tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19375771
21.03.2013
Tư liệu
Hà Thành thất thủ lần thứ nhất

Trước năm 1873, đã có những sự kiện mà thực dân Pháp gọi là "thăm dò" Đàng ngoài hoặc "chuyến công cán Doudart de Lagrée". Doudart chết vì sốt rét trước khi ra Bắc nhưng nhóm này vẫn còn những sĩ quan hải quân được đánh giá là đã từng thám hiểm vùng biển Đông Dương từ những năm 60 của thế kỷ XIX, đã "cày xới" những vùng sông nước Mêkông và say mê phát hiện Angkor.


Thêm nữa, tên tuổi của Doudart, của Delaporte (đồng thời là họa sĩ và nhà khảo cổ học) đặc biệt còn được ghi nhận trong một số công trình về lịch sử và văn hóa. Tất nhiên, khi đứng ở góc độ những kẻ mò mẫm đi chiếm đất Đàng ngoài, cái nhìn của họ đã có những sự méo mó và khác biệt.


Nhưng so với thượng cấp của họ, những kẻ đang điều hành chính sách thực dân từ "mẫu quốc" xa vời, cái nhìn của những kẻ phải thực thi nhiệm vụ vẫn có lúc không "chính thống", do những ấn tượng vọt ra từ cú sốc bởi thực tế, chưa bị tô vẽ chỉnh sửa lại. Và điểm khác biệt nhất so với chính sử, đó là: Họ cho rằng năm 1873, Chính phủ Pháp đương thời đã không ủng hộ trong cuộc tấn công Hà Nội, dẫu về lâu dài đó vẫn là đích tới của bọn thực dân.


Theo họ, động cơ ngược sông Kôi (sông Hồng) ban đầu chỉ xuất phát từ phát hiện của Dupuis - một doanh nhân - về khả năng phát triển kinh tế nếu kiểm soát được dòng sông này. Từ những vụ thất bại trong kinh doanh ở "nước Trung Hoa, cái tổ kiến ở trong tình trạng rối loạn triền miên", Dupuis cho rằng "có thể lưu thông bằng đường thủy từ biên giới Trung Hoa - Tonkin khoảng 300 cây số trên một đoạn sông Hồng dài 700 cây số trước khi nó đổ vào vịnh Tonkin (…); đây là cách duy nhất để chiếm được những kho báu tiềm tàng về khoáng sản của Bắc Tonkin và Vân Nam". Vậy mà những sĩ quan hải quân tiên phong thực hiện ý đồ này than phiền rằng chính phủ cản trở họ vì Pháp đang lép vế trước sức mạnh của Đức.


 


Bộ trưởng Hải quân và Thuộc địa (không phải ngẫu nhiên mà thời ấy hai bộ phận này được ghép làm một!) cho rằng cuộc chinh phục sẽ "đánh động lòng tham của những cường quốc!". Ngược lại, Đô đốc Dupré đồng thời là Thống đốc Nam Kỳ rất ham hố, nên quyết định ra lệnh nhiệm vụ phải được "bí mật thực thi", tháng 10/1873.


 


Francis Garnier là người chỉ huy nhóm biệt kích hải quân này, vốn đã từng nghiên cứu đường thủy trên Dương Tử Giang, đi tới Tây Tạng, đơn độc ngược sông Mêkông và từng là viên chức ngoại giao phụ trách vùng Chợ Lớn. Dưới quyền Garnier, có hai chỉ huy tàu là Bain và đặc biệt là Balny - người sau này chết cùng Garnier ở Hà Nội khi tới đó hơn một tháng. Ngoài ra, còn có Harmand, vừa là bác sĩ, vừa là chuyên viên trắc nghiệm thủy lưu, trên đường lần mò ra Bắc Bộ họ cùng nhau thiết kế một bản đồ thủy lưu đầu tiên về sông Hồng.


 


Cho tới lúc ấy, đường bộ là cách giao thông thuận lợi duy nhất, và cũng chỉ có một, gọi là "Đường Quan", nối liền Sài Gòn - Huế - Hà Nội. Nhóm Garnier phải nhổ neo từ Sài Gòn trước ngày 25/10, bởi lẽ "gió mùa Đông Bắc tới vào trước cuối tháng này sẽ khiến hành trình rất gian nan" (thư của Balny) và họ rất sợ những cơn "lốc xoáy nhiệt đới (…). Hải trình dự kiến năm ngày, chúng tôi phải mất mười sáu ngày".


