tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18413969
Tiểu thuyết
21.03.2013
Hoài Anh
Đuốc lá dừa

Chuyện Tôn Thọ Tường thì Nguyễn Tri Phương cũng đã biết. Vì Tường thường đi lại với giặc, bị mọi người khinh bỉ, nên y phải tìm cách che đậy, bào chữa cho hành động của mình. Nhân ra vào đồn Cây Mai, y nẩy ra ý làm thơ vịnh cây mai ở đó, để biện bạch cho tấm lòng “trong sạch” của mình, không ngờ gặp cảnh ngộ “cheo leo”:


Đau đớn cho mai cách dưới đèo,


Mười phần trong sạch phận cheo leo.


Sương in tuyết đóng nhành thưa thớt


Xuân đến thu về sãi quạnh hiu.


       Lặng lẽ chuông quen con bóng xế,


Tò le kèn lạ mặt trời chiều,


Những tay rượu thánh thi thần cũ,


Trông cảnh bao nhiêu tiếc bấy nhiêu.


Nguyễn Tri Phương thầm nghĩ, nếu mai biết nói hẳn phải nguyền rủa cái tên trơ trẽn, mượn mai để che đậy cái tâm địa phản phúc của y. Lời lẽ mới thơn thớt giả dối làm sao! Những kẻ tự nhận là yêu hoa ấy thực ra là những kẻ phản bội lại sự trong trắng của hoa, đâu bằng những người dân thường kia yêu hoa một cách chất phác, bằng việc đem máu giữ từng tấc đất, dành chỗ cho hoa đua nở dưới không khí trong lành của một đất nước tự chủ, thanh bình.


Câu đồng dao mà ông thường được nghe: “Trời xanh bông cứng lá dai. Gió day mặc gió, chiều ai không chiều” phải chăng vừa nói được cây mai, vừa nói được tấm lòng của những người dân Nam kỳ quyết tâm chống giặc.


 Nhìn về phía xa, cửa thành Sài Gòn với tòa Vọng lâu đồ sộ bị giặc bắn sập nằm trước, không còn kiêu hãnh nổi bật lên nền trời nữa. Phía trước mặt là Đồng Tập Trận và Mô súng, nằm im lìm như bãi tha ma. Những năm trước, cũng vào ngày này, Nguyễn Tri Phương đã cho phát ba tiếng súng, tiền hô hậu ủng, quân gia rầm rộ kéo ra ngả Phan Yên môn, từ đó xuống ngả Chợ Vải để trở lại đường Cửa Hữu và trực chỉ lên Đồng Tập Trận, ở đó, ông duyệt hết các cơ binh đóng trong lục tỉnh. Năm nay, vì giặc đóng ngay cạnh nách nên lễ “xuất binh” đành bãi bỏ. Lòng Nguyễn Tri Phương bỗng sôi lên một niềm phẫn nộ. Ông hỏi giật giọng:


- Ông phó lãnh binh có kế sách nào không, nói ngay cho ta rõ.


 Trương Định ngẫm nghĩ, rồi nói:


- Hôm nay đang là mồng một Tết, giặc Lang-Sa tất cho là quân ta mải ăn Tết, chắc không có lòng nào đến đánh đồn trại của chúng. Chi bằng ta làm kế nghi binh, cứ cho quân sĩ vui chơi ăn uống, ngày bày trò đánh vật, tối bày cuộc hát bội, trống phách tưng bừng. Thừa lúc ấy, ta cho một toán quân cảm tử tiến sát đồn Cây Mai, ủng hộ cho các toán quân khác đào hầm và dựng đồn lũy sát gần phòng tuyến của chúng. Vòng vây đồn Cây Mai được khép chặt, vừa bóp nghẹt quân giặc, vừa cắt liên lạc với bên ngoài, không những tiêu hao được sức giặc mà còn tránh được phần nào đại bác của chúng bắn ra. Từ đấy, ta tăng cường thêm các đội du kích và thám sát ở các đồn lũy gần sát trại giặc, cứ đêm đến thì tiến đánh các điểm yếu của địch, đánh phá tàu thuyền, đốt các nhà ở gần đồn. Làm như vậy có thể làm cho sức giặc hao mòn, lương thực thiếu hụt, tinh thần rúng động, bức chúng phải đầu hàng trước khi viện binh kéo tới.


Nguyễn Tri Phương ngạc nhiên trước chiến thuật cơ động của Trương Định. Phải chăng cách bài binh bố trận của ông đã lỗi thời rồi.


Bỗng nhiên, ông thấy mình già đi một cách ghê gớm. Lưng còng xuống hình như không mang nổi gánh nặng.


