tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21055792
Lý luận phê bình văn học
22.03.2013
Hà Minh Đức
Vũ Trọng Phụng, tài năng và thời cuộc

Trong những nhà văn của dòng văn học hiện thực 1930 – 1945 nổi lên Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài. Mỗi nhà văn đều có một phong cách và tài năng riêng, không dễ chọn ngôi vị đầu. Nguyễn Công Hoan vạm vỡ, ngô Tất Tố sắc sảo và uyên thâm, Vũ Trong Phụng hiện đại và toàn năng, Nam Cao trí tuệ và nhân ái, Tô Hoài đậm bản sắc dân tộc. Những nhà văn trên có đóng góp quan trọng vào nền văn xuôi hiện đại, các tác phẩm có giá trị bền vững.


Nói đến Vũ Trọng Phụng chính là nói đến thời cuộc và tài năng. Một lần nhà văn Nguyễn Khải nói: “Với tôi, quan trọng là nhờ ‘cái thời’.” Đó là một cách tự nhận xét chân tình. Thời cuộc, thời thế thuận lợi là những điều kiện xã hội mà trước đấy chưa có, chưa bộc lộ rõ. Thời thế tạo anh hùng, câu nói đó vẫn có ý nghĩa riêng, thích hợp với những tài năng được thời thế góp phần tạo nên. Không phải chỉ trong văn chương mà trong cuộc đời những yếu tố về thời cơ, thời thế góp phần quyết định nhiều vấn đề xã hội cũng như số phận cá nhân. Người xưa có thơ: “Thời lai đồ điếu thành công dị/ Phận hẩm anh hùng ẩm hận đa”. Nói thế những tài năng xuất chúng thường vượt lên những hoàn cảnh khó khăn nghiệt ngã để tạo nên những sự nghiệp.


Vũ Trong Phụng “gặp thời”. Đó là lúc xã hội đã dấn sâu vào thời kỳ hiện đại, buổi hưng thịnh của thành thị thể hiện trong toàn cảnh của bức tranh xã hội. Thời kỳ 1930 – 1945 là một bước phát triển mới rất khác biệt với chặng đường trước. Những thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng đã mang tầm vóc và kích cỡ của những thành phố hiện đại. Đã có hàng trăm nhà xuất bản và tờ báo. Năm 1938 là năm báo chí phát triển mạnh nhất so với toàn bộ chặng đường trước. Dư luận xã hội rộng mở trong điều kiện của thời kỳ mặt trận dân chủ. Trong thời kỳ này, trên báo chí đã có nhiều cuộc tranh luận về tư tưởng và nghệ thuật như Duy Tân và nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh. Về giáo dục, đã có nhiều trường đại học, số lượng sinh viên, học sinh đông đảo góp phần tạo nên một lớp công chúng mới trong văn học. Về sinh hoạt xã hội, nhiều rạp chiếu bóng, rạp hát, vũ trường hoạt động, đêm Hà Nội sầm uất không khí chơi bời. Về mặt trái của thành thị bộc lộ rõ qua nhiều mặt, quyền lực chính trị đã siết chặt qua nhiều hoạt động, đồng tiền lên ngôi, nạn mãi dâm, đĩ điếm, cờ bạc phát triển. Người nông dân nghèo khổ tràn về thành thị kiếm sống. Và nói như Vũ Trọng Phụng đa số con trai thất nghiệp và trộm cắp, con gái thì làm đĩ. Đời sống thành thị bộc lộ những mặt đối lập rõ rệt trên nhiều phương diện. Thời cuộc là thế, làm sao nhà văn miêu tả được những bức tranh xã hội phức tạp, nhiều mâu thuẫn đó. Văn chương Việt Nam có thế mạnh là những trang  viết về nông thôn, đối tượng miêu tả từ ngàn đời, tuy có nhiều biến động những cũng trong những khuôn khổ, đường nét quen thuộc. Có một khoảng trống là viết về thành thị. Nhiều nhà văn có tài năng nhưng cũng chưa có những tác phẩm thành công về thành phố. Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng đã chạm đến những vấn đề của đô thị nhưng chưa đi sâu, chưa khái quát, chưa tạo được điển hình và sức hấp dẫn cho trang viết. Nguyên Hồng là nhà văn của những xóm thợ nghèo khổ. Nam Cao viết giỏi về làng quê và người trí thức nghèo tự thu mình lại trong những suy nghĩ nội tâm. Tô Hoài rất thành công về người ven thành và chưa vào sâu được đề tài Hà Nội. Nhà văn Nguyễn Đình Thi có lần cho rằng: “Chỉ có Vũ Trọng Phụng và Nguyễn Huy Tưởng là viết thành công về đề tài thành thị. Nguyễn Huy Tưởng còn mở rộng ra nhiều phạm vi khác còn Vũ Trọng Phụng thì toàn tâm dành những trang viết cho Hà Nội. Có thể nói Vũ Trọng Phụng  đã bù đắp đầy đặn vào chỗ trống của văn học Việt Nam thời kỳ hiện đại về đề tài thành thị.