 


Hải quân Tây đã liệt kê các tên gọi khác nhau của sông Hồng ở tùy từng miền thời đó: Sông Kôi, Bồ Đề, sông Cả… Và thay vì "Kẻ Chợ", họ nói đến cái tên thi vị: "Thành phố giữa những dòng sông", tức Hà Nội. Còn tên của các "thành phố" gặp trên dọc đường được họ giải thích như sau: Hưng Yên là "Xây dựng sự bình an"; Hải Dương: "Vùng đất biển"; Ninh Bình: "Xứ sở tuyệt đối bình yên"; Nam Định: "Vẻ hấp dẫn của phía Nam" (?). Ta sẽ xem những cái tên thi vị ấy mang lại cho họ những gì trong thực tế.


 


Con tàu chở Garnier đi tiên phong (theo sau có hai tàu chiến khác), ghé vào Huế. Được Tự Đức cho phép ra Hà Nội với lý do giải quyết việc lưu thông trên sông Hồng, Garnier xuống một chiếc canô tới Kinh Bắc. Một tùy tùng của ông ta kể lại: "Chính quyền nơi đây đã hỗn xược sai một viên thuộc hạ chỉ định cho ông nghỉ ở một quán trọ xập xệ (…). Garnier vào thành gặp Nguyễn Tri Phương (…). Sau một hồi tranh cãi, ông được lưu trú tại một nơi khá hơn là "trường thi" ở gần bên thành quách". Lịch sử sẽ ghi lại những ngày tháng, sự kiện, còn đám tùy tùng Garnier lúc ấy chỉ ghi lại những phản ứng trước hành vi "hạ nhục" của Nguyễn Tri Phương: "Ông ta bảo rằng đã đuổi Dupuis rồi, giờ thì Garnier hãy cút theo ông kia (…) và ra lệnh dán những công bố cấm dân không được quan hệ với "bọn cướp từ Sài Gòn tới" (…); cho bắn pháo phóng hỏa từ trong thành xuống phía chúng ta".


 


Cho tới ngày 19/10, các chỉ huy tàu hải quân hộ tống Garnier vẫn nằm chờ trên sông. Và viên Trung úy Bain lấy làm may mắn vì được ngắm cảnh đẹp dọc đường, khi trèo lên một bãi nổi ở Hải Dương. Trong lúc đó, Balny đã thực thi lệnh chuẩn bị tấn công để rửa hận cho "những sự sỉ nhục đối với chúng ta (…) để khiến kinh thành và Tổng Chỉ huy kiêm Tổng đốc Nguyễn Tri Phương của Tongkin phải quy phục".


 


Còn Bain, được giao nhiệm vụ thử xâm nhập vào sâu trong Hà Nội, cũng chỉ thấy được "nhiều phố khá đẹp là nơi ở của người Tàu (…) những tòa nhà lớn nổi bật đều là chùa chiền (…) còn mọi mưu toan nhằm xâm nhập vào nội thành đều thất bại".


 


Và anh ta bắt đầu được nghe "những tiếng chửi sau đó chúng tôi được (phiên dịch) giải thích cho"… Ngày nay, chúng ta không nghe nói đến cửa Tây-Nam. Song thư từ và nhật ký nhóm Garnier còn nói đến một cuộc khai hỏa vào 4h30' sáng 20/10/1873 ở cửa Tây-Nam, sau đó tới cửa Tây, tiếp đến "một trong những cửa của vùng đô thị buôn bán: (…) đó là cửa Đông".


 


Tàu hải quân từ sông Hồng dõi đèn pha chiếu sáng toàn bộ khu vực giữa cửa Đông và cửa Tây, mặt tiền cửa Bắc để nã pháo vào các điểm tháp canh. Bain kể lại đêm chiến thắng "hơi buồn, lính tráng đều say khướt thứ rượu làm bằng gạo lấy ở các ngôi nhà bỏ hoang (…). May mắn là chỉ có dân cư lợi dụng (…). Bò và ngựa được chuyển ra ngoài bằng dây thừng thòng qua các bức tường thành!".