Nhưng nhìn viên tướng trẻ, có nét mặt khôi ngô, cương nghị, có đôi mắt đầy tự tin, ông phần nào yên tâm. Như vậy, dầu ông có chết, cũng đã có người nối tiếp sứ mạng của mình. Lúc lật đật nắm lấy cánh tay người trẻ tuổi, ông thấy tay mình run run vì xúc động. Hai dòng máu trẻ già như hòa chung, chảy rần rật trong cơ thể. Ông có niềm vui của gốc mai già vừa nảy được một cành non.


Chị hai Thưởng đang khoanh tay nướng bánh phồng trên chiếc hỏa lò than đượm lửa. Tay chị thoăn thoắt như múa trên hỏa lò. Cái nghề nướng bánh mà không lật qua lật lại thì cái bánh bị lửa táp cháy đi mất. Chẳng thế mà có câu “tráo trở như nướng bánh phồng”


Thằng Huệ đang đốt pháo ở trước cửa, chạy vào bếp níu áo mẹ:


- Bánh phồng chín chưa má?


- Sắp chín rồi, con cứ ra ngoải chơi đi, lát nữa tía về cả nhà cùng ăn một thể mới vui chớ!


Thằng Huệ mới bảy tuổi mà rất ngoan ngoãn, dầu nó thèm ăn bánh phồng đến chết được, vậy mà nhắc đến chuyện đợi tía nó về cùng ăn, là nó thôi liền, không đòi nữa. Cái tên Huệ của nó cũng là do kỷ niệm mối tình của tía má nó mà có. Số là Trương Định có lần về Tân Hòa, Tân An chơi. Cậu ấm con quan Vệ úy Gia Định không những đã phải ngạc nhiên về cảnh đất đai ở vùng này rộng mênh mông mà còn bỏ hoang, còn ngạc nhiên hơn khi gặp một cô gái quê mùa rất xinh đẹp, nết na, ở tỉnh thành cũng không dễ mấy ai bì kịp. Sau khi trò chuyện một hồi, cảm vì sắc đẹp, vì sự thùy mị của cô, Trương Định về nói với cha xin cha cho mối lái đến hỏi cô về làm vợ. Cụ Vệ úy gạt đi, cho là không được môn đăng hộ đối. Thế là Trương Định bỏ dinh, về Tân Hòa cùng cô gái dựng một ngôi nhà gỗ, vợ chồng chung sống với nhau. Từ đấy, Trương Định bắt đầu cùng vợ khai khẩn đất hoang ở vùng này. Bàn tay búp măng xinh xắn của cô Hai Thưởng- tên cô gái- đã in những vết chai sạn khi cầm xuổng, cầm leng. Nhưng cô không bao giờ kêu ca nửa lời. Chỉ nửa năm sau, vợ chồng đã vỡ hoang được năm công đất, cứ kể ra hai vợ chồng trẻ từng ấy ruộng đất là đủ làm ăn sinh sống rồi. nhưng Trương Định chưa vừa lòng, ông muốn dân khắp vùng đều được no đủ như gia đình ông. Ông liền đi vận động dân chúng chung quanh đến cùng ông mở rộng đồn điền. Khi đồn điền đã mở rộng thênh thang, thẳng cánh cò bay thì lại gặp một khó khăn là thiếu giống. Ông liền về quê ở Quảng Ngãi lấy giống lúa mang vào. Ở Quảng Ngãi có bốn vụ cấy và gieo, tháng ba với ba loại giống: ba trăng, lúa trắng, lúa chiêm ngự, tháng tám, lúa tàu núc, tháng mười giống bông rinh và tháng chạp giống trì trì, trong đó bông rinh và trì trì là lúa gieo.


Lúc Trương Định mang giống lúa vào, một số bà con cho là trong này vốn có tập quán trồng lúa nước, e rằng giống lúa mang từ miền Trung vào không phù hợp với thổ ngơi ở đây, nên không ai chịu. Trương Định liền tự gieo ở ruộng riêng của mình. Chị Hai Thưởng lúc đó đang có bầu cũng vẫn ráng giúp chồng chăm bón cho lúa. Quả nhiên, giống lúa Quảng Ngãi bén duyên đất Tân An, mùa sau cho một vụ thu hoạch tăng gấp bội. Vừa lúc đó, chị Hai Thưởng cũng mãn nguyệt khai hoa, sinh một trai, Trương Định vui mừng vì mùa màng bội thu, liền đặt tên cho con trai là Huệ, nghĩa là bông lúa để kỷ niệm.


Bỗng thằng Huệ reo to từ ngoài ngõ:


- A! tía đã về! Tía về rồi đây nè, má ơi!


