tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21282888
Tiểu thuyết
20.03.2013
Hoài Anh
Đuốc lá dừa

Nguyễn Tri Phương như nóng ruột, đứng thẳng lên. Nhìn những chiếc ghe ngo đua thoăn thoắt từ đường nước quanh chùa ra kinh Vòng Thành rồi đổ ra Chợ Lớn, Nguyễn Tri Phương cảm khái:


- Rồi đây đến cả những chiếc ghe kia cũng phải được huy động ra chặn tàu sắt vỏ đồng của giặc.


Tầm mắt chiến lược cửa một vị tướng đã giúp Nguyễn Tri Phương nhìn thấy trước, từ đường nước này có thể thông ra rạch Bến Nghé và sông Thị Nghè bằng kinh Ruột Ngựa và rạch Lò Gốm. Chiến hạm Tây có thể từ cửa sông vào đến sát chùa Cây Mai nơi ông đang ngồi thưởng mai hôm nay. Từ trên đài cao, ông đưa mắt nhìn bốn chung quanh. Trên con đường rẽ vào cổng chùa, đàn ông áo the thâm, khăn nhiễu, dép da trâu, đàn bà áo tứ thân xẻ vạt, thắt lưng xanh, dép cong, tấp nập đi lễ chùa. Dưới dòng kinh, trên chiếc ghe, đoàn thủy trạo mình trần, vận khố, đồng loạt bỏ dầm xuống bơi xốc lên, cho ghe lướt bay trên mặt nước, trong những tiếng hô “ Hè”, “ bon”, tiếng phèng la cầm nhịp. Các mái dầm cùng lúc bổ xuống, móc nước lên trắng xóa, chói lòa dưới ánh mặt trời. Trên bờ, dân chúng đầu bới tóc, vấn khăn mỏ rìu, mình mặc áo vải ngắn tả nhiệm([1]), cổ bâu cao, vận quần xô, thắt lưng xanh lớn bản, dùng để cuốn giữ trầu cau, thuốc rê, giấy bản bọc theo, chân trần, đứng chen chúc reo hò cổ vũ mỗi khi trông thấy ghe vượt mặt nhau. Nét mặt họ đầy vẻ hồn nhiên vô tư, chưa biết rằng một tai họa lớn lao sắp giáng xuống đầu họ, giặc Phú sớm muộn cũng kéo tới. Ở cương vị một đại tướng, Nguyễn Tri Phương phải nhìn thấy trước điều ấy, cũng như phải chịu trách nhiệm về sự yên nguy của trăm họ. Cũng như đứng trên đài cao có thể nhìn xa trông rộng, từ làn khói nhẹ bốc lên ở lò gốm bên rạch, lớp bụi đường cuốn theo bánh xe trâu, hình những người đánh đu ở chợ Tân Kiểng in trên nền trời xanh, ngọn cờ vàng lợt thêu rồng xanh trên nóc cột cờ thành Gia Định uốn éo trong gió xuân, cho tới đường nước trắng xóa như bạc dưới ánh mặt trời, từ đấy ăn thông ra biển, nơi chứa chất những bí mật, những tai họa khủng khiếp sắp nổ bùng ra. Nguyễn Tri Phương đã nhìn thấy trước từ phía ấy những đám mây vần vũ, những đám khói tàu chiến sắp bôi đen ngòm nền trời trắng đục.


Gió thổi qua gốc mai khiến những chấm trắng rập rờn nghiêng ngả. Quyện với ánh nắng, hương mai càng nồng nàn hơn, ngây ngất hơn, nhưng Nguyễn Tri Phương tưởng chừng như phảng phất cả mùi thuốc súng khét lẹt. Buổi thưởng mai đầu xuân trở thành nặng nề vì không khí căng thẳng của quốc sự. Phan Thanh Giản cúi đầu lặng lẽ.


Nguyễn Tri Phương tế nhị, an ủi bạn:


- Bác cứ yên lòng, dù đầu chúng ta có bạc trắng như hoa mai, nhưng trong đời chắc còn nhiều lần được cùng nhau thưởng mai, bác hà tất phải quá ưu tư phiền muộn.


Thế nhưng, chỉ một năm sau buổi thưởng mai, Nguyễn Tri Phương đã được triệu ra ngăn cản chiến hạm Tây khi chúng kéo vào đánh cửa Đà Nẵng. Hết Đà Nẵng lại đến Gia Định, cứ lao đao lo việc chống giặc mấy năm nay. Chùa Cây Mai, nơi hai người đến thưởng mai đã trở thành đất giặc từ khi giặc mới đặt chân lên đất Gia Định. Người bạn cùng thưởng mai đã trở thành kẻ đối lập về chính kiến. Phải chăng cái chí của hai người đã bộc lộ ra từ trong buổi thưởng mai năm trước.


Bảo vệ tình bạn khỏi sứt mẻ sau những xung đột vì quốc sự có lẽ cũng khó khăn như bảo vệ những cây mai khỏi bị hủy hoại trong tầm súng đạn. Không biết bao giờ lại có dịp cùng bạn thưởng mai. Xuân này đã đành không có bạch mai, xuân sau biết có còn bạch mai nguyên vẹn ở chốn xưa chăng?


Bỗng bên ngoài có một người bước vào. Và một giọng trong trẻo cất lên:


- Năm mới xin kính chúc trưởng huynh xuân sắc mãn đường([2])


Nguyễn Tri Phương nhìn lên. Thì ra ông mải suy nghĩ, trời đã sáng lúc nào không biết. Ông niềm nở đáp lời người em ruột:


- Cảm ơn chú Ba. Năm mới, anh cũng chúc chú giết được nhiều giặc và làm được nhiều thơ hay. Thế nào, đầu năm đã khai bút chưa?