 


Sau đó, Garnier tiếp tục việc "chinh phục vùng châu thổ", tìm cách "thu phục tình cảm" của quan lại địa phương. Về mặt này, bác sĩ Harmand đã dạy cho các sĩ quan trẻ mới chân ướt chân ráo (đúng theo nghĩa đen) từ các tàu chiến lên bộ: "Với dân Annamít, phải nhẫn nại, tinh khôn và luôn bình tĩnh. Đối với họ kẻ phát khùng là loại thô lỗ nhất".


Tới Hải Dương, ông ta đã tiếp xúc với  Quan Bo và Quan An (tiếng Việt trong nguyên bản không có dấu): "Quan Bố là một  lão già nghiện thuốc phiện ù lì và có vẻ hoàn toàn bị viên Quan Án bé nhỏ dắt mũi… (…). Vài ngày sau, họ bị cách chức, do lệnh trên, và những người đến thay thế, cứng rắn hơn, đã tổ chức một hệ thống phòng thủ" (chống lại Pháp)… Harmand còn mách nước cho viên chỉ huy tàu chiến Pháp rằng muốn tóm được những thủ lĩnh chống đối, phải lưu ý tới "sức mạnh của mối liên hệ gia đình ở những vùng này (…). Hãy bắt vợ con họ làm con tin (...). Chặt đầu người vợ nào đồng lõa với chồng"…


 


Tuy nhiên, suốt dọc đường đi tới Phủ Lý, Harmand vẫn ghi nhận sự chống đối của nghĩa quân mà y gọi là "bọn giặc cướp": "Chúng tôi bắt đầu thấy những đám khói đen cuộn lên sau các lũy tre (...), những đám cháy do các đảng cướp nhóm lên". Viên chỉ huy trẻ tuổi là Balny lúc này cũng đã cáo già hơn so với khi mới tới. Nói về sự thất bại trong vụ điều đình với "Quan Bo" ở Hải Dương, anh ta viết: "Viên quan này, nụ cười trên môi, với một vẻ ngạo mạn lịch lãm đặc trưng của dân Annamít, đằng sau vẻ bề ngoài nhã nhặn ấy đã để lộ một cảm giác về sức mạnh"…


 


Điều quyết định với Garnier là trụ lại ở Hà Nội. Song sau gần hai tháng, ngày 21/12/1873 đã được con cháu của Balny ghi lại là "ngày thảm khốc"… "ngài Garnier đã tưởng đạt tới đích rồi và coi nhẹ các toán quân Annamít cùng bọn Cờ Đen"…


 


Theo họ, bởi Garnier bận tiếp các sứ thần của Tự Đức từ Huế ra, nên "bọn giặc" mới áp sát tới, bắn đá vào thành và các cổng thành, từ cách hào 200m. Sau đó, dẫu nghĩa quân đã rút đi, nhưng Garnier và Balny truy đuổi đến tận Thủ Lệ… "kẻ thù nấp trong những bụi tre lao ra bao vây và hạ sát Garnier bằng những nhát giáo".


 


Balny cũng hăng máu, truy kích tới tận chùa Voi Phục "ngôi chùa nằm giữa một vùng nước bao phủ bởi muôn vàn chiếc vòi tỏa ra từ những cây đa ven hồ (…), nơi những con voi đến quỳ phục trước chùa để vinh danh ghi nhớ hoàng tử Linh Lang (…). Balny đã ngã xuống ở góc bức tường bao quanh chùa (…). Từ ngày ấy, để tưởng niệm, ngôi chùa này được đặt tên là chùa Balny" - Đó là lời thống chế Liautey ghi lại về cái chết của Balny.


 


Riêng dân Việt Nam, có lẽ chưa có ai từng biết rằng chùa Voi Phục đã có lần đổi tên là chùa Balny! Pháp đã trả 48.000 và 30.000 frăng (cũ) để lấy đầu Garnier và Balny - còn xác được trả lại 15 ngày sau khi họ chết… Năm 1905, tên Balny được đặt cho một phố ở quận 17, Paris.