Thiệt là cực cho thằng nhỏ, đã hơn một năm nay, Trương Định mắc việc chống giặc ở Gia Định không có thì giờ về Tân An thăm vợ con. Tết này, Trương Định cũng báo tin cho vợ biết là không về đuợc. Thế là chị Hai Thưởng dẫn thằng Huệ lên tận trại quân để ăn Tết với chồng. Bắt đầu đặt chân tới Gia Định từ chiều ba mươi Tết, vậy mà hai mẹ con cũng chỉ được hàn huyên với Định từ chập tối đến giao thừa, còn từ giao thừa đến tận chiều mồng một, Trương Định cứ đi miết, tới giờ mới thấy ló mặt trở về. Thằng Huệ đã sắp sẵn bao nhiêu chuyện để nói với tía nó, nào chuyện con vịt béo mà má nó mang lên ăn Tết là do chính nó cho ăn nên mới béo được như vậy, nào chuyện con dế lửa của nó đã đá thắng con dế mọi của thằng Biên; nào chuyện con mèo hư quá đã ăn thịt mấy con chim gáy mà tía nó gởi chú Quản Lịch cũng quê ở Tân An, về thăm nhà ghé đưa cho nó. Nào chuyện ngoại nó rầy tía nó cứ đi hoài không săn sóc gì tới má con nó, và nói rằng ông sẽ lên kiện tận ông quan to nhất về tội tía nó không léo hánh về nhà, nó thấy cần phải báo trước cho tía nó biết mà trốn kỹ đi kẻo ngoại nó bắt về mất. Nó cũng biết là có chuyện lớn bằng trời tía nó mới phải bỏ má nó mà đi, nên nó không giận tía mà lại trách ngoại nó sao lại rầy tía nó như vậy. Nó tự cho nó và tía nó về cùng một phe, chống lại ngoại nó. Chỉ còn má nó không biết thế nào, liệu có đứng về phe nó với tía nó không?


Bao nhiêu chuyện quan trọng cần nói mà chưa nói được, tức ghê đi. Bây giờ tía nó về, hỏi nó không mừng sao đặng. Nó kéo tay tía nó vào tận trong bếp để trao trả vào tận tay má nó, đó cũng là một chiến công của nó trong ngày hôm nay.


Nhưng nó bỗng xịu mặt khi thấy tía nó nói:


- Tôi chỉ quẹo qua nhà chút xíu báo cho má con hay cứ ăn cơm trước đi, khỏi chờ tôi.


Chị hai Thưởng ngẩn người, chiếc đũa lật bánh rớt xuống mặt than, chị cũng không biết. Mãi khi thấy mùi khét, chị giật mình nhìn lại thì lửa đã bén vào chiếc đũa cháy thành ngọn lửa khiến lửa táp vào mặt bánh cháy đen một góc. Chị đâm ra cáu gắt với con:


- Chỉ tại cái thằng nhỏ kia ham ăn quá, bắt phải nướng bánh phồng trước cho nó, nếu không, em nấu xong món vịt tần cho anh ăn trước khi đi rồi.


Thằng nhỏ bị rầy, mặt càng chảy dài ra, nước mắt vòng quanh, Định vội bồng con nựng nó:


- Đừng rầy con nữa, cứ cho nó ăn bánh đi. Tía đi tới khuya tía về, con ở nhà ráng ngoan ngoãn đừng làm phiền má nghen.


Chị Hai Thưởng vào tận trong nhà ôm một cái thúng ra. Chị lật vỉ đậy thúng, lộ ra một con vịt béo núc ních. Chị đã chuẩn bị con vịt từ mấy tháng ròng, hằng ngày cho nó ăn lúa bắp đầy đủ cho nó béo căng, để chờ đến Tết sẽ luộc cho chồng con ăn. Con vịt xứ ruộng ăn ròng bông lúa, ăn lúa mới chín đòng đòng, ăn tôm tép và ăn cá ròng ròng nên béo mập, khi luộc lên cứ là mỡ tươm ra cả ngoài da, cắn một miếng thịt vịt luộcTân An thì lên Sài Gòn vẫn thèm và nhớ đến suốt đời. Ngoài con vịt, chị hai còn chuẩn bị mấy nồi thịt kho và các món dưa góp, nào dưa giá, dưa cải, dưa bông điên điển, dưa cọng môn. Lên tới Sài Gòn chị hai đi lùng mua khô nai Bình Dương cho chồng nhậu. Bên cạnh mấy chồng bánh tét nhưn dừa, giữa ruột chém một cục mỡ béo lền, chị còn trổ tài nữ công nướng thêm mớ bánh phồng, thứ bánh này ăn dính đóc giọng, khô họng và líu lưỡi. Vậy mà bao nhiêu công phu sửa soạn của chị, từ mấy tháng nay đến giờ bỗng hóa thành công dã tràng. Vừa về tới nhà ngồi chưa nóng chỗ, anh lại đòi đi rồi. nhìn nét mặt anh đầy vẻ nghiêm trọng, chị đã hiểu chuyến đi này vô cùng nguy hiểm. Nhưng sống với chồng bảy, tám năm nay, chị đã hiểu tính nết chồng. Chị chỉ còn biết nói một câu:


- Vâng, anh đi nhưng anh nhớ về sơm sớm chút kẻo món vịt luộc nguội hết, ăn mất ngon anh à…


Chân chị bước đi loạng choạng vấp vào cái thúng, con vịt bị động bỗng kêu mấy tiếng cạc cạc rồi im bặt.