Nguyễn Duy - vì người đó chính là Tán lý quân vụ Nguyễn Duy, em ruột ông- khoan thai đáp:


- Thưa huynh trưởng, sớm nay em định khai bút, chợt nhớ đến bài thơ của ông bạn Hy Tăng ở trong kinh gởi vào, trong có câu: “Cử mục Mai sơn thiên lý viễn, Kim triêu xuân sắc cánh hà như”([3]) bất giác xúc động quá, không đề nổi thơ, nên đến mừng tuổi trưởng huynh trước đã…- Nhìn chiếc độc bình không, Nguyễn Duy tiếp lời, giọng cảm khái- Thì ra cũng vì Mai sơn nằm trong tay giặc mà trưởng huynh năm nay không có bạch mai thưởng xuân…


Nguyễn Tri Phương nhạy cảm, muốn xua đuổi cái buồn của Nguyễn Duy trong buổi tân xuân, ông cố kiếm một chuyện vui:


- À chú Ba này, chú có biết tại sao ở Nam kỳ người ta lại ưa dùng mai để thưởng xuân không?


Nguyễn Duy ngẫm nghĩ:


- Hình như người ta theo phong tục Hàn Dũ tầm mai từ đời Đường thì phải…


Nguyễn Tri Phương cười to:


- Các ông nghè, ông cống như chú hễ nói là lại dẫn điển tích. Anh cho là nó không phải có nguồn gốc xa xưa như thế đâu. Tại người trong này nói đớt rồi lầm lộn “Mai” và “May”, “cây mai” và “cây lộc cầu may”. Anh đã từng nghe thấy một ông cử ưa nói: “May quá chừng!” “Mai phước cho tôi quá”. Kỳ thật ý ông muốn nói: “may quá chừng” và “May phước cho tôi quá”. Chính vì sự nói đớt đó mà người ta tin rằng nếu cắm cành mai thì sẽ rước vận may tới nhà. Hồi anh đi kinh lý ở Bến Tre, gặp dịp đầu xuân, một hương chức đã đem dâng một bó bông mù u còn búp, lá trụi lủi, bông trắng xóa, bảo đây là bông nam mai, cũng đem tới vận may như bạch mai!


Hai người cùng cười, tiếng cười giòn tang như pháo Tết. Trong phút chốc, Nguyễn Duy như thấy mình sống lại cái thời thơ ấu, mặc áo dài hàng lam, quần đào xẻ đũng, đi hài đỏ, cổ đeo khánh bạc, làm nũng anh, bắt anh dẫn đi mừng tuổi họ hàng, để được những tấm phong bao giấy hồng điều…Chợt nhìn mái tóc bạc của người anh, Nguyễn Duy chợt nhớ đến thực tế, tuổi thơ đầy hoa bướm ấy đã một đi không trở lại. Ông hỏi anh:


- Thưa trưởng huynh, cháu nó vào Kinh, chẳng hay việc tứ hôn của Ngài Ngự ra sao, xin trưởng huynh cho em biết…


Nguyễn Tri Phương hơi nghiêm sắc mặt:


- Ngài Ngự có lòng thương gả công chúa Đồng Xuân cho thằng Lâm nhà này. Nhưng vì Thái hậu Từ Dũ quá yêu con gái chưa muốn xa rời, lại thêm tuổi già lắm bệnh, muốn có công chúa hầu dưới gối. Vì vậy mà Tết này, cháu Lâm vẫn chưa thể vô Nam, vì ngài Ngự muốn đợi cho đến lúc yên bình mới cho công chúa 1àm lễ quy ninh…


- Chắc cũng là ý Thái hậu sợ trong này đang giặc giã nên không muốn cho công chúa vô, Ngài Ngự vốn chí hiếu, Thái hậu dạy sao ngài chẳng tuân lời. Ngay cả việc nước mà Ngài Ngự còn chiều theo ý Thái hậu nữa là. Em từng được nghe quan Thượng Phan kể chuyện, chính Thái hậu đã nói với những người chủ chiến trong triều rằng: “Các ngươi muốn đánh, đánh rồi thì các ngươi định để mẹ con ta vào đâu?”. Thái hậu sợ nhất là đánh giặc Tây nó giận nó sẽ hủy hoại lăng mộ dòng họ Phạm nhà Ngài ở Gò Công và lăng mộ dòng họ Hồ của đức Thái hoàng Thái hậu ở Thủ Đức, nên mới khuyên Ngài Ngự cầm chân trưởng huynh không cho đánh đấy thôi. Muốn lấy lòng trưởng huynh và đánh lạc hướng chuyện chủ hòa, Thái hậu mới bày ra chuyện tứ hôn để che mắt thiên hạ…


Nguyễn Tri Phương nhìn quanh, rồi vội suỵt:


- Chú đừng nói như vậy, anh em ta ăn lộc triều đình đã lâu chớ nghĩ điều mạn thượng. Anh chỉ ái ngại cho chú, là quan văn trói gà không chặt, mà đến khi động dụng cũng đành phải “xếp bút nghiên theo việc đao cung”…


- Thì chẳng qua vì mọi người cứ lấy nê là thời thái bình nên mới quen thói trọng văn khinh võ. Anh có nhớ câu thơ truyền là của một ông vua đứng ra phân xử giữa hai bên văn võ tranh giành nhau không nhỉ. Vua nhận là: “bên văn sang, bên võ cũng sang”, nhưng lại kết luận đầy thiên lệch: “Gặp lúc thái bình văn trước võ, võ đâu được sánh khách văn chương”…