 


Trung úy Bain, dẫu vẫn được coi là "sĩ quan thông minh và rất có học" nhưng đã "hoảng sợ trước cái chết của Garnier", sau này cũng không được cất nhắc và chết trong quên lãng của mọi người. Còn cáo già Harmand được đánh giá là "có học vấn, thông minh và rất nhiều tham vọng", đã bỏ nghề y và nghề khảo cổ để tiến thân bằng nghề ngoại giao, trở thành đại sứ ở nhiều nước châu Á.


 


Người đến để thương thuyết sau khi Garnier chết là Philastre, bị những sĩ quan của nhóm Garnier đánh giá là "phá hoại một cách có hệ thống những thành tựu của Garnier". Họ cho rằng đó là do Philastre "mê đắm văn hóa Annamít và là tác giả của nhiều cuốn khái luận uyên bác chú giải Trung Hoa và triết học" nên "viên sĩ quan này đã bị chao đảo"…


 


Khi quân Pháp rút khỏi Hà Nội theo kí kết ngày 15/3/1874, Philastre còn can tội "đã để cờ Annamít treo lên ngay lúc chúng ta còn ở trong thành (…). Ông ta còn phô trương phong tục bản địa, ngồi võng ra khỏi thành mà chỉ có hai lọng che, trong khi sứ thần của Huế có kèm bốn tên che lọng (...). Uy thế của ta vậy là bị chôn vùi!". Ông ta còn kết tội Garnier là "gã phiêu lưu và tên hải tặc… đã liên kết với một tên lừa bịp như Dupuis".


 


Có lẽ do những phản ứng ấy với cuộc "chinh phục" của Garnier, sau này Philastre không được cất nhắc trong binh nghiệp, và trở về làm nghề giáo viên Toán ở một trường trung học. Mục tiêu thấp nhất do lái buôn Dupuis đề xuất khi tấn công Hà Nội là thỏa mãn việc lưu thông trên sông Hồng như vậy cũng không đạt được.


 


Kết cuộc, Dupuis, nhà buôn đã mách nước cho hải quân Pháp thực hiện ý đồ chinh phục Kẻ Chợ, đã bị Philastre ra lệnh tịch thu hết đội thương thuyền, và chết già ở Pháp sau khi thất bại trong kiện tụng liên miên để đòi bồi thường của cải. Riêng Balny, kẻ đã chết cùng Garnier, lại có vẻ "gắn bó" lâu nhất với Hà Nội: Năm 1884, khi xây dựng phố Tây, "ông đốc lý đã cho một con phố nối liền cái hồ nhỏ với sông Hồng được mang tên Balny" - một hậu duệ của Balny ghi lại như vậy. Nhưng không hiểu có ai biết đó là phố nào, ngay từ thế kỷ trước? Mười năm sau, Henry Rivière lặp lại cái chết của Garnier khi đánh chiếm Hà thành lần thứ hai. Song lần này, cuộc tấn công đã được Chính phủ Pháp ủng hộ.


(Câu chuyện kể lại bởi những "lính tây" phiêu lưu)


______


Trong bài, chúng tôi giữ nguyên lối gọi Tongking hoặc Tonkin của Pháp, do nó không hoàn toàn trùng khớp về ranh giới địa lý của vùng Bắc Bộ sau này.


 


Nguồn: antgct.cand.com.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
30/01/1933: Adolf Hitler trở thành Thủ tướng Đức, nhiều cuộc mưu sát không thành, ngày 30-4-1945, hắn tự sát - Tư liệu sưu tầm 29.05.2017
Chân dung Tập Cận Bình - Evan Osnos 29.05.2017
2 bài nên đọc về H. Kissinger - Nhiều tác giả 28.05.2017
Từ Hồ Biểu Chánh đến Khái Hưng - Thụy Khuê 26.05.2017
Việt Nam vay lớn từ 3 chủ nợ chính - Tư liệu 25.05.2017
Trung Quốc mộng thực sự của ông Tập: Một Trung Quốc đế quốc? - Trương Phong (Feng Zhang) 25.05.2017
Trung Quốc và thách thức từ các “Con đường tơ lụa” - Xue Li (Lý Tuyết) 25.05.2017
Mổ xẻ siêu quyền lực của Tập Cận Bình - RODERICK Macfarquhar 25.05.2017
Nhân tố Dalai Lama trong quan hệ Trung – Ấn - Tư liệu 25.05.2017
Nam man tây nam liệt truyện - Trương Thái Du 24.05.2017
xem thêm »