Từ ngoài cửa đưa vào mùi khói pháo thơm thơm.


Nhận lịnh xong, Trương Định về đồn Trung chọn một số người cảm tử theo mình mở đường trước tới đồn Cây Mai của giặc.


Gần tới đồn địch, Trương Định ngạc nhiên trước cảnh biến đổi của khu này. Khúc sông bị lấp, nay giặc đã cho đào lại, từ cầu Nhiêu Lộc tới đồn Cây Mai, nối liền hai thôn Bình Tiên và Bình Tây, thông thẳng với sông Ruột Ngựa. Mặt lộ thì chỗ đường sá khuất khúc, chúng bắt dân phu nắn lại cho thẳng và rộng để cho xe ngựa dễ đi. Về việc sửa đường khơi sông, đoạn nào gặp phải dân cư, mồ mả, chùa chiền, chúng đều phá sạch. Một pho tượng Phật với nụ cười vô tư bị chặt cụt tay vứt bên đường.


Dưới kinh Tàu Hủ, chiếc khinh pháo hạm Giắc-ca-rô án ngữ, bên cạnh xúm xít mấy chiếc tàu nhiều dây neo và tàu máy bọc sắt nhỏ. Về phía ngã tư sông Rạch Cát cũng có một chiếc tàu máy lớn đậu để bảo vệ đồn Cây Mai.


Dọc hai bờ kinh Tàu Hủ là các cửa tiệm Hoa kiều buôn bán lúa gạo, với dãy chành dựng san sát. Từ điểm xóm Lá đến cầu Kinh có những ngôi nhà lụp xụp trong có gái điếm và giáo dân ở lẫn lộn.


Bỗng Trương Định nhìn lẹ thấy từ xa có hai bóng người, ông vội truyền cho mấy dũng sĩ nấp vào vệ đường theo dõi. Bóng người tới gần, té ra là một tên lính Ma-ní([1])và một tên Mã- tà([2]). Tên mã- tà cầm trong tay một cành mai lớn, trĩu hoa. Định bấm mấy người nhất tề xông ra ôm hai tên lính vật chúng té nhào. Định quát hỏi:


- Tụi bây đi đâu?


Tên mã- tà run sợ lắp bắp:


- Dạ…Dạ…tụi tôi…


Trương Định thét:


- Nói đi!


Tên mã-tà ấp úng:


- Dạ, tụi tôi được lệnh quan Tây mang cành mai vô Chợ Lớn chúc Tết ông chủ Sầm Tống Hếnh…


- Chúc tết để làm gì?


- Dạ …dạ…để cậy ông đứng ra mua giùm lúa gạo của “các chú” cho quan Tây ạ.


- Bay biết điều phải khai cho rõ địa thế đồn Cây Mai, nếu không thì mất đầu nghen!


Tên mã-tà sợ hãi vội khai hết đường lối vô đồn, chỗ nào đặt vọng gác, chỗ nào có súng ống gì, Định nhất nhất ghi nhớ.


Nhìn cành mai rớt xuống đất, cánh hoa trắng muốt bị lấm bụi, Định thấy xót xa. Hoa trên đất mình mà mình không được thưởng thức, lại bị giặc biến thành một món hàng đổi chác lấy lương thực cho chúng ăn để đánh lại dân mình…


*


Đêm ấy, Nguyễn Tri Phương dẫn ba ngàn dũng sĩ tới đánh đồn Cây Mai. Trước đó, bọn giặc trong đồn vẫn nghe tiếng trống hát bội từ phía đồn quân Việt vẳng lại cho là quân Việt đang mải ăn Tết nên chúng không phòng bị gì, lao vào cuộc rượu chè, đỏ đen sát phạt nhau. Quân ta tới đồn mà bọn chúng vẫn không hay. Tới nơi, Nguyễn Tri Phương hạ lệnh nổ súng. Những khẩu thần công, khóa sơn, đoản mã, khai pháo tới tấp bắn vào đồn giặc. Giặc luống cuống trở tay không kịp, nhiều tên gục ngã trước từng loạt súng của ta. Lợi dụng lúc đó, toán quân đào hầm đã tranh thủ thời gian đào gấp, ép sát phòng tuyến của giặc. Đào hầm tới đâu dựng tạm đồn tới đó. Lúc này hào lũy của ta đã nhích gần tiền đồn của giặc khoảng trăm trượng.