Hai anh em lại cùng cười, đầy vẻ tương đắc. Nguyễn Tri Phương chậm rãi:


- Không chỉ mình chú “thừa văn quá võ” mà chính anh xuất thân ở văn hàn ty cũng phải đi đánh giặc như thường, riết rồi thành nghề võ luôn. À, chú biết không, cụ Thượng Trứ năm tám mươi hai tuổi, về hưu đã hơn mười năm rồi, mà khi giặcTây đánh phá Đà Nẵng, các quan trong triều vẫn dâng sớ đề cử cụ ra đánh. Cụ khảng khái dâng sớ xin đi đánh giặc, sớ rằng: “Thân già này còn thở ngày nào thì xin hiến thân cho nước ngày đó”. Không may, sau đó cụ từ trần chứ không thì cụ cũng đã có mặt bên anh em ta ở cửa Đà Nẵng ba năm trước rồi.


Nguyễn Duy gạt nước mắt:


- Những người trai trẻ để đâu mà phải phiền đến người già như cụ Thượng Trứ đi đánh giặc? Chỉ cần đọc mấy câu cụ để lại:


Cũng có lúc mây tuôn sóng vỗ


Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong


Chí những toan xẻ núi lấp sông,


Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ”.


Cũng có bao nhiêu người sôi nổi tráng tâm hùng khí mà đi theo bước cụ rồi…


Nguyễn Tri Phương trầm ngâm hồi lâu, rồi nói:


- Anh thì anh nghĩ thế này, những người như cụ Thượng Trứ và cả anh nữa dù có chí khí, nhưng cũng là người thuộcvề một thế hệ già nua rồi. Muốn chống giặc thành công, phải trông cậy vào lớp người trai trẻ. Sách có chữ “hậu sinh khả úy”. À, chú đã biết viên phó lãnh binh Trương Định chưa?


Nguyễn Duy khẽ lắc đầu:


- Em mới vô Nam, chưa biết người ấy, xin trưởng huynh vui lòng kể chuyện cho em nghe.


Nguyễn Tri Phương uống một ngụm trà nhấp giọng rồi ung dung kể chuyện. Vốn là con quan Vệ úy vệ Gia Định, nhưng Trương Định không theo nghiệp cha thi cử võ để làm quan, lại có chí khẩn đất đai, mộ dân làm đồn diền. Năm Giáp Dần([4]), Nguyễn Tri Phương vào nam điều chỉnh chính sách, đồn điền thì Trương Định tự xuất tiền chiêu mộ dân nghèo ở Nam, Ngãi, Bình, Phú vào khẩn hoang lập ấp. Lúc bấy giờ có 21 liên đội ở Nam Kỳ, viên chỉ huy liên đội gọi là Quản cơ, dưới quyền có viên ấp trưởng. Quản cơ kiêm luôn Cai tổng, trong tổng có đồn điền chừng bốn trăm lính. Cứ mười lính có một súng, còn toàn cầm giáo, mỗi liên đội có một đại bác nhỏ. Có võ giỏi có cơ nghiệp, được tín nhiệm vì đã giúp cho một số nông dân có cơm ăn áo mặc, nên Trương Định được bổ chức Quản cơ kiêm Cai tổng ở huyện Tân Hòa. Quản Định đã hết lòng lo cho dân có nhà cửa, ruộng cày. Con cái họ được học hành do Định có sáng kiến mời các thầy đồ ở miền Trung vào dạy.


Ngày 15 tháng giêng năm Kỷ Tị([5]), giặc Tây chiếm thành Gia Định. Trương Định đứng lên mộ nghĩa binh đánh giặc. So với những văn thân cầm đầu các toán nghĩa binh khác như tuần phủ Đỗ Quang, tri phủ Nguyễn Thành Ý, tri huyện Đỗ Trình Thoại, Âu Dương Lân, Trần Thiện Chánh, Lưu Tấn Thiện, thủ khoa Nguyễn Hữu Huân… thì địa vị xã hội của Định ở vào các bậc chót. Tuy vậy, cũng có cái thuận lợi là Định đứng sẵn vào địa vị Quản cơ của một tổ chức dân quân khá lớn. Hơn nữa, giữa các quản cơ với nhau, nghĩa binh của Định đông hơn cả, đến một ngàn người, vừa có quy củ lại vừa thiện chiến. Riêng Định lại tiên phong gan dạ, lập đưọc nhiều chiến công trong những ngày đầu đánh giặc, sau đó được các Quản cơ trong Gia Định chọn làm người đứng đầu. Dần dần số nghĩa binh thuộc quyền chỉ huy của Trương Định lên tới sáu ngàn người. Danh vọng và uy tín của Định đưa ông lên địa vị cao vượt hơn cả những án sát, tri phủ, tri huyện và các văn thân chống giặc.


Khi Nguyễn Tri Phương vô Nam nhận chức Tổng thống quân vụ, cho mời thủ lãnh các nghĩa binh đến hội, sau đó mới phân nơi đóng quân. Riêng Định đem cơ binh đến đóng trước ở cửa Thuận Kiều rồi mới tới ra mắt Nguyễn Tri Phương. Quan Tổng thống quân vụ nổi giận, cho là Định có ý coi thường mình. Định thản nhiên trả lời:


- Tôi xem cách bố trí binh lực của tướng công còn để hở một mặt Thuận Kiều. Đó là đường đi Hốc Môn, Tây Ninh, phía có nhiều rừng rậm, có thể làm căn cứ chống giặc lâu dài. Vạn nhất Đại đồn có vỡ thì quân ta cũng còn đường rút. Nếu ta không chiếm ngay thì giặc Tây cũng chiếm mất. Nên tôi trộm phép tướng công đóng đồn trước rồi mới tới hội. Chắc tướng công cũng không câu nệ tiểu tiết mà thứ lỗi cho.