Nói thời cuộc là nói về yếu tố khách quan còn khả năng tiếp cận, suy nghĩ, tái tạo lại thuộc về khả năng chủ quan. Những điều kiện xã hội thuận lợi với nhiều người viết như những cơn gió mát thổi qua mà không tiếp nhận được. Vũ Trọng Phụng là người quy tụ đầy đủ những điều kiện để “tiến công” vào thành trì vững chắc này. Ông sinh ra ở Hà Nội và sống trọn đời với thành phố lớn tiêu biểu này. Có thể nói, đó là người con của thành phố, hay như ngày nay thường tôn vinh là người công dân kỳ cựu, không ăn theo, không lẫn lộn của thủ đô Hà Nội. Ông là người nhập cuộc vất vả kiếm sống, trà trộn, lăn lộn với cuộc sống nghèo khổ của những khu phố cổ, nơi sinh hoạt, làm ăn của những kẻ thất nghiệp, đĩ điếm, những cảnh chơi bời, cờ bạc, rượu chè. Có thể nói Vũ Trọng Phụng hiểu cái đáy của xã hội không phải từ trên nhìn xuống, từ ngoài nhìn vào mà là người nhập cuộc để thấu hiểu và đưa vào trang viết. Vũ Trọng Phụng cũng am hiểu bản chất xấu xa của thực dân Pháp và tổ chức chính trị, guồng máy cai trị, những nhân vật gọi là tai to mặt lớn.


Đến với những trang viết về Hà Nội. Vũ Trọng Phụng là người công dân, là nhà báo, là người trí thức. Ông là người ham hiểu biết, ham đọc, sống năng động, sẵn sàng tìm đến những mũi nhọn, những nơi xung đột quyết liệt của cuộc sống. Kết hợp giữa những tri thức, những hiểu biết với vốn sống thực tế, ngòi bút Vũ Trọng Phụng có những phẩm chất hài hòa và sắc bén không dễ người viết có thể dễ dàng tạo nên. Theo ký ức của nhà báo Thiều Quang: “Anh rất ham đọc, khởi điểm từ cái văn học  cổ điển Pháp với những ây bút  độc tú của Molier, Racin, Corneille qua Voltaire, Balzac, rồi đến cái chủ tả chân cực thịnh của Flaubert, Guy de Maupassant thì dừng lại. Trong cái hệ thống văn chương chửi đời đó, Vũ Trọng Phụng hồ như tìm thấy sự đồng cảm, đồng điệu, đồng tình”. Bùi Huy Phồn Cũng kể lại: “Tôi liếc nhìn xung quanh chỗ Vũ Trọng Phụng nằm, thấy la liệt một số sách và báo tiếng Pháp, như Nhân Đạo (L’Humanité) của Đảng cộng sản Pháp, báo Gringoire của Đảng xã hội, báo Đọc (Lu) hầu hết là những tờ báo tiến bộ Pháp bấy giờ”. Vũ Trọng Phụng cũng quan tâm tìm đọc những tác phẩm của văn học Pháp, của A. Gide, của Freud về phân tâm học, về con người sinh lý, những điều mà ông cần tìm hiểu cho trang viết của mình.