Quân ta sắp phá được cửa đồn, thì trái phá của tàu giặc trên kinh Tàu Hủ và sông Rạch Cát bắn ra như mưa. Một số người bị thương té nhào nhưng Nguyễn Tri Phương vẫn cứ tiến quân. Tiếng súng từ trên tàu liên tiếp nổ vang, miệng các khẩu đại bác phụ thêm, tiếp tục khạc lửa làm sáng cả một góc trời đêm. Nguyễn Tri Phương vẫn bình tĩnh xông xáo giữa trận địa. Cái chết của ông trong lúc này chỉ còn đếm từng ly, từng phút. Nhưng nếu ông lùi một bước ắt quân sĩ nao núng liền. Dầu nguy hiểm, ông cũng phải giữ vững khí thế ba quân.


Bỗng một trái pháo nổ tung làm mấy chiến sĩ đang hăm hở xông tới gục xuống chết liền. Lại một trái nữa rơi trước mặt ông Nguyễn. Trần Nhượng vội nhoài người ra che đỡ cho chủ tướng nên trúng đạn vào lưng và bắp chân, máu chảy lênh láng không đứng lên được. Quân sĩ vội xô lại, vực Nhượng dậy, lấy thuốc dấu buộc vết thương. Trước tình thế ấy, Nguyễn Tri Phương đành hạ lệnh án binh để kiếm cách đối phó với hỏa lực của giặc.


Nhưng sau đó đạn không bắn về phía quân sĩ của Nguyễn Tri Phương mà sau đồn Cây Mai lại thấy nhiều tiếng nổ dữ dội, ánh lửa đạn chói lòa giữa đêm tăm tối. Thừa lúc ấy, Nguyễn Tri Phương vội thúc quân ào ào xông vào cửa đồn, các dũng sĩ vung gươm chém lũ giặc canh gác như chém chuối.


Từ phía sau đồn bỗng Trương Định xuất hiện, lưng buộc chặt một cành bạch mai. Thì ra, sau khi bắt được hai tên lính địch, tra hỏi biết ở phía sau đồn chỉ để một vọng gác nhỏ với mươi tay súng vì ở đó có một mô đất xây đá bao quanh, đủ che cho vọng gác, Định liền cử hai dũng sĩ canh giữ hai tên giặc, còn mình cùng sáu dũng sĩ khác kiếm đường lọt vào phía sau đồn. Chờ lúc đêm tối, quân Định đi sát tới sau đồn, nhìn vào phía trong thấy trên mô đất có đá bao quanh, một gốc mai cằn cỗi, lá xanh già nhưng nở hoa lấm tấm. Xót thương cây mai ủ rũ như một tù nhân bị giam trong ngục, Định đạp cửa hậu xông vào, cùng anh em nhất tề ôm chặt lấy mấy tên lính vật xuống bóp cổ chết không kịp ngáp. Rồi mỗi người chặt một cành bạch mai cột vào lưng.


Thấy tiếng trái phá nổ dữ dội ở mặt tiền, Định biết là quân của chủ tướng đang lâm nguy. Để chia lửa, Định giương súng hỏa mai bắn lên trời một phát. Thấy tiếng súng phía sau đồn, quân giặc hốt hoảng đổ cả về phía ấy, cùng lúc súng giặc trên tàu cũng nhằm phía ấy mà trút đạn. Kế nghi binh đã thành, Định cùng sáu anh em rút về phía trước đồn, mặc cho lũ giặc cứ nhằm bắn vu vơ phí đạn. Tới trước chủ tướng, Trương Định nghiêm trang:


- Bẩm tướng công, chúng tôi xin dâng tướng công bảy cành bạch mai để làm phần thưởng cho những người lập công lớn nhất.


Nguyễn Tri Phương sững sờ nhìn mấy người. Bảy dũng sĩ với bảy cành mai trên lưng trông như bảy cây mai của “Thất mai khu” chụm lại…Một hòn núi cao của phong trào chống giặc đã mọc lên.


III. Vừa nhìn Sầm Tống Hếnh bồng con gà nhạn ra trường, viên cai mã-tà Trần Bá Lộc đã giật mình. Con gà sắc trắng phau, cẳng vẩy trắng xen kẽ đỏ, mỏ trắng, con mắt bạc, nom thiệt quý tướng. Chừng liếc thấy cặp cựa lại càng hết hồn vì rõ là cặp siêu đao nhà nghề của tay thiện chiến. Nhưng vốn tánh thâm trầm, Lộc cứ thả con Ô của mình ra. Con gà này lông tuyền đen nên còn có tên là Ô truy. Con gà nhạn thấy gà địch, ngóc đầu lên cao, mắt liếc kêu: “Cà tót! Cà tót!” Quả là “ kỳ phùng địch thủ, tướng ngộ lương tài”([3])không bên nào phải chạy mặt bên nào.


Tên gia nhân đo lại chiều dài đoạn lấy giấy dán bịt lên cây nhang chân đỏ để làm cữ rồi đốt lên. Một tên khác dò lại chậu nước để “làm nước” một lần chót. Sầm Tống Hếnh đằng hắng lấy giọng rồi hô to:


- Thả gà!