Nguyễn Tri Phương nghe xong, lật đật mời Định ngồi lên ghế, rồi nói:


- Trước đây, khi thấy ông vừa mở đồn điền đã nghĩ ngay đến việc đón thầy về dạy học, ta đã thầm khen nhưng chưa nói ra. Đến lần này ông đến đóng chẹn nơi hiểm yếu rồi mới tới hội, quả thật là có tầm mắt nhìn xa trông rộng. Cảm ơn ông đã sớm liệu trước dùm ta mặt sơ hở đó…


Vừa nghe kể đến đây, không kìm được, Nguyễn Duy đã vụt reo to:


- Có phải ông Phó lãnh binh này cũng cao cờ lắm phải không anh? Kiểu này là kiểu vào pháo đầu thắng luôn bình phong mã của bên địch… Hà hà…


Nguyễn Duy ngoài thơ phú, trận mạc ra chỉ có một cái thú duy nhất là chơi cờ. Nhưng chơi cờ cũng chỉ để luyện trí óc, gíp ích cho việc thơ phú, trận mạc mà thôi. Nguyễn Duy thường ví làm một câu thơ tìm được chữ hay cũng chẳng khác gì đi được một quân cờ vào đúng chỗ. Còn những chiến thuật đánh cờ đem áp dụng vào việc binh thì tuyệt diệu vô cùng. Nguyễn Duy từng đọc mười ba thiên binh pháp của Tôn Võ Tử, lọc ra đuợc mười nguyên lý chiến thắng dùng vào việc đánh cờ. Thứ nhất là nguyên lý tiên tri, trước khi đấu cờ ta phải biết rõ nội tình thực lực của đối phương rồi mới quyết định kế sách hành động như Tôn Võ Tử đã nói: “Biết mình biết người, trăm trận không bại; chỉ biết mình mà không biết người, một thắng một bại; không biết mình cũng không biết người, mỗi chiến mỗi bại”. Hai là nguyên lý kế hoạch, khi đánh cờ ta phải nghiên cứu và định trước xem nên công hay thủ như lời Tôn Võ Tử: “Kế hoạch càng chu đáo, mật nhiệm bao nhiêu thì cờ thắng bấy nhiêu”. Ba là nguyên lý tự nhiên, ta phải tập trung lực lượng và nhằm vào chỗ hở ít phòng thủ của đối phương tấn công thì phần thắng chắc về ta như lời Tôn Võ Tử: “Hình thể của nước là tránh chỗ cao mà đổ xuống thấp, cũng như hình thể của cuộc hành binh là tránh chỗ thực mà đánh chỗ hư”. Bốn là nguyên lý cầu kỷ, phải tạo cho mình một ưu thế hơn đối phương, tránh không để thất bại về mình, như lời Tôn Võ Tử: “Kẻ thiện chiến biết đứng trước trên vị trí không thể bị bại mà không mất phần thắng”. Rồi nguyên lý toàn tồn, nguyên lý chủ động, nguyên lý lợi động… cũng đều rút từ binh pháp ra cả. Trước khi xuất trận, Nguyễn Duy thường bày bàn cờ ra nghiên cứu các nước đi để lát nữa áp dụng vào trận đánh. Như theo nguyên lý cấp tốc “Việc binh cần phải nhanh như gió, động như sấm sét, xâm chiếm như lửa cháy”, hai xa phải ra thật sớm, tung hoành sát quân, lấn nước, dọn đường cho pháo mã tấn công chớp nhoáng. Như thế mỗi quân cờ hạ xuống bàn là phải có một thế hăm dọa đối phương, hoặc sát quân hoặc chiếm lợi địa và làm tê liệt sức chiến đấu của đối phương. Nghiên cứu địa hình trên bàn cờ, Nguyễn Duy phát hiện ra đường nào chướng ngại vật, đường nào tiến quân ngắn nhất để tiến tới mục tiêu. Nhiều trận đánh thắng giặc, Nguyễn Duy đã thắng trước từ trên bàn cờ rồi.


Biết tính em Nguyễn Tri Phương tủm tỉm cưòi:


- Cái chú này! Ai đời nhân danh một ông Tán Lý mà vẫn cái thói con nít, hễ nghe nói đến ai cao cờ là cứ y như ếch vồ hoa ấy.


- Tán tàn gì cũng không bằng cái món cờ. Để hôm nào em phải mời ông Phó lãnh binh đến giao đấu một trận mới được.


- Chú chơi cờ mới sạch nước cản thôi, đã cao gì cho lắm mà bạ ai cũng đòi đấu. Cái nước mã ngọa tào([6])hôm nọ của tôi chú đã phá được chưa nào!


- Còn ngón đòn song tiên([7]) của em, anh cũng có chọi được đâu!


- Sau này tôi đi cái nước lão mã hồi hương([8]), chú chả chịu thua là gì!


- Em nóng tánh không thể chơi cái kiểu cù cưa đó được. Cùng lắm em dám chơi cái nước liều “Triệu Tử Long nhứt thân đô thị đởm”([9]) là anh phải chịu hàng liền thôi hà.


Tiếng cười lại nổi lên giòn giã, bất chấp cái không khí đầy đe dọa của một thành trấn, giặc đã chiếm đóng quá nửa. Hình như sau câu chuyện về chiến lược, chiến thuật, hào khí đã dâng tràn ngập căn phòng tranh tối tranh sáng này.