Về ý thức và nhân cách của người viết, trước những hiện tượng tiêu cực của đời sống mà tác giả phải nhập cuộc để tìm hiểu Vũ Trọng Phụng khảo sát kỹ những hiện tượng phức tạp, tại chỗ, từ tư liệu gốc để viết những phóng sự như “Kỹ nghệ lấy Tây”, “Cơm thầy cơm cô”. Ở những trường hợp phức tạp hơn, ông không nhập cuộc mà khai thác gián tiếp qua lời kể của người thân để viết. Viết về chuyện dâm uế, tác giả miêu tả với tinh thần phê phán, ngòi bút không rung động. Với tất cả những phẩm chất trên, Vũ Trọng Phụng đã để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ. Tuy nhiên sự đánh giá về ông qua một chặng đường dài trên nửa thế kỷ cũng gặp nhiều những khó khăn, những trắc trở. Đương thời người ta ca ngợi nhưng cũng có những ý kiến ghét bỏ cho là Vũ Trọng Phụng đã khai thác nhiều mặt xấu, nhiều chuyện đáng kiêng kỵ. Một số nhà văn lãng mạn như Nhất Chi Mai qua tranh luận đã bị ông phê phán vì cái chân lý vững chắc nhất mà tác phẩm của ông theo đuổi để miêu tả trung thực là sự thực ở đời, sự thực mà nhiều kẻ phủ nhận, che đậy, tô điểm phục vụ cho quyền lợi của mình. Sau Cách mạng tháng Tám, Vũ Trọng Phụng cũng không được thuận chiều như các nhà văn Ngô Tất Tố, Nam Cao. Trong nhà trường đại học, trong nghiên cứu thường nêu vấn đề Vũ Trọng Phụng với hai điểm yếu, hai dấu hỏi về thái độ chính trị và miêu tả cái dâm. Dần dà theo thời gian, mọi việc được giải tỏa và nói như Xuân Diệu về nguyên lý Archimède “cái gì nổi thì nhất định sẽ nổi”. Qua một số lần kỷ niệm về ngày sinh và ngày mất, Vũ Trọng Phụng đã trở về với tư cách một nhà văn xuất sắc, một tài năng hiếm có của nền văn học thế kỷ XX. Thực ra, mọi việc không dễ suôn sẻ. Chị Vũ Mỵ Hằng, người con gái của Vũ Trọng Phụng luôn phải đương đầu bảo vệ tác phẩm của bố và khổ tâm với dư luận xấu. Tôi nhớ lần kỷ niệm khánh thành Nhà tưởng niệm Vũ Trọng Phụng, sở Văn hóa đem tặng bia “Vua phóng sự đất Bắc” có nhiều tác phẩm tiêu cực. Sau Đại hội 6 không cởi mở và đánh giá lại tác phẩm đúng đắn. Với tinh thần ấy, việc kỷ niệm 90 năm ngày sinh Vũ Trọng Phụng được tổ chức đàng hoàng. Năm ấy ( 2002) tôi làm Viện trưởng Viện Văn học đã cố gắng xin quỹ Ford tài trợ. Nhờ bạn bè giới thiệu, tôi được đề nghị gặp ông tiến sĩ Michel Di. Gregorio phụ trách quỹ Ford ở Việt Nam. Tôi gửi biếu trước cuốn “Ba lần đến nước Mỹ” và hôm gặp vui vẻ. Tôi nói đã đến thăm quỹ Ford ở New York và nói chuyện về một số học giả Mỹ như Elliot, D. Man, Jamielson. Michel nói đó đều là thầy học tôi. Ông đồng ý trợ cấp 10.000 đô, trường hợp đặc biệt. Hội thảo tổ chức có 27 báo cáo của hai giáo sư Niculin (Nga) và Zimonina (Mỹ). Zimonina đưa bản báo cáo đầu và xem nhân vật Hải Vân trong “Giông tố” là Nguyễn Ái Quốc. Tôi bác bỏ và đành lấy bản tham luận khác. Một giáo sư mượn đọc và chuyền tay, một giáo sư khác liền phê phán “Văn chẳng phải văn, sử không phải sử”. Báo Văn nghệ chuẩn bị đăng. Tôi ngăn lại kịp thời với lí do bản tham luận chưa và không công bố. Mọi việc diễn ra tốt đẹp. 22 tham luận in thành  tập sách “Bản sắc hiện đại trong các tác phẩm Vũ Trọng Phụng” (2003). Hội thảo tổ chức tại giảng đường Đại học 19 Lê Thánh Tông và dự tiệc tại khách sạn 5sao Hilton Hà Nội . Trong lần kỷ niệm 90 năm ngày sinh của Vũ Trọng Phụng do Viện Văn học tổ chức vào năm 2002, Vũ Trọng Phụng được khai thác, nghiên cứu và tôn vinh về nhiều mặt. Cuộc hội thảo khoa học kỷ niệm Vũ Trọng Phụng ngoài những nhà nghiên cứu trong nước không chỉ thuộc về phần văn học hiện đại mà có nhiều nhà nghiên cứu vốn là chuyên gia về văn học nước ngoài cũng nhiệt tình tham gia như các giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, Lộc Phương Thủy. Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu với tinh thần của thi pháp hiện đại cũng có những bài viết hay về Vũ Trọng Phụng. Trong cuộc hội thảo có sự tham gia của Niculin (Nga) và Zinoman (Mỹ). Niculin nhấn mạnh đến tính chất hiện đại và xu hướng hiện đại hóa của Vũ Trọng Phụng khác với những khuynh hướng hiện đại hóa theo lối học đòi phương Tây của Phạm Quỳnh. Trong một công trình nghiên cứu lịch sử văn học Việt Nam, tác giả nhận xét trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng chú ý miêu tả hai loại người trong xã hội “những kẻ bị quyền lực của đồng tiền dìm xuống đáy xã hội và những kẻ nhờ thói bịp bợm, bỉ ổi đã đạt tới sự giàu sang và danh giá”. Vũ Trọng Phụng miêu tả cuộc sống của những tầng lớp xã hội khác nhau trong sự vận động và trong sự biến đổi. Zinoman vốn là một nhà nghiên cứu sử học, sau khi đọc tác phẩm “Người tù được tha” của Vũ Trọng Phụng ông say mê tìm đến tác giả qua những cuốn tiểu thuyết và nhấn mạnh bản sắc hiện đại trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng. Ông đặc biệt ca ngợi tác phẩm “Số đỏ” đã vượt khỏi giới hạn và phong cách miêu tả quen thuộc kết hợp giữa sự thực và phóng đại, lối kể chân thực và trào phúng tạo dựng một thế giới chân thực mà đặc sắc. Nhà văn Niculin cũng đặc biệt ca ngợi “Số đỏ” “đã sử dụng những thủ pháp phóng đại khi vẽ một gã phiêu lưu khác ấy là Xuân Tóc Đỏ, một kẻ chuyên nhặt banh quần vợt những sự ngẫu nhiên một cách ngược đời và sự ngu xuẩn đến mực phi lý của xã hội đã đưa y lên đỉnh vinh quang...” (Lịch sử văn học Việt Nam, tr.752 – 2007).