Hai gà so vẩy, đứng thủ thế, hai chân chùn xuống lấy bộ, hai đầu sát mặt đất, hai cặp mắt thôi miên nhau, như hai tướng dữ ngoài mặt trận. Suốt hiệp nhứt, hai con giữ thế lẫn nhau, thỉnh thoảng xáp lại đá một cái không trúng vào đâu. Qua hiệp nhì, gà nhạn vừa rút vào đĩa, chưa kịp phóng chân đã bị gà Ô đá té lăn ra ngoài, chót cựa gà Ô móc rách một đường trầy bên bắp vế gà nhạn, không sâu lắm. Con gà bị thương hơi nhót một chân, nhưng nó nổi xung lên xáp lá cà dữ dội.


Sầm khoái trá cứ chạy đi chạy lại theo sát con gà vừa nói những câu gọn lỏn:


- Vai nó đi con, ừ vai nó nữa đi con!


Gà nhạn nắm cắn vai gà địch mà đá. Gà Ô bị trúng cựa ở cổ, máu chảy một vệt, Ô vừa soi vẩy địch, vừa bị máu trào lên họng nghẹt thở nên “khẹt khẹt” hai tiếng nhỏ, mỗi lần rẩy một chút máu tươi điểm sân đất lốm đốm. Sầm lại reo lên:


- Thầy cai thấy chưa! Gà tôi xạ([4])cái nào toàn là “cựa tử” không à!


Cai Lộc vừa thương con gà nòi vừa giận Sầm tím mặt nhưng vẫn cố trấn tĩnh. Miệng y thầm vái van Bà Cậu:


- Ưng ai! Phù hộ! May rủi cho tôi xin một cựa ngay chỗ nhược không dám xin nhiều.


Gà Ô chưa xạ lại được cái nào thì cây nhang cháy đến chỗ giấy bịt báo hiệu hết hiệp nhì. Tên gia nhân vội “làm nước” cho con gà nhạn. Ôm con gà bê bết máu lên, hắn kề môi ép miệng sát vào da gà, chỗ bị cựa mà hút máu. Kế đó,hắn phùng má ngậm hết vừa đầu vừa mỏ con gà rồi thổi hơi của mình vào phổi nó. Chưa hết, hắn còn hút cả hơi gà ra nữa! Trông thật ghê tởm. Nhưng hắn muốn có tiền thì có nề hà gì dơ bẩn.


“Làm nước” xong, gà nhạn lại sung sức, tấn công ngay bằng những đòn sỏ, đòn mé([5])thật mạnh. Sầm nhìn con gà có “vẩy yểm lông” một cách khoái trá. Lão nghiêng đầu nói nhỏ với tên gia nhân rằng gà nhà sẽ thắng.


Bên kia, Cai Lộc cũng nhìn gà nhạn không chớp mắt và ngạc nhiên trước vẻ nhút nhát của con Ô truy cứ né tránh đòn không chịu phản công. Gà nhạn đá liền sáu lần thì gà Ô quay lưng hình như muốn chạy khiến Lộc hốt hoảnggần nhảy vào đấu trường! Sầm đắc ý nói to:


- Thôi chịu độ phứt đi cho rồi. chín hấu mại hơi([6])làm chi thầy!


Gà Ô vừa xoay mình thì gà nhạn chồm theo cắn trên lưng đá với một cái nhưng không trúng vì gà Ô bước thêm bước nữa, đồng thời nó xoay trở lại đá vụt lên. Gà nhạn vừa mới đặt hai chân trên đất chưa kịp lấy thăng bằng nên không né tránh nổi. Cả hai đầu cựa nhọn của gà Ô đâm lút vào cổ. Gà nhạn ngã xuống giãy đành đạch.


Chợt Tôn Thọ Tường bước vào, trông thấy reo to:


- Trời ơi! Ngón Hồi mã thương([7])của La Thành!


Nói xong, Tường nhếnh mép cười nham hiểm:


- Nè, “khôn ngoan đá đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau” phải vậy không thầy Cai!


Lộc dư hiểu “mẹ”ở đây là Tường ám chỉ “nước mẹ”Phú Lang–Sa của hắn, nên cũng trả miếng lại:


- Cậu Ba Tường! Miệng cậu còn sắc hơn cả cựa con Ô truy của tui nữa đó.