Bỗng khuôn cửa được mở rộng để lộ một khung trời trắng ngà màu giấy bản. Viên tùy tướng Trần Nhượng bước vào cùng với một làn gió lạnh ập vào phòng.


- Bẩm tướng công, giữa giao thừa đêm qua, tên lính Trần Bá Lộc bỏ phiên canh, trốn mất tiêu. Theo tiểu tướng biết thì tên này đã chạy vào đồn Cây Mai đầu hàng giặc.


Nguyễn Tri Phương chăm chú:


- Sao ngươi biết?


Trần Nhượng rụt rè:


- Không dám giấu tướng công, Trần Bá Lộc với tiểu tướng vốn có tình anh họ. Nhưng vì mới đăng lính nên chỉ là lính trơn, chưa có chức tước gì. Thấy tiểu tướng vừa là phận em vừa ít tuổi hơn mà lại đóng quản vệ binh, chỉ huy cả cơ binh của Lộc, bên Lộc tỏ ý bất phục. Nhiều khi Lộc bực bội thốt ra lời: Phải đứng trên đầu trên cổ tiểu tướng chớ không chịu kém. Ít lâu nay, thấy Lộc thường đi lại với tên Sầm Tống Hếnh, chủ hiệu buôn gạo ở Chợ Lớn, tiểu tướng có khuyên can nhưng Lộc không chịu nghe. Tiểu tướng vì nể tình họ hàng nên không làm ngặt. Lộc thừa lúc sơ hở đã chạy sang trại gịặc, tiểu tướng xin chịu tội thất sát.


Nguyễn Tri Phương im lặng hồi lâu. Trần Bá Lộc là vệ binh ở đại bản doanh, thế tất phải biết những đường hầm từ Đại Đồn ăn thông với phía dưới đồn trại của giặc. Nguyễn Duy bỗng lẩm bẩm:


- Nhất tốt độ hà, bán xa chỉ lực!([10])


 


II. Trên con đường rộng phẳng, ba viên võ quan Việt đang thong thả bước. Họ đi tuần tra việc canh phòng bảo vệ cho dân ăn tết yên ổn, e Tây có thể từ đồn Cây Mai bất thần thọc ra. Dầu đi bình thường chân họ theo nếp quen vẫn bước thẳng, đầy vẻ hùng dũng. Đi đầu là một con người vóc cao mà mảnh mai, gương mặt đầy, nước da trắng có vẻ một phong lưu công tử, nhưng lại lộ ra khí phách ngang tàng. Riêng vầng trán rộng và đôi mắt sáng nói lên tánh quyết đoán và đa mưu. Đó là viên Phó lãnh binh Trương Định, chỉ huy binh lính giữ đồn Trung.


Người thứ hai, cao lớn, khỏe mạnh, nước da bánh ít, gương mặt vuông, đôi mắt nhìn thẳng thắn, chân tay to bè bè và sần sùi. Đó là viên Quản cơ Nguyễn Văn Lịch([11]), xuất thân dân chài, sau nhập ngũ, làm tùy tướng của Trương Định. Quản Lịch rất giỏi võ, lúc Lang-Sa mới sang, tại làng Bình Trinh huyện Thủ Thừa tỉnh Tân An có nhiều kẻ bất lương nổi lên làm trộm cướp. Nhưng khi ông tới, bọn chúng đều tan hết, dân làng liền cử ông làm chức Hương quản. Khi Trương Định lập đồn điền, ông cũng mộ dân phu tới góp sức khai khẩn và khi Định dấy nghĩa quân, ông cũng theo luôn. Ông có oai nên quân sĩ đều mến phục.


Người thứ ba thấp nhỏ, mắt lé, cằm nhọn nhưng trán dô chứng tỏ là một tay gan góc, táo tợn. Đó là viên Đội Huỳnh Tấn, người làng Phước Hậu, Chợ Lớn, cũng theo Trương Định làm lính đồn điền từ ban đầu nên được Định tin cậy.


Ba người cứ lầm lũi đi, không ai nói với ai một lời. Con đường vắng ngắt, đầu năm mới mà không người qua lại. Hai bên những căn nhà bằng gỗ, lợp ngói bị giặc đốt nham nhở. Trước đây, những nhà này vào bậc phong lưu với bộ cột gỗ danh mộc: gõ, cẩm lai, cây núi, nóc lợp ngói, vách có phong tô hẳn hoi, khiến người ta qua lại cũng phải dừng chân hít hà: “Hứ! Nhà gì cột bóng ngó thấy mặt, vách rờ mát tay!”. Vậy mà giờ đây chỉ thấy cột kèo đồ lỏng chỏng trên một đóng tro than bừa bãi.


Khỏi cầu Ông Lãnh bắc bằng cây danh mộc, ba người qua Cầu Muối. Chỗ này trước đây tấp nập những “ghe cửa”chở muối cập bến, kề sát những kho hàng lá dùng chứa muối. Bây giờ chỉ còn trơ trọi mấy dãy nhà xơ xác, mặc cho mưa sa nắng táp. Chỗ rạp hát bội xưa kia trống phách om xòm, giờ cũng im lìm nép bên ngôi đình rêu mốc.


