà một cuốn tiểu thuyết, chỉ có một người đàn ông, từ trang này sang trang khác, chỉ mô tả những gì anh ta làm, anh ta thấy, anh ta tưởng tượng, có thể cuốn người đọc đến trang cuối cùng, và gấp sách chưa phải là hết, còn trằn trọc bao dấu hỏi, bao giả định và cảm xúc miên man khác về văn chương, về cuộc đời, về cái cách tồn tại trên đời.


 


"Gần như là sống" là cuốn tiểu thuyết thành công nhất của Đỗ Phấn và văn học Việt Nam đương đại về lớp trí thức xuất thân ở đô thị gạo cội. Tiểu thuyết của ông trung thành với đời sống đô thị, bối cảnh nơi ông sinh ra và lớn lên cùng với bể dâu đất nước.


 


Phải là người yêu Hà Nội thiết tha mới trăn trở nhiều đến thế. Như người lẩn thẩn nâng niu những mảnh vụn của hoài niệm và thời gian, nhấc lên đặt xuống, trau chuốt trong tản văn, chắt chiu vào tiểu thuyết.Giữa nhịp sống quay cuồng đô thị, ông đau. Đau cho tâm thế bất lực và trực cảm vô nghĩa. Đau cái cách bị ai đó cấu xé đi hoài niệm mỗi ngày.


 


Ý nghĩa của cuộc đời, niềm vui nỗi buồn nhân vật của ông gắn với thành phố. Giữa ổn định, là hoài nghi: “Cái yên tĩnh tuyệt đối đã làm tôi bối rối về một không gian không có thực!” (P.275)


 


Ta thấy như chính ông đang hốt hoảng hoang mang giữa: Thành phố không mùi(p326); Thành phố toàn một màu rêu thời trang làm cho con mắt nhiều lúc cảm thấy không màu.(p328); Buổi sáng không màu.(P328).Ông sợ âm thanh, hương vị màu sắc của thành phố bỏ ông đi.


 


Chua chát, khi khứu giác thị dân khôi phục lại cảm nhận được mùi cống nồng nặc của “con sông Tô Lịch ở cửa ô cạn dòng đặc sánh”( P.329).


 


Và mê sảng giữa ban ngày:“Mở tủ lấy quần áo ra mặc, tôi vẫn nhìn thấy mấy viên băng phiến mòn nằm lăn lóc ở đấy nhưng tuyệt nhiên không ngửi thấy mùi gì. Quá sức kinh hoàng. Tôi đã trở thành một rỗng không trọn vẹn. (P.324).


 


Hình thức trần thuật tự sự trong “Gần như là sống” đối với văn chương phân lập là cách diễn đạt thuyết phục và khôn ngoan nhất: Nó phù hợp với tiêu chí hiện thực và tính xác thực của đời sống. Nó mang tính thỏa hiệp cho sự hiện diện song hành thường trực của tác giả và người kể chuyện.Tác giả vừa có thể tránh được sự soi mói tò mò từ phía độc giả hẹp hòi định kiến vừa có thể qua nhân vật mặc nhiên bộc lộ mình. Hơn thế, người kể la cà trong dòng suy nghĩ của anh ta mà không cần phải tuân theo trật tự và cũng có thể bỏ lửng những chuyện đang kể không cần bận tâm cho hồi kết. Anh ta còn độc thoại nội tâm là còn hiện diện, còn ý thức, còn cật vấn…cho dù thế giới xung quanh, các nhân vật Khánh Ly, Phi và Yến…cùng mọi mối quan hệ xã hội đang dần vỡ vụn, mờ nhạt và biến mất. Nhưng, dù anh ta hoạt động không ngừng, di chuyển, làm tình hay kể lể liên miên những quan sát rời rạc thì đeo đuổi độc giả vẫn là nhân vật đang kể, nhỏ nhoi, cô đơn làm sao với vẻ thản nhiên che giấu sự bất lực không muốn bật thành lời. Nhói lòng người đọc cảm giác đắng chát, nỗi đau thầm lặng dai dẳng hơn phải chứng kiến bất cứ một gào thét ẩm ướt nào.