Sầm đang ôm xác gà nhạn chảy nước mắt, không hiểu hết thâm ý câu ngạn ngữ Việt Nam, chỉ nghếch lên nhìn Tường ngơ ngác. Cai Lộc vội giới thiệu:


- Thưa cậu Ba, ông này là chủ hiệu lúa gạo lớn nhứt Chợ Lớn đó. Ông tính mở hẳn một cái chợ cho người Lang-Sa có chỗ mua bán lúa gạo thực phẩm, khỏi đi mua bòn vét khắp nơi. Tui rước cậu tới nhậu là để cậu hiến kế giùm ổng chớ có phải để cậu đá móc hậu ổng đâu, cậu Ba…


Tường thấy mối lợi, vội đổi giọng:


- Nói giỡn chơi chút xíu vậy thôi chớ đá gà là một cái thú tao nhã lắm chớ bộ. Rất đỗi như đức Tả quân Thượng công mà còn ham cái món này huống chi tụi mình. Có bữa ngài mắc coi đá gà, vô triều trễ, đức vua liền rầy: “Đá gà mà cần thiết hơn việc quân quốc hả”. Tả quân vẫn thản nhiên tâu: “Muôn tâu, nếu hạ thần đã giúp được bệ hạ việc quân quốc là bởi học con gà. Cứ theo sách thì gà đầu có mào như đội mão là Văn, chân có cựa nhọn là , thấy kẻ địch trước mắt dám nhào vô là Dõng, thấy cái ăn thì kêu đồng loại tới cùng ăn gọi là Nhơn, ban đêm cứ tới giờ tới canh thì gáy là Tín. Đức vua mỉm cười ủy lạo mấy câu và hẹn Tả quân bữa sau đem hết gà vô cung đá dâng ngự lãm…


Cả bọn cùng cười ran, ngay cả Sầm không hiểu câu chuyện cũng nhe hàm răng vẩu cười hê hê… Cai Lộc nói:


- Năm đức đó hổng biết có học trọn được không, bữa nay chỉ xin học cái đức Nhơn của con gà thôi à. Ông chủ đây có mần mấy món nhậu rước cậu Ba tới nhậu chơi, tiện dịp viết giùm ổng đôi liễn…


- Tưởng cái chi chứ cái món chữ nghĩa thì khỏi lo. Tường này có dư cũng tỷ như ông chủ dư lúa dư bạc vậy. Tường chỉ cần xài mấy cọc chữ lẻ thôi còn cọc chữ chẵn Tường vẫn giắt lưng dùng trọn đời chưa hết, ông chủ à!


Sầm nắm cả hai tay Tường lắc mạnh:


- Ngộ pắt tay theo nối các quý quan như dầy, dăn minh chớ cậu Ba…


Bàn tay tháp bút của Tường bị mười ngón tay chuối mắn bóp mạnh khiến Tường nhăn nhó nhưng vẫn gượng xã giao:


- Mình cứ giữ cái món quốc hồn quốc túy mà hơn ông chủ à…


Sầm dẫn hai người vô nhà. Một thồi rượu thịnh soạn đã được bày. Thấy hai chai rượu Mai Quế Lộ, Ngũ Gia Bì, Lộc reo:


- Như vậy mới là mỹ tửu chớ. Hạp khẩu vị tui lắm mà!


Sầm cười;


- Cái nị mà hổng thích rượu Tàu thì đã có ắp-xanh, cỏ nhác([8]) hổng thiếu thứ gì hết trơn à.


Tường hỏi:


- Có rượu nếp Hốc Môn hay Gò Đen không ông chủ?


Lộc quay lại Sầm:


- Cậu Ba đây chỉ ham cái món quốc hồn quốc túy!


Tường cười:


- Thì phải xài cái món đó mới ra cái giống chữ nho chớ uống cô- nhắc nó lại lòi ra cái giống chữ Tây thì hư bột hư đường hết, phải vậy không ông chủ?


Sầm cũng cười:


- Hầy dà, thì cái món mở chợ, ngộ cũng phải lói với tồng chủ tồng pang là để tranh quyền nợi cho Huê kiều thì họ mới chịu, chớ biểu dâng chợ cho Tây thì chỉ có Tây ló mới nghe, hà hà… Nào ta cụng ly, rước cậu Ba, thầy Cai…


Nhấp một ngụm Mai Quế Lộc, Sầm chợt thấm thía nỗi đau mất con gà nhạn vừa rồi. lão quay hỏi Cai Lộc:


- Ngộ lói thiệt dới thầy Cai, gà của ngộ mua tận pên Tàu, đá thắng cả gà của vua Cao Miên, ló có cái dẩy yểm lông ở kẹt móng chưn, lổi tiếng “nhứt kê địch vạn”([9]). Dậy sao lại chịu thua gà thầy Cai, thầy mách dùm ngộ dài pí quyết đi, thầy!