Trở lại sự đánh giá trong nước về Vũ Trọng Phụng cũng có nhiều ý kiến khác nhau qua các thời kỳ. Trong hội nghị tranh luận về văn nghệ năm 1949 ở Việt Bắc, trường hợp Vũ Trọng Phụng cũng được đem luận bàn. Tuy việc đánh giá có khó khăn, nhất là trên hai điểm về thái độ chính trị và miêu tả cái dâm, nhưng phần đóng góp của Vũ Trọng Phụng, giá trị tác phẩm của Vũ Trọng Phụng vẫn bộc lộ ở nhiều phương diện khác không thể phủ nhận hoặc xem nhẹ. Nhà văn Nguyễn Đình Thi cho rằng: “Một tác phẩm chép đúng thực tại cũng đã có giá trị cách mạng, (ví dụ Balzac, Vũ Trọng Phụng) nhưng hình thức hiện thực ấy vẫn còn thấp”. Nhà thơ Tố Hữu nhận xét: “Lối hiện thực Vũ Trọng Phụng chưa phải là lối hiện thực xã hội. Vũ Trọng Phụng không phải là cách mạng nhưng cách mạng cám ơn Vũ Trọng Phụng đã vạch rõ cái thực xấu xa thối  nát của xã hội lúc ấy. Nếu Vũ Trọng Phụng đi vào cuộc đời cách mạng thì anh ta đã thành công. Trong những năm gần cuối đời, khi đọc lại những tác phẩm thời kỳ trước cách mạng, nhà thơ Tố Hữu đã nhận ra giá trị thực của tác phẩm Vũ Trọng Phụng và một lần ông nói: “Cho đến nay trong văn xuôi, chưa ai viết được như Vũ Trọng Phụng”. Năm tháng đi qua, qua những lần kỷ niệm về ngày mất, ngày sinh của Vũ Trọng Phụng, vị trí của ông được khẳng định với tư cách nhà văn hiện thực lớn của thời kỳ trước cách mạng. Kỷ niệm 90 năm ngày sinh Vũ Trọng Phụng, giáo sư Zinoman cảm phục trước tài năng, sức làm việc của nhà văn. Trong một lần phát biểu trên đài phát thanh tiếng nói Việt Nam và trả lời báo chí, ông cho rằng Vũ Trọng Phụng không thua kém bất kỳ một nhà văn lớn nào trên thế giới, đặc biệt sức sáng tạo to lớn đã để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ trong vòng 9 – 10 năm sáng tác. Ngày nay, nhiều thanh niên Việt Nam ở tuổi 27 còn đang tìm việc hoặc bắt đầu khởi nghiệp thì Vũ Trọng Phụng đã kết thúc sự nghiệp lớn lao của mình với nhiều tác phẩm bất hủ.