 


Hầu hết trong các tiểu thuyết của Đỗ Phấn  đều vắng đối thoại hay nói đúng hơn những mẩu  đối thoại hiếm hoi đều được biên tập lại thông qua lời kể của nhân vật dẫn truyện. Đối thoại giúp cho nhân vật trao đổi và cùng tác giả phát triển tiếp vấn đề, khiến cho không gian xôn xao âm thanh giao tiếp của cuộc sống. Cắt đi đối thoại là ngầm báo cho người đọc đối tượng vắng mặt vào lúc anh ta đang kể hoặc có thể hiểu anh  ta đang trò chuyện trong tưởng tượng. Trong «Gần như là sống», qua bản tính đa nghi của nhân vật Thành, chúng tôi nghĩ có thể tác giả muốn khẳng định  sự hoài nghi về tính chân thực của những thông tin sẽ nhận được từ ngôn ngữ đối thoại hoặc là sự vô nghĩa - vô tác dụng nào đó của đối thoại. Sự côi góa đối thoại trong suốt tác phẩm cũng gieo vào lòng người đọc cảm giác Thành luôn một mình đeo đuổi những ý nghĩ của riêng anh ta và thường rơi vào trạng thái hụt hẫng cô đơn. Hủy bỏ giá trị của đối thoại, đơn phương rong ruổi trên hành trình chất chứa đầy những phủ nhận, tiểu thuyết thứ tư này của ông khẳng định khả năng khai thác tâm lý nhân vật đạt đến độ điêu luyện, chứng tỏ vốn hiểu biết thấu đáo và tinh tế con người xã hội trên nhiều phương diện khác nhau.


 


* **


Khai thác thành công sự giằng xé giữa bản năng, tư duy và trí tuệ con người, “Gần như là sống” dựng một không gian tâm lý ba chiều mở ra giả định triết học cho tác phẩm.


 


Bản năng đòi hỏi một tư duy mới, tư duy này phải chấp nhận những mổ xẻ của trí tuệ, chấp nhận câu hỏi ý nghĩa về nó để con người có thể sống theo ý nghĩa đích thực.


 


Thế giới mới còn lẩn khuất và thế giới cũ đã biến mất.Con người tin chỉ có thể hạnh phúc khi vắng mặt hai thế giới này. Chúng ta sống trong thời đại của sự bắt đầu không hồi kết, đó là mê cung thư viện Babel6 được viết bởi nhà văn mù, có con chó Argos tiết lộ nó vừa là Ulysse, Homère, Joyce và Borges. Ta có thể đi đi bất tận từ cuộc đời này sang cuộc đời khác sẽ vẫn chỉ tìm được chính những cuốn sách cũ được xếp đặt trong một trật tự mới. Nhưng niềm tin của ta sẽ giảm đi mọi cô đơn tuyệt vọng nhất thời…


 


Thành đang ở đâu, anh ta không biết, anh ta sẽ không bao giờ biết. Bạn đang ở đâu, tôi đang ở đâu, chúng ta phải tiếp tục đi! Tôi không thể, nhưng tôi sẽ lại đi… Có lẽ Đi là Sống.


 


Niko


______


1 Gần như là sống. Tiểu thuyết của Đỗ Phấn – Nhà xuất bản Trẻ, 2013.


2 Lời đề từ.


3 Albert Camus – Trích lời bài phát biểu tại Thụy Điển, lễ nhận giải thưởng Nobel văn học.


4 http://littre.reverso.net/dictionnaire-francais/definition/fragment/32647.


5 Maurice Blanchot (1907 – 2003) : Tiểu thuyết gia, triết gia và cũng là nhà phê bình văn học Pháp.


6 La Bibliothèque de Babel - Jorge Luis Borges (1899 – 1986).


 


 


Đỗ Phấn - cất mình vào nhàu nhĩ phố phường


“Tôi trót mang tình đầu "tay ba" với văn chương và hội họa. Nhưng hội họa chọn tôi trước. Đã yên lòng với hội họa. Bây giờ đến lượt văn chương chọn hành tôi”, đó là lời tự sự của họa sĩ/ nhà văn Đỗ Phấn, ở tay gấp bìa tiểu thuyết Gần như là sống, NXB Trẻ 2013. Trước khi bước chân vào làng văn chương Việt Nam với tiểu thuyết đầu tay Vắng mặt, và liên tiếp sau đó là hai tiểu thuyết Chảy qua bóng tối, Rừng người, Đỗ Phấn là người bạn thân thiết của nhiều văn sỹ.


 


Một đời vẽ


Hễ ai ra sách, việc đầu tiên là chọn người thiết kế bìa, và Đỗ Phấn luôn được bạn bè gửi gắm tin cậy.


Thuở trước, khi bìa còn vẽ tay, Đỗ Phấn thiết kế cho hầu hết các nhà văn, nhà thơ. Ông cho rằng, mình là họa sỹ gần như duy nhất “vẽ minh họa mà đọc truyện”. Có lần, họa sĩ Thành Chương đưa cho ông tập bản thảo Tướng về hưu của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp để vẽ minh họa, bản thảo bị chó gặm một nửa, Đỗ Phấn đọc hết phần còn lại, xong mới bắt tay vào làm.


 


Dăm lần gặp Đỗ Phấn ở quán bia. Có thời gian, thấy cặp kè với nhà văn Nguyễn Việt Hà và nhà thơ Nguyễn Chí Hoan. Trời nóng, thấy ông áo quần chỉn chu, thêm tóc bạc râu dài, nom càng nóng.


 


Đỗ Phấn uống nhiều mà nói ít, trông chất mặt cứ hiền hiền, chẳng bỗ bã ầm ào như Nguyễn Việt Hà, cũng không cười mủm mỉm kiểu Nguyễn Chí Hoan, được cái tranh trả tiền thì nhanh. Xong, đút tay thủng thẳng vào túi quần mà đi, chưa được thấy dáng ngật ngưỡng tựa chất nhà văn Bảo Ninh khi say.


 


Đỗ Phấn được học hành đào tạo bài bản về mỹ thuật trong trường Yết Kiêu, đã triển lãm trên dưới 30 cuộc. Tranh ông vẽ đủ đề tài, từ chiến tranh, đến chất độc màu da cam, phụ nữ trẻ con đến phong cảnh.


 


Trong một triển lãm nhóm tại Trung tâm nghệ thuật Việt, 42 Yết Kiêu, tình cờ tôi được ngắm tranh lụa của Đỗ Phấn. Ba bức nằm trong bộ tranh được sáng tác từ xưa xa. Đỗ Phấn vẽ Hà Nội mơ màng đẹp nuột nà. Màu giản đơn mà hài hòa. Ban công, hoa đêm, phố lắng sâu hun hút. Mỗi bức tranh thể hiện rõ ràng một tâm hồn nhạy cảm, một cái đầu tinh khiết và bàn tay tài hoa.


 


Bất ngờ 2 năm 4 tiểu thuyết


Đỗ Phấn chia sẻ, ông cầm bút viết văn trước khi vẽ. Nguyên do bởi từ nhỏ đã sống trong sách. Ông nội từng lều chõng đi thi cùng cụ Ngô Tất Tố. Bố của ông, từng là Tổng biên tập NXB Thanh Niên từ năm 1959 đến 1964.


Đỗ Phấn viết văn, chỉ dành riêng mình, không nghĩ chuyện chia sẻ bạn hữu hay in ấn. Đến năm 2005, Đỗ Phấn quyết tâm dồn sức vào văn chương. Cùng một lúc, ông viết 6 đến 7 cuốn tiểu thuyết.


 


Một ngày đẹp trời, năm 2010, nhân dịp Công ty sách Bách Việt tổ chức cuộc thi tiểu thuyết, tôi cầm trên tay bản thảo tiểu thuyếtVắng mặtđã hoàn chỉnh của Đỗ Phấn, đây cũng là cuốn viết xong đầu tiên. Tò mò bởi lời giới thiệu của Cao Việt Dũng, “được phết đấy, đọc đi”, tôi lật lật mấy trang. Cảm nhận chất văn không hợp với mình, nhưng vẫn đọc, đủ cảm thấy Đỗ Phấn viết văn không phải để vui. Với nhiều nhiệt tâm, Đỗ Phấn dồn hết tình thương loài người vào ngữ nghĩa.


 


Nhưng dù sao, tôi vẫn thích tranh của Đỗ Phấn hơn tiểu thuyết ông viết. Vì tranh trong lành bao nhiêu, tiểu thuyết lại u ám trái ngược bấy nhiêu. Nhìn tranh thêm yêu cuộc sống, đọc tiểu thuyết thì thấy chán đời. Đỗ Phấn cứ như là hai con người, khi phân chia phần hội họa, phần văn chương.


 


 


Thế giới không màu, tình người mờ mỏng


Tiểu thuyết Gần như là sống, Đỗ Phấn viết kết thúc vào tháng 3/2011, chữa lại vào tháng 8/2012, NXB Trẻ in, phát hành vào tháng 2/2013. Một nỗ lực lớn khi trong 2 năm cho ra mắt đến 4 tiểu thuyết.


Về những trang văn của Đỗ Phấn, nhà báo Đỗ Quang Hạnh, một BTV rất cởi mở với những sáng tạo cá nhân, kể cả cái sáng tạo ấy "khùng khoằm" và không dành cho số đông độc giả, viết: “Cái thế giới màu sắc trong văn của Đỗ Phấn như không màu, hoặc chỉ một thứ màu bàng bạc xam xám và nặng trĩu”.


 


Đến Gần như là sống, vẫn tiếp tục thế giới không màu ấy, thêm cả thế giới không nụ cười, thiếu nồng ấm tình thân. Con người sống vật vờ giữa cõi đời tẻ nhạt. Tưởng có mục đích trên đường đi phía trước, rốt cuộc là cái "không". Tình cảm giữa người với người thì mờ mỏng, sốt sắng cháy bỏng như tình yêu cũng là thoáng gió giữa sóng biển khơi:


 


“Hình như người tình là thứ luôn nên bí mật. Chẳng chụp ảnh làm gì. Không phải vì sợ những ghen tuông ầm ĩ mà chỉ là chỗ đứng của mình trong ảnh không bao giờ đáng tin cậy. Rất có thể chỗ ấy được thay bằng một người khác” (tr.32).


 


Gần như là sống, với gần 400 trang in, không dễ để đọc nhanh, cũng khó nhẩn nha nếm náp. Giọng văn chậm chạp, thiên về miêu tả, tự sự, nhân vật cũng như tác giả tưởng còn trẻ trung thanh tân, nhưng kỳ thực tâm hồn vừa kịp già, sức không còn mạnh nhưng vẫn cố mà thương lấy đời, thích lấy người, tận cùng nốt tháng ngày xanh xao còn lại.


 


Người đứng sau những câu văn dài, hiện thân thành nhân vật nam chính tên Thành, tự xưng “tôi”, nhân rảnh rỗi chưa biết mình cần làm gì, nên làm gì, thế nên nhìn ngắm sự tình đi ngang qua đời. Thấy đâu, nghe đâu cũng dễ liên tưởng cho mọi suy nghĩ rồi ngẫm. Các cảm xúc xấu, tốt cũng từ đó mà xâu chuỗi theo nhau.


 


“Hư vô tôi nhìn ra phố. Thấy mọi người như dính vào nhau trong chiếc bào thai khổng lồ giữa con đường hai cạnh sắc. Rùng rình rùng rình. Tràn vào từng ngôi nhà qua những khuôn cửa tối không định hình. Mất hút” (tr.213).


 


Nhân vật trongGần như là sống,đúng như cái tên truyện, không thể nói là biết sống cho ra sống. Dĩ nhiên, bởi họ là những người rất bình thường trong cuộc đời, những nhân viên văn phòng và dăm dân chài nghèo.


 


Việt Quỳnh


Thể thao & Văn hóa


 


 


Đỗ Phấn, người văn khiếm thị


Xin nói ngay không phải mắt mũi ông họa sĩ kiêm văn sĩ này có vấn đề gì, ngược lại bên trong chiếc kính lão mắt tròn mô típ cổ xưa thường trực trên mặt là đôi mắt sáng luôn ngậm một ngọn lửa âm ỉ vừa tinh anh, khao khát vừa kiêu bạc phớt đời và có phần ranh mãnh pha chút trầm mặc của Đỗ Phấn. Khiếm thị là cách nhìn nhận của tôi áp vào phong cách sáng tác văn chương của gã. Chuyện nói sau.


 


Chẳng nhớ quen Đỗ Phấn từ bao giờ chỉ biết gã là một phần không thế thiếu của những cuộc rượu bạn bè bất tận và triền miên kéo suốt nhiều năm qua. Trong đời có hai người uống rượu, cái thằng tôi ngưỡng mộ đó là Bảo Ninh và Đỗ Phấn. Ngưỡng mộ vì cách uống. Bảo Ninh uống bao giờ cũng nâng ly thành kính hít hít hà hà rồi mới chiêu từng ngụm nhỏ. Động thái này là của người quý rượu. Đỗ Phấn thì lặng lẽ ngắm ly như đo đếm đối thủ thách đấu rồi nhẩn nha tận hưởng thành quả. Tôi gọi đó là người biết thưởng rượu. Những cuộc rượu có Đỗ Phấn thường kéo rất dài vì cái thú uống chầm chậm của gã. Tôi thì khác, nhập cuộc là nốc. Thế nên trong những cuộc nốc ấy cái thằng tôi đa phần là tỏi khó bề sống sót thường say đến tận đỉnh tóc. Cái sự uống của Đỗ Phấn suy cho cùng nó ăn nhập với tính cách của gã là sống chậm, sống từ tốn nhưng khi Đỗ Phấn vừa cầm cọ vừa cầm bút tức là nhảy sang lĩnh vực văn chương thì cái sự chậm đã không còn chính xác. Hiếm có nhà văn nào trong chỉ chưa đến chục năm đã cho ra đời số tác phẩm kín cả mười đầu ngón tay. Khủng khiếp. Mà cuốn nào cũng dày dặn, cũng cẩn trọng công phu như thể đấy là tác phẩm cuối cùng của đời cầm bút, như thể đã đến ngày tận thế. Khekhe…


 


              Đỗ Phấn là ai? Tất nhiên ở lĩnh vực hội họa chẳng ai không biết đến Đỗ Phấn, một họa sĩ tài hoa và thành danh từ lâu. Cái danh của họa sĩ nó khác văn chương một trời một vực. Tức là ở khoản đời sống. Họa sĩ có danh kèm theo tranh bán được dĩ nhiên là có nhiều “xiền” để có một đời sống sung túc. Văn thì còn lâu nhé, đừng mơ. Hội họa là thế còn văn chương? Tôi nhớ lâu lắm rồi, dạo báo Lao Động còn in báo tuần, tôi cực mê mục tản mạn chỉ mấy trăm chữ bao trong cái ô màu vàng nhạt. Chen chân được vào đấy phải thuộc hàng cao thủ về văn phong và độ nén kiệm chữ. Cứ gọi là xếp hàng dài dài nhé. Sau này báo ra hàng ngày có đỡ hơn nhưng không phải cây bút nào cũng chen vào được chuyên mục đó. Vài nghệ danh ở mục này sau thì tôi phát hiện ra là của chính Đỗ Phấn. Hay thì đã đành nhưng ăn hết phần thiên hạ đến mức mỗi khi gửi, gã chơi luôn một chùm 5 bài để dùng dần thì cũng quá quắt thật thế có khác gì cướp “cơm chim” của đám viết bọn tôi. Những tản mạn của Đỗ Phấn được tập hợp lại và thành cuốn sách đầu tay của gã, “Chuyện vãn trước gương”. Thói thường tản văn là thứ hương hoa các nhà văn sau khi đẻ đái sòn sòn kính thưa các loại thể mới sờ đến món này để chơi là chính. Nhưng Đỗ Phấn chọn tản văn để dấn bước vào nghiệp văn kể cũng gọi là liều. Bảo thì Đỗ Phấn cười tủm tỉm chơi ấy mà. Lúc đó tôi bụng bảo dạ thằng cha này nhiều tiền dửng mỡ, ừ thì chơi. Chơi món văn veo chữ nghĩa là chơi dao đấy, cẩn thận. Đọc kỹ tập tản văn đầu đời này của gã họa sĩ tôi giật mình dù trước đấy đã đọc lẻ khá nhiều. Đó là tập hợp của những cảm xúc những trạng thái tinh tế và sau cùng nó rất đẹp khi diễn giải về một đời sống quá đỗi xô bồ nơi phố thị. Vẫn uống rượu cùng vẫn mê tranh Đỗ Phấn vẫn tranh thủ viết để khoắng cái minh họa truyện của gã (tôi viết truyện ngắn ở báo Lao Động bao giờ cũng kèm theo yêu cầu phải là Đỗ Phấn minh họa) nhưng tôi đã ngầm chủ ý xem cha này chơi văn thế nào hay chỉ là bột phát ngẫu hứng. Câu trả lời có liền sau đó. Liên tiếp là những tập truyện ngắn rồi tiểu thuyết lâm bồn. Mà lại là một lèo đến 3 tiểu thuyết mới đau cho dân văn vừa lười viết vừa cạn vốn như cái thằng tôi chứ. Giời ạ, nếu chỉ là thứ văn chơi chơi thì chả có gì đáng nói. Đằng này, Đỗ Phấn xuất hiện với tâm thế của một cây bút chững chạc thu hút được sự chú ý đặc biệt của văn giới. Tiểu thuyết đầu (Vắng mặt-2010) thậm chí còn được giải của Bách Việt nhưng nghe đâu nhà sách này trục trặc chi đó nên việc trao giải không thành. Thôi, thế cũng đã là quá tốt rồi. Nhiều lần đàm đạo qua cuộc rượu tôi biết tỏng cái sự chơi như Đỗ Phấn nói chỉ là câu xã giao cửa miệng. Thực thì gã đã dấn thân một cách quyết liệt vào văn chương. Những điều hội họa không tải nổi, Đỗ Phấn đã mang nó nhập vào văn học. Tôi không mấy rành lĩnh vực hội họa chỉ nghĩ nôm na nghệ thuật của hội họa được thể hiện bằng hình khối, màu sắc, ý tưởng, hình ảnh…Cho dù bất kể trường phái nào thì hội họa cũng là nghệ thuật của sự hiển thị cho dù nó là hiện thực là ấn tượng là trừu tượng là siêu thực…vân vân. Khi chuyển từ hội họa sang văn học Đỗ Phấn trong tác phẩm của mình không còn là cái “nhìn” như lúc vẽ tranh mà là nhập cuộc từ bên trong ra. Gã dùng ngôn ngữ tải cái “tôi” tận cùng để trình bày những cung bậc trạng thái của mình. Kiểu viết từ trong ra này chẳng phải ai cũng làm được. Nó là kết quả của những chiêm nghiệm những đúc kết hay giản dị hơn là những trải nghiệm sống và phải thực sự có bút lực. Có cảm giác Đỗ Phấn nhắm mắt khi viết. Khiếm thị là vì thế. Gã không nhìn nhận đời sống không mô tả nó, kể về nó mà bước đi trong đó, vừa đi vừa ngẫm ngợi và bóc tách. Chính kiểu viết này cho Đỗ Phấn những trang văn chậm rãi đầy triết luận nhưng âm ỉ cuốn hút. Một đời sống đô thị với đủ mọi góc cạnh cứ thế được bóc dần, hiện ra xô bồ nhưng trật tự, hang cùng ngõ hẻm những gì xấu xa nơi tận cùng thú tính con người thì vẫn là đó trong một tâm thế độ lượng chấp nhận. Nhân vật của Đỗ Phấn dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, vị thế nào cũng vẫn “người” thật là người. Vượt lên trên tất cả những điều đó cuộc sống trong các tác phẩm của Đỗ Phấn là một cuộc sống thực đôi lúc tàn nhẫn nhưng con người trong đó chưa bao giờ đánh mất đi niềm khao khát sống. Đỗ Phấn từng thốt lên rằng bất cứ nghệ thuật nào thì cũng đều là tôn vinh cái đẹp. Có lẽ là thế. Và Đỗ Phấn là thế. Một người văn nhập cuộc hết mình đi đến tận cùng mình.