- Có gì mà lạ, gà tui là gà nòi Cao Lãnh, chánh hiệu con nai à. Trước hết nó có cái bớt đen ở lưỡi lại có lông voi mọc ở cánh, sau cùng là vẩy yểm lông mang tên “Nhơn đầu hổ” mọc ở chân, hội đủ ba điểm đặc sắc đó mới xứng danh thần kê, đủ gây sóng gió khắp các kê trường. Khi mua về, tui làm một cái chuồng riêng, cho ăn uống bằng lúa, bắp và nước lóng phèn cẩn thận. Lại phải cắt lông, hớt mồng và tích([10]), xổ đúng cữ mười ngày một lần mà ít nhất phải bốn quầng mới cho ra trường. Nào vô nghệ, cho ăn lúa gút, đổ nước đêm, sáng quần sương ăn cỏ([11])… Mới nói sơ sơ như vậy thôi, đến chuốt cựa, cho nước lại càng phải đầy thủ đoạn, tùy trường hợp gà đi trên, đi dưới, đá vỉa([12]), đá vai hay xỏ mé… để áp dụng cho đúng chiến thuật, cho tới mánh lới bắt hay thả gà khi đến nước nhang. Tại trường, việc cáp độ hay cầm chạn([13]) lại còn phải so đo cẩn thận tỉ mỉ về cao thấp, lông cựa, nặng nhẹ… Tuy vậy gà cũng bán độ, phản độ như ngựa về ngược vậy, cho nên dầu Xích Mi Lão tổ cũng ra mồ hôi ướt áo, trút túi. Được cái con Ô truy này mỗi lần xổ, tui bịt cựa gà bằng miếng vỏ của trái dừa khô lại đem gà ra đồng vắng chỉ có tui và người nuôi xem thôi, để luyện cho nó những nước hay mà những chú gà khác không biết. Quả nhiên con Ô truy đá mỗi lần có một đòn khác nhau, mà đòn nào cũng ác liệt ra trò. Không có con nào chịu nổi nó ba hiệp. Nó tuy cụt đuôi, nét mặt lầm lì nhưng dáng đi chắc nịch, cựa dài và nhọn, nên nhiều con vừa gặp nó đã chạy mặt, nhứt là khi nó đập cánh vươn lên gáy…


Tường tấm tắc:


-             Con gà này có thể sánh với con gà gỗ trông lù đù mà lợi hại nói trong sách của thầy Trang. Nghe câu chuyện về thuật nuôi gà đá, Tường này đã được một bài học về cách xử thế, xin đa tạ, đa tạ…


(còn tiếp)


Nguồn: Đuốc lá dừa. Tiểu thuyết. Rút từ bộ Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 







[1] Ma ní bởi chữ Ma-ni, thủ đô Phi Luật Tân. Đây chỉ bọn lính người Phi Luật Tân (khi đó là thuộc địa của Y Pha Nho tức Tây Ban Nha). Lúc đầu Pháp liên minh với Tây Ban Nha sang đánh ta, nên Tây Ban Nha đưa lính Phi Luật Tân sang đánh thuê.




[2] Mã- tà bởi chữ Matamata tiếng Mã Lai có nghĩa là cảnh sát. Cuối thế kỷ 19 dân ta dùng chữ mã-tà để gọi bọn lính ngụy.




[3] Cờ gặp đối thủ, tướng gặp đối phương tài giỏi.




[4] Đá hai bên phóng tới, mỏ không cắn gà kia.




[5] Đá sỏ, đá mé là nắm cắn mé (mép môi) hay sỏ(mồng)mà đá.




[6] Danh từ dùng trong trò chơi bài cảo hâu(cửu chảo)của người Triều Châu. Các tay con khi chia bài rồi thấy bài không liền thì hô lên “Mại”(không), nếu có hai ngưoời nữa cũng hô như vậy thì xóa bài chia lớp khác. Ttrong khi ấy người cầm bài tốt không chịu sẽ xin đánh và nếu thua sẽ chung tiền gấp hai. Có người tuy bài tốt mà vẫn vờ “mại hơi” để dụ đối phương.




[7] La Thành là một tướng giỏi đời Đường có mẹo vờ quay ngựa chạy rồi lừa dịp phóng lại mũi thương vào người mải rượt theo.




[8] Tiếng bồi chỉ rượu áp-xanh (Absinthe), cô nhắc (Cognac).




[9] Một con gà địch nổi vạn con gà khác.




[10] Hớt tích là cắt hai miếng da lòng thòng hai bên tai cũng như hai tai gà để tránh gà địch khỏi nắm, cắn nơi đó. Hớt mồng là xén bớt cái mồng lớn bản xòe ra cho gọn.


 




[11] Vô nghệ là om bóp gà bằng nghệ mài sẵn cho da gà đỏ au trông săn cứng. Quần sương là thả cho gà hứng sương sớm mát mẻ.




[12] Đi trên là chỉ nhắm vào bộ trên con gà địch mà đá. Đi dưới là chỉ chui luồn phía dưới gà địch, dội ngược cho té rồi xạ mạnh hoặc nhắm bộ dưới mà đấm đá. Đá vỉa là chuyên luồn vào nách gà địch, luồn đầu lên nắm cổ nắm vai, nắm lông trên lưng đá thốc lên.


 




[13] Cáp gà là xem xét cân nhắc từ lông, thịt, cựa, xương, lựa cho hai gà vừa chạn mới cho đá với nhau.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 22.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 09.03.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 09.03.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.03.2017
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.02.2017
xem thêm »