Đi sâu vào nghiên cứu Vũ Trọng Phụng trước hết phải kể đến tác phẩm “Vũ Trọng Phụng” - Văn Tâm do nhà Kim Đức xuất bản năm 1956. Sau này nhiều giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh, Phong Lê, Đỗ Đức Hiểu, Phan Cự Đệ, Trần Hữu Tá, Lại Nguyên Ân đều có nhiều bài nghiên cứu sâu sắc. Đặc biệt giáo sư Đỗ Đức Hiểu từ văn học nước ngoài tìm đến Vũ Trọng Phụng và có những ý kiến sắc sảo. Nhà văn Lại Nguyên Ân có công sưu tầm nhiều tác phẩm của Vũ Trọng Phụng, tạo điều  kiện để có một cái nhìn sâu sắc, toàn cảnh về tác phẩm Vũ Trọng Phụng.


Các nhà văn hiện thực thời kỳ 1930 - 1945  đều đạt được những vấn đề sâu sắc về nông thôn, về lớp dân nghèo thành thị, về người trí thức. Qua những tác phẩm của mnh, Vũ Trọng Phụng là người đặt được nhiều vấn đề xã hội như thành thị và nông thôn (qua Vỡ đê, Cơm thầy cơm cô, Giông tố), bản chất của đời sống thành thị, xu hướng hiện đại hóa, thành quả và hậu quả (qua các phóng sự và tiểu thuyết Số đỏ), tình trạng biến chất, tha hóa con người trong xã hội hiện đại; những tệ nạn xã hội tràn ngập và đâu là phương thức cứu chữa. Ở mỗi vấn đề đều được chứng minh bằng câu chuyện, sự kiện, nhân vật góp phần vào sự nhận biết hiện thực, khơi gợi suy nghĩ và thái độ người đọc. Tôn trọng sự thực, lấy sự thực là chuẩn mực, Vũ Trọng Phụng đã bộc lộ rõ thái độ qua trang viết. Tuy nhiên đề xuất vấn đề và cách giải quyết là  những việc khác nhau. Vũ Trọng Phụng cũng có lúc đưa ra những đơn thuốc ngây ngô khi đề cập đến vấn đề dâm và cách giải quyết bằng cách cho học kiến thức về sinh lý ở tuổi học trò. Với những vấn đề khó khăn hơn như thái độ chính trị với đệ tam, đệ tứ quốc tế, ông không nghiêng về đệ tứ quốc tế và bênh vực theo cách hiểu nhầm của một số người. Với đệ tam quốc tế, thái độ của nhà văn cũng muốn tìm một sự thực, hiệu quả của một đường lối qua xã hội Liên Xô và một vài nhân vật chủ chốt. Những hạn chế ấy là không tránh khỏi. Nói như Nguyễn Tuân: “Nhiệm vụ của nhà văn là phát hiện con bệnh còn kê đơn và chữa bệnh lại như vượt khỏi khả năng của người cầm bút.” Phát hiện đúng căn bệnh của xã hội để mọi người có một thái độ cũng là một đóng góp quan trọng.