 


           Hôm rồi nhân có một đám ma bạn, Đỗ Phấn tạt qua nhà tôi chơi. Gã uống chút ít và tự nhiên tâm sự. Nghề văn nghèo ông ạ. Tôi không hiểu bắt gã giải thích. Nhà văn ít người có điều kiện để có thể kiếm sống. Vậy tại sao ông lại chọn nó? Tôi khác, tôi còn vẽ được tranh…Tôi lồi mắt nhìn Đỗ Phấn. Những điều tôi biết về gã lâu nay chừng như không đủ để giải thích vì sao Đỗ Phấn lại chấp nhận cuộc chơi văn chương. Không phải là xã giao cửa miệng như tôi nghĩ lúc trước nữa, văn chương đúng là cuộc chơi thực sự của Đỗ Phấn. Một cuộc chơi dấn thân đến tận cùng quyết liệt để moi ra những gì còn ẩn giấu. Âu là Đỗ Phấn đang tự bóc mình để giải tỏa những chất chứa nội tại. Bất giác tôi mỉm cười hình dung ra một Đỗ Phấn nhà văn chậm rãi khiển từng con chữ như cái cách gã im lìm ngắm nhìn ly rượu và uống nhẩn nha. Nghèo, nhất trí ông bạn Đỗ Phấn ơi, nghề văn của chúng ta nghèo nhưng tột cùng hạnh phúc. Hãy tận hưởng nó. Khekhe khe…


 


 Hà Nội 18/12/2012


Phạm Ngọc Tiến  

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngày này 9 năm trước nhà văn Sơn Nam đi xa... - Phạm Sỹ Sáu 13.08.2017
Tượng đài chiến thắng gãy đổ do trẻ 12 tuổi đùa nghịch! - Vũ Viết Tuân 11.08.2017
Đặc khu sẽ không hội đồng nhân dân và có đặc quyền casino - Như Bình 11.08.2017
Chuyện vụn về Đại hội Hội Nhà văn Hà Nội... - Trần Thanh Cảnh 10.08.2017
Phú Quốc lúng túng với cô gái nước ngoài ngồi thiền xin tiền - Nhiều tác giả 10.08.2017
Hang Tám Cô - Huyền thoại và sự thật: Không thể tồn tại sự mù mờ - Nhiều tác giả 09.08.2017
Đất quốc phòng sân bay Tân Sơn Nhất: Chấm dứt liên doanh, sẵn sàng bàn giao - Nhiều tác giả 09.08.2017
Trở lại với câu hỏi: Con người rời khỏi châu Phi khi nào? - Hà Văn Thùy 06.08.2017
Truy giấy phép biểu diễn với cậu bé kéo đàn ở bờ hồ Hoàn Kiếm là không ổn - Nhiều tác giả 30.07.2017
Biển Đông: Một năm sau phán quyết của Toà PCA - Nhiều tác giả 29.07.2017
xem thêm »