Khỏi Cầu Muối đến Cầu Kho, mấy dãy nhà kho Cầm thảo của nhà vua xây để tích trữ lúa gạo của vùng lục tỉnh tải lên nộp cống, giờ đây cũng vách lỏ tường long. Trên một cổng gạch, có đắp ba chữ Hán “Tân Triêm Phường”. Đây là chỗ ở của ông Tú tài Nguyễn Đình Chiểu. Mấy tháng trước, Trương Định đã nhận lời ủy thác của ông Đỗ Trình Thoại, Tri phủ Tân Hòa, bạn đồng khoa của ông Tú, tới đưa ông Tú tạm lánh về Cần Giuộc vì ông nhất định không chịu rời khỏi vùng khói lửa. Bữa đó, Trương Định phải khẩn khoản nói, nếu ông Tú không chịu đi thì mình có lỗi với ông Huyện Thoại. Cuối cùng vì quá nể lời nên ông mới chịu để cho binh lính của Trương Định hộ tống ông về Cần Giuộc.


Đi qua chỗ ở của ông Tú, Trương Định nhớ lại bài thơ “Chạy giặc” ông đọc cho nghe hôm mới gặp:


Bến Nghé của tiền tan bọtt nước,


Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây


Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắn,g


Nỡ để dân đen mắc nạn này?


Hai câu cuối như mũi dùi nhọn nung đỏ xoáy sâu vào lòng Trương Định.


Quản Lịch bỗng đi gấp mấy bước cho kịp Trương Định, níu cánh tay Định:


- Bác Lãnh nè, tôi nghe nói chợ Tân Kiểng trước đây có nhà sư đánh cọp, có đúng vậy không?


Trương Định gật đầu:


- Phải. Nghe các cụ kể lại đầu năm Canh Dần([12])đời chúa Định Vương, khi mọi người đang ngủ yên, có con cọp dữ vào nhà dân ở phía Nam chợ quấy phá. Dân chúng sợ hãi báo với Đồn dinh cho lính vây bắt. Phải dở nhà cửa làm nhiều lớp rào bao vây, nhưng con cọp rất hung tợn không ai dám động tới. Sang ngày thứ ba, có một vị thầy chùa tên là Hồng Ân cùng đồ đệ là Trí Năng đi quyên giáo qua, xin vào bắt giùm. Hồng Ân giao đấu với cọp một chặp lâu, cọp bị đánh đau, chạy núp trong lùm tre. Hồng Ân rượt theo, cọp bị khốn quay lại đấu với Ân. Ân bước lúi té xuống mương bị cọp vồ xé, nhờ có Trí Năng tiếp tay đánh trúng đầu cọp chết liền, nhưng Hồng Ân cũng từ trần vì vết thương quá nặng. Người quanh chợ cho là Ân có nghĩa khí đem chôn cất ngay tại đó. Chỗ có cái tháp kia kìa là mộ Hồng Ân đấy.


Quản Lịch nhìn theo tay Định chỉ, thấy một ngôi tháp vôi trắng mốc rêu vươn lên trời. Ông nói với Định:


- Cọp dữ không bằng giặc Lang–Sa bây giờ. Bác Lãnh giết được thằng tướng giặc Bác – bê cũng coi là trừ được một con cọp cứu nguy cho dân lành đó.


Đội Tấn muốn lấy lòng người trên, cũng vồn vã:


- Câu chuyện giết thằng Bác–bê ra sao, quan Phó lãnh binh kể cho bọn tôi nghe nhờ chút.


Trương Định khiêm tốn gạt đi nhưng Tấn cứ nài mãi nên ông đành kể lại đầu đuôi. Số là ở Gia Định có một phụ nữ thuộc dòng quyền quý tên là Thị Ba, bị cha mẹ ép duyên với viên lãnh binh Nguyễn Văn Sất. Khi giặc chiếm đóng Gia Định, Thị Ba phải lánh vòng khói lửa về ở làng Bình Lý. Ở đó, giữa cảnh đồng ruộng bao la, Thị Ba gặp một người bạn quen từ nhỏ hiện là Quản cơ, tên là Nguyễn Văn Tri. Giữa Tri và Ba nối lại mối tình đậm đà. Trong khi đó viên phụ tá của Quản Tri là Đội Dinh cũng rung động trước sắc đẹp của Thị Ba, nhưng bị Thị Ba khinh rẻ. Đội Dinh lấy làm hổ thẹn và tức tối, hắn bèn lập mưu gài bẫy Quản Tri và Thị Ba, khiến cả hai đều bị Lãnh binh Sất bắt trói và thả trôi sông.


Lúc này, tên quan ba Lang-Sa Bác-bê đang đóng tại chùa Khải Tường. Một bữa đang đi săn. Bác-bê thấy ở giữa sông Sài Gòn có chiếc thuyền trôi bềnh bồng, trên thuyền có hình người. Vì tò mò, Bác-bê kéo chiếc thuyền vô bờ thấy một người đàn ông và một người đàn bà bị cột lại với nhau. người đàn ông đã chết, còn người đàn bà thì hấp hối. Bác-bê bèn lấy dao cắt dây trói rồi cho khiêng người đàn bà về đồn. Người đàn bà khá xinh khiến Bác-bê ưa thích ngay từ lúc đầu, nhưng về đồn bị đau luôn trong hai tháng, may nhờ có thầy thuốc và Bác-bê chăm sóc, nên lần lần phục sức. Sau ba tháng tĩnh dưỡng tại đồn, người đàn bà xin phép viên quan đi thăm bà con, còn thề thốt sẽ trở lại.


Một đêm kia, có một người Việt tới kiếm Bác-bê và cho hay người bạn lòng của y là Thị Ba đau nặng sắp chết tại một ngôi chùa cách đồn của y hai tầm súng. Lập tức y lên ngựa ra đi. Khi đến một khúc quẹo cách chùa Khải Tường ba mươi thước thì quân mai phục của ta xông ra dùng giáo đâm y lộn nhào từ trên mình ngựa xuống chết.