Đi vào tìm hiểu sự nghiệp văn chương của Vũ Trọng Phụng là một vấn đề khó, bao quát nhiều phạm vi. Ông đã từ cuộc sống đến với trang viết, từ một chuỗi phóng sự có giá trị để đi đến những sự khái quát rộng hơn, sâu sắc hơn qua tiểu thuyết. Phóng sự Vũ Trọng Phụng được viết bằng công sức tìm tòi, nhập cuộc nên đầy sức thuyết phục, không tản mạn mà tập trung vào từng chủ đề làm hiện hình lên nhiều nhân vật qua những chi tiết chân thực, những đối thoại sắc sảo làm hiện hình lên các nhân vật như các mụ tú bà trong “Kỹ nghệ lấy Tây”, những cô gái trẻ mới nhập nghề, những tên thực dân mang bộ mặt quỷ sứ xen lẫn với những nét ngây ngô, ngu dại. Không phải ngẫu nhiên mà trong rất nhiều phóng sự đương thời của Tam Lang, Trọng Lang, Ngô Tất Tố... Vũ Trọng Phụng được tôn vinh là “vua phóng sự đất Bắc”. Ngày nay những phóng sự ấy vẫn có sức hấp dẫn và gợi cho người đọc những  suy nghĩ. Cuộc sống hôm nay chất chứa nhiều sự kiện, nhiều câu chuyện vừa thực vừa như bịa đặt, nhiều nhân vật với lối sống hai mặt, lừa đảo, nhiều cách hưởng thụ trụy lạc nhưng vẫn chưa có những phóng sự thật sự đắt giá. Giáo sư Zinoman nhấn mạnh đến bản chất hiện đại của tác phẩm Vũ Trọng Phụng khi so sánh ngày hôm qua và hôm nay của xã hội Việt Nam. Ông cho rằng tất cả những gì có trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng nhất là các tệ nạn xã hội hôm nay đều có và  nhiều hơn. Nếu đúng thế thì tác phẩm của Vũ Trọng Phụng có khả năng dự báo một điều gì qua trang viết. Ngôn ngữ trong phóng sự của Vũ Trọng Phụng là ngôn ngữ của đời thường, của từng cá thể sinh động với những lối nói khác nhau. Đóng góp quan trọng nhất của Vũ Trọng Phụng là ở thể tiểu thuyết. Chỉ trong vòng 3 – 4 năm từ 1936 đến khi qua đời, ông cho xuất bản ba tác phẩm lớn: Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê. Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng không đơn tuyến mà đa tuyến, nhiều nhân vật, đề cập nhiều vấn đề đan xen lồng ghép và nhau tạo nên một bức tranh toàn cảnh, điều mà trước đấy các tiểu thuyết khác chưa làm được. Đặc biệt từ hiện thực tác giả chú ý đến những nét tượng trưng của hoàn cảnh, của nhân vật, từ nghiêm chỉnh chú ý đến mặt hài hước, trào phúng. Cái thực, cái ảo, chất hài hước xen lẫn nhau tạo cho bức tranh xã hội sâu sắc hơn, hấp dân hơn. Trong các tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng, “Số đỏ” được xem là một tuyệt tác. Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu cho rằng: “Số đỏ” là một siêu tiểu thuyết và nhân vật Xuân Tóc Đỏ là một siêu nhân vật.  Nhân vật Xuân Tóc Đỏ đã vượt khỏi giới hạn của một hoàn cảnh, một thành thị mà trở thành một nhân vật phiêu lưu, có mặt ở nhiều cảnh ngộ trong nhiều nước. Xuân Tóc Đỏ được xem là một điển hình của văn học hiện thực thời kỳ 1930 – 1945. Zinoman có liên hệ tác phẩm “Số đỏ” với bộ phim “Vua lưu manh” (Le roi des resquilleurs) -  một bộ phim được ưa chuộng ở Pháp, một tên lưu manh, tinh ranh, bịp bợm của thành thị đã “thành công nhờ một chuỗi may mắn khác thường cũng với những mưu mô xảo quyệt”. Cũng có thể nhắc đến bộ phim “Ông cậu đô la” , những kẻ gặp may mắn bất ngờ mà trở thành người giàu có, người hùng. Tất nhiên, “Số đỏ” là “Số đỏ”, cuốn tiểu thuyết lớn của Việt Nam giàu chất hiện thực phản ánh bức tranh xã hội thực dân phong kiến ở Việt Nam. Không riêng gì “Số đỏ”, “Giông tố”, “Vỡ đê” đều là những tác phẩm có giá trị trong thời kỳ mặt trận dân chủ xuất hiện nhiều loại nghị viên như Nghị Quế (Tắt đèn), Nghị Lại (Bước đường cùng) và Nghị Hách. Các ông Nghị trên đều có cá tính riêng nhưng Nghị Hách là sắc sảo hơn cả. Nghị Hách tập trung những nét tiêu biểu của một kẻ giàu có, làm giàu bằng những thủ đoạn nham hiểm, bằng tội ác và cũng là một loại người ăn chơi hưởng lạc. Xuân Tóc Đỏ và Nghị Hách là hai kiểu nhân vật có nhiều nét chung, một bên là kẻ cùng khổ đầu đường xó chợ, dùng nhiều mánh khóe bịp bợm mà thành người hùng và một bên là trở thành triệu phú nhờ những âm mưu lừa gạt.


Ở Việt Nam, các tác phẩm “Số đỏ”, “Giông tố” đều được dựng thành phim. Cốt cách và giá trị văn học của các tác phẩm đã tạo cho các bộ phim có nhiều nét đặc sắc. Tác phẩm “Số đỏ” cũng được giáo sư Zinoman dịch ra tiếng Anh và được xem là một trong số những sách dịch hay ở nước Mỹ.


Nói đến tiểu thuyết phải nói đến nhân vật, Vũ Trọng Phụng có tài khắc họa nhân vật. Trong tác phẩm “Số đỏ” mỗi nhân vật có một vóc dáng riêng, tính cách riêng, từ những tên gọi như bà Phó Đoan mà không đoan chính; ông Văn Minh nhưng thực sự là thụ động, bế tắc; các tên cảnh sắc Min Đơ, Min Toa; rồi ông Lang Tỳ, Lang Phế cho đến em Chã, cụ cố Hồng.... Mỗi người đều có những đặc điểm qua hành động, qua ngôn từ. Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu cho rằng trong “Số đỏ” có những làn sóng ngôn từ hấp dẫn bất hủ, tiếp nối và đan xen nhau qua những lời thoại độc đáo. Vũ Trọng Phụng am hiểu xã hội, các loại người đến chân tơ kẽ tóc để góp phần tạo dựng nhân vật. Ngoài tiểu thuyết, trên dòng phát triển của văn xuôi, Vũ Trọng Phụng cũng có nhiều truyện ngắn hay. Ông đã để lại một sự nghiệp văn chương toàn bích. Tất cả chỉ nhằm phản ánh sự thật của cuộc đời, phơi bày mặt trái của xã hội cũ. Ngay trong tác phẩm kịch đầu tay “Không một tiếng vang” (1931) cho đến tác phẩm cuối cùng đều nói rõ tôn chỉ ấy. Ông dẫn lời của Ezola làm đề tài cho vở kịch đầu tay “Planz enfinle veritable drame human milieu desmensonger ridicule”( Cuối cùng phải xây dựng trên cơ sở những điều dối trá những tấn bi kịch chân thực của con người)


100 năm đã qua kể từ ngày sinh, và hơn 70 năm kể từ ngày mất, Vũ Trọng Phụng đã có những đóng góp quan trọng cho văn chương Việt Nam thời kỳ hiện đại từ cuộc đời và tác phẩm của ông có thể giúp chúng ta suy nghĩ về chuyện văn chương.


Vũ Trọng Phụng đã đến với văn học từ rất sớm và quy tụ nhiều phẩm chất quan trọng của một nhà văn: tài năng, vốn sống thực tế, vốn tri thức, ý thức không ngừng học hỏi, lòng say mê với văn nghiệp và ông đã nắm được thời cơ, những đặc điểm của thời cuộc mà trước đấy chưa có mà sau đấy cũng hoàn toàn khác biệt. Thời cuộc trôi qua nhưng bức tranh xã hội còn nằm lại được ghi nhận chân thực, đầy đủ trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng.


Vũ Trọng Phụng là nhà văn hiện thực, con đẻ của thành thị với những tác phẩm sâu sắc về đời sống Hà Nội. Ngày nay trong cả nước, nhiều thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Sài Gòn, Hải Phòng đều có biết bao nhiêu chuyện phong phú, hấp dẫn nhưng sao chưa có được những cuốn tiểu thuyết, những vở kịch hay mang tầm vóc của cuộc sống hiện đại. Sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng cũng ghi nhận một điều không vui. Những giá trị không phải dễ dàng được thừa nhận nhất là mang theo nó những chuyện gai góc, những vấn đề phức tạp không dễ giải quyết trong một thời điểm và tác giả là người phải chịu trận. Nhưng niềm vui vẫn lớn hơn vì theo quy luật của giá trị cái gì nổi phải được nổi lên. Tác phẩm của Vũ Trọng Phụng đã nổi dần lên qua thời gian, được thừa nhận dần dà được tôn vinh và như ý kiến của nhà thơ Tố Hữu nhận xét: “Cho đến nay trong văn xuôi chưa ai viết được như Vũ Trọng Phụng”.


Hà Nội, Tháng 10 – 2012


Hà Minh Đức


Nguồn: Bài đã in báo, nhưng có cắt một số đoạn. Đây là bản đầy đủ do GS Hà Minh Đức gửi www.trieuxuan.info


 


 


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Thanh Tùng: "Hoa cứ vẫy hồn người trở lại..." - Đỗ Anh Vũ 13.11.2017
Sự biến mất của thể loại Song thất lục bát - Tâm Anh 02.11.2017
Một cách nhìn mới về Băn khăn của Khái Hưng - Aki Tanaka 31.10.2017
Nhất Linh – Bướm Trắng - Đặng Tiến 31.10.2017
Nguyễn Bắc Sơn, một đặc sản của thi ca miền Nam - Đỗ Trường Leipzig 31.10.2017
Sở Cuồng Lê Dư – học giả tiên phong trong việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Nhật Bản - Đoàn Lê Giang 21.10.2017
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
xem thêm »