Nghe xong, Quản Lịch hỏi gặng thêm:


- Sau bác Lãnh lại rõ chuyện Thị Ba mà dùng kế mai phục giết Bác-bê hay quá vậy?


- Có gì đâu. Ta bắt gặp Lãnh binh Sất đón đường trước chùa Khải Tường bắt Thị Ba, ta liền trói cả hai giam vào một nơi chờ nộp lên quan Tổng trị tội vì chuyện ghen tuông mà để hại việc nước. Rồi tương kế tựu kế, cho người tới báo với Bác-bê là Thị Ba đau nặng…


Đội Tấn reo lên;


- Quả là mưu Gia Cát! Một Bác- bê chớ mười Bác-bê cũng phải nộp mạng trước quan Phó Lãnh binh.


Miệng nói vậy nhưng bụng Tấn lại nghĩ khác. Từ lâu Tấn đã ngấm ngầm bất mãn vì Định đặt Lịch ở trên mình. Lại thêm từ ngày Lang- Sa chiếm thành tới nay quân triều thiếu lương thực tiếp tế, ăn uống kham khổ, lúc nào cũng gần kề nguy hiểm trước một bọn giặc súng ống tinh xảo hơn, Tấn đã ngã lòng cho rằng bên quân triều khó mà chống cự nổi. Mới đây tên cai mã tà Trần Bá Lộc ở bên đồn Lang-Sa đã cho người bí mật liên lạc với Tấn, rủ Tấn sang đầu Lang-Sa sẽ được trọng dụng. Nhưng Tấn thầm nghĩ bỏ chạy theo Lang-Sa lúc này chưa phải lúc. Ở đời nên giữ cái mẹo khôn: “Ăn cơm đi trước, lội nước đi sau” chờ tới lúc tình thế ngã ngũ hẳn sẽ hay. Vả lại muốn theo Lang-Sa thì thiếu chi cơ hội, mình cứ nằm trong hàng ngũ quân triều, kiếm cách leo cao bám sâu, có khi lại giúp được người Lang-Sa đắc lực hơn cũng chưa biết chừng.


Bỗng Tấn giật thót người vì một tiếng thét của Quản Lịch:


- Phải chém! Chém!


Tưởng Lịch đọc được những ý nghĩ thầm kín của mình, Tấn đã toát mồ hôi, nhưng định thần lại thì nghe thấy Lịch nói:


- Những tên Lãnh Sất, Quản Tri, Đội Dinh mang danh là quân nghĩa mà vì chuyện riêng tư tàn hại lẫn nhau thiệt là đáng giận! Đúng là con sâu bỏ rầu nồi canh!


Trương Địnhthong thả:


- Chú Quản nên nhớ rằng những người đó dầu sao cũng là quan quân trong cơ ngũ của triều đình, khi bình thời cái thói gian dâm bức hiếp dân lành đã quen mất nết đi rồi. Bây giờ bất đắc dĩ phải dùng họ đánh giặc ngoại xâm, những thói hư tật xấu của quan quyền trước đây đâu dễ gì đã gột bỏ được một lúc. Chỉ trừ phi bọn ta mộ một đội quân riêng gồm toàn những người ứng nghĩa, lúc đó mới nói chuyện được, còn cứ để lẫn lộn như hiện nay, có khi bọn gian tế của giặc trà trộn trong hàng ngũ ta cũng nên…


Tấn lại giật thót mình một lần nữa. May cho y lúc này Định mãi nhìn về phía khác nên không thấy mặt y đang tái dần.


Từ đằng xa thấy Trần Nhượng hộc tốc chạy lại thở hổn hển:


- Trời ơi! ông Phó lãnh binh, ông để tôi đi kiếm ông thiếu điều hụt hơi. Quan tổng có lệnh vời ông tới bản doanh có việc gấp.


Trương Định gật đầu với Nhượng rồi quay lại Lịch và Tấn:


- Các ngươi hãy về canh phòng đồn trại, ta phải vào hầu            quan Tổng, coi người truyền dạy ra sao.


                                              *       


- Năm mới tiểu tướng xin kính chúc tướng công trường thọ, phước lộc song toàn, mã đáo thành công, kỳ khai đắc thắng([13])


Nhìn viên tướng uy nghi trong chiếc áo dài màu lam, thắt lưng điều bỏ giọt, quấn khăn nhiễu tam giang, quần trắng nhét trong đôi ủng đen mũi cong, Nguyễn Tri Phương niềm nở tiếp lời:


- Không dám. Năm mới ta cũng chúc ông Phó lãnh binh giết được nhiều giặc, lập được nhiều công. Có tin gì mới không?


Lần nào gặp Trương Định, Nguyễn Tri Phương cũng bắt đầu bằng câu hỏi này. Đó là vì ông tin tưởng Định là người có trí, sáng suốt và rất thiết thực. Không những thế, Định còn rất dũng cảm, lần nào cũng đi tiên phong đánh giặc. Trong trận đánh đồn Kiểng Phước, nghĩa binh của Định đã giết được hàng trăm tên giặc, đồng thời ngăn chặn chúng phải ở nguyên trong phòng tuyến của chúng không ra đóng được ở mé Chí Hòa. Chiến công ấy cùng với việc giết chết tên Bác-bê vừa rồi, được Nguyễn Tri Phương hết sức khen ngợi, ông đã nhìn thấy trước ở Định tầm cỡ của một vị tướng thao lược, trí dũng kiêm toàn.


Sau khi nghe câu hỏi của quan Thống đốc quân vụ, Trương Định nhỏ giọng nói:


- Tôi mới được tin mật báo, cuộc giao tranh ở bên Tàu sắp chấm dứt nên quân Lang –Sa có thể về tiếp viện cho bọn quân ở Gia Định. Tình hình này ta phải xuất quân đánh đồn Cây Mai trước, cố tiêu hao bằng được một số lớn binh lực, cho chúng núng thế. Nếu để chậm, viện binh của giặc tới kịp, e rằng càng khó xoay sở. Chẳng hay ý tướng công ra sao?


Nguyễn Tri Phương trầm ngâm một hồi:


- Ta đã xin chúa thượng cho đánh từ khi giặc Phú mới rút bớt quân sang đánh nhau với Thanh triều, nhưng Ngài Ngự không quyết. Lần lữa đến nay, viện binh của chúng lại sắp kéo tới, chúng được tin tất cố sống cố chết chống giữ, việc quét sạch đồn giặc không phải dễ dàng. Không những thế, nếu đánh dốc toàn lực, e rằng Thánh thượng lại trách là cứng quá, làm lỡ mất cơ hội giảng hòa. Biết tính làm sao bây giờ?


Trương Định khoan thai nói:


- Tôi thường nghe nói: “Tướng ở ngoài có khi không phải tuân theo mệnh vua”. Hiện nay lòng dân đều hăm hở quyết đánh, cứ trù trừ chừng nào, chỉ càng thêm nhụt nhuệ khí chừng ấy…


Lòng dân… Thì mấy năm nay, Nguyễn Tri Phương đã được hiểu thêm nhiều. Mới ngày nào, khi nhìn những người dân thường hồn nhiên, vô tư, khi đứng coi đua ghe ngo, trên đường nước chùa Cây Mai, ông đã lo lắng: nếu giặc đến thì quân lính của ông làm thế nào mà bảo vệ được họ. Nhưng vượt trên cả sự lo lắng của ông, khi chiến thuyền nhỏ của giặc vào con rạch từ xóm Chiếu đi xóm Củi, nhổ cọc phá cảng, đem quân vào chiếm đóng chùa Cây Mai, chùa Khải Tường, đền Hiển Trung và chùa Chợ Rẫy thì chính những người dân thường kia đã xông ra chặn giặc từ bước đầu. Thành Gia Định thất thủ, quân triều đình bỏ chạy thì những đội hương dũng đã tự động đứng lên đánh giặc. Ngay từ khi thành chưa thất thủ, thì Trần Thiện Chánh, một cựu tri huyện đã bị triều đình cách chức, và Lê Huy, một quân nhân đã bị thải hồi, cấp tốc chiêu mộ được năm nghìn dân dũng, vận động dân chúng góp tiền góp lương, nổi lên ngăn địch, giúp cho Hộ đốc Trần Trí yên toan chạy về ụ Tây Thái, sau khi giặc bắn phá đồn lũy ở Gành Rái mà viện binh của Nguyễn Tri Phương chưa vào kịp. Giữa lúc ở Huế, quan Khâm thiên giám còn xem lịch chọn ngày làm lễ “Khởi mã” để vua Tự Đức đẩy xe tượng trưng cho đại tướng xuất quân, thì những đội nghĩa binh với dao phay, gậy tầm vông đã giết được bao nhiêu tên giặc cướp nước.


Không nói đâu xa, mới cách đây sáu tháng, hai ngàn dân dũng do Đinh Bình Tâm chỉ huy, đêm mồng ba rạng mồng bốn tháng bảy, đánh vào Chợ Rẫy, chùa này là yếu điểm trên phòng tuyến của địch từ chùa Cây Mai về Trường Thi, cũng là nơi mà, nếu bị vỡ, địch phải rút hết các căn cứ của nó ở Chợ Lớn. Thắng giặc rồi Đinh Bình Tâm đem một bộ phận lớn nghĩa dũng đến xin sáp nhập vào quân đội của ông. Chính những người này đã đánh tàu Primôghê của địch đậu trên sông Đồng Nai tháng trước.


Biết như vậy nhưng ông cứ hỏi lại cho thêm chắc chắn:


- Tình hình sĩ phu và bách tính hiện nay thế nào?


- Ngoài các thủ lĩnh nghĩa binh như Hồ Huân Nghiệp, Phan Văn Đạt, Lê Cao Dõng, những văn thân như Huỳnh Mẫn Đạt, Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị, Nguyễn Đình Chiểu đều đứng về phía kháng chiến. Còn Tôn Thọ Tường thì nghe đâu thường thậm thụt đi lại trong đồn Phú.


(còn tiếp)


Nguồn: Đuốc lá dừa. Tiểu thuyết. Rút từ bộ Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info







[1] Áo gài nút phía bên trái.




[2] Sắc xuân đầy nhà.




[3] Non Mai nghìn dặm xa vời, Sớm nay biết có xuân tươi thế nào. Thơ Trần Bích San, tự Hy Tăng.




[4] Năm 1854.




[5] Năm 1859.




[6] Mã ngọa tào: mã nằm tàu.




[7] Ngón đòn song tiên: hai bên đánh xe lật như hai ngọn roi cùng quật.




[8] Lão mã hồi hương: con mã từ bên này sang đất địch sau mươi nước chiếu mới về nhà thành quân giữ nhà, nếu về được thì bên kia thua.




[9] Một bên 16 quân đỏ, một bên còn 4,5 quân có một con mã ngòi, nhảy đi nhảy lại, bên kia cứ phải đấm quân, cho nó ăn đến hết quân.




[10] Một tốt qua sông, bằng sức nửa xe.




[11] Sau đổi tên là Nguyễn Trung Trực.




[12] Năm 1770.




[13] Ngựa đến công thành, cờ mở thắng lợi.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »