tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19002253
Tiểu thuyết
18.03.2013
Hoài Anh
Đuốc lá dừa

I- Trời tờ mờ sáng. Trong màn sương trắng đục hiện rõ dần một đoàn tàu chiến Lang- Sa([1]) tiến dần vào sông Bến Nghé. Những thiết giáp hạm lớn với nhiều lớp buồm chằng chịt dây neo, cột buồm đầu tàu treo cờ ba sắc, thân tàu sơn nhiều màu đề những chữ Phlê-giê-tông, A-lác-mơ, Pri- mô-ghê A- va- lăng- xơ, tiếp đến những tàu hơi chân vịt La  Đra-gon-nơ, En Ca- nô, Prê- giăng… Hơi sương lờ mờ quyện với làn khói đen đặc nhả từ đầu ống khói thấp lè tè làm nhòa một góc trời.


Tới trước bến Thành, cả đoàn tàu dừng lại. Bỗng trên chiến hạm Phlê-giê-tông nhốn nháo, một đám đông sĩ quan mũ lưỡi trai thêu kim tuyến, áo trắng khuy vàng đứng xúm xít quanh tên chỉ huy đội mũ ba sừng, nhung phục xanh lá mạ, đeo ngù vai, đi ghệt, bên sườn đeo một thanh kiếm ngắn. Đó là tên đô đốc Ri-gô đờ Giơ-nui-i. Ri-gô đưa ống nhòm lên. Qua lớp kính, thành Gia Định hiện ra, chỉ cách bờ sông khoảng tám trăm thước, bốn mặt đều đặt trọng pháo. Thành xây đá ong, vuông vức, nhưng khuất sau một dốc đất lớn nên từ ngoài sông nhìn vào chỉ thấy cửa thành và cột cờ nhô ra cao vượt rặng cây và những dãy nhà cửa, vườn tược chạy dọc bờ sông. Ri-gô hạ ống nhòm quay lại thì thầm với một người đội mũ ba cạnh, áo dài đen, đó là viên thừa sai Lơ-phép- vrơ thông thạo địa dư, chữ Nho và tiếng Việt làm hướng đạo cho hắn.


Bỗng hiệu cờ Đô đốc được kéo lên đỉnh cột buồm tàu Plê-giê-tông. Một hồi kèn vang lên the thé. Chiếc A-lác-mơ dẫn đầu hai chiến hạm Pri-mô-ghê A-va-lăng-xơ, vượt qua chiếc Phlê-giê-tông. Những lính thủy đội mũ vải có dải, áo cổ bẻ trắng sọc xanh biển lùi cả xuống, rồi những pháo thủ áo dạ lính dài chấm gối, vai đeo cuộn chăn, quần nẹp đỏ, giày xăng đá hùng hổ chạy lên. Tàu chiến dàn hai hàng, hàng trăm khẩu đại bác đều chĩa nòng vào thành.


Nghe tin cấp báo, quan hộ đốc Gia Định Võ Duy Ninh lật đật trèo lên vọng lầu nhìn xuống đã thấy từ các tàu giặc, đại bác tập trung bắn vào thành, mỗi lúc một dữ dội. Võ Duy Ninh vội truyền lệnh cho quân sĩ bắn trả.


Được tin mấy bữa trước Lang-Sa đem một số quân hùng hậu đánh phá Vũng Tàu và cửa Cần Giờ, Võ Duy Ninh một mặt báo về Huế việc đó, một mặt thông tư đi các tỉnh lấy thêm quân tăng cường cho Gia Định. Nhưng quân các tỉnh chưa về kịp thì giặc đã nổ súng. Vì thiếu chuẩn bị, nên quân ta đối phó rất lúng túng. Đại bác ta bắn phần nhiều rớt ra ngoài đích, chỉ trúng cột buồm, không bắn chìm được tàu địch. Trái lại địch đóng vai chủ động, tha hồ ngắm kỹ các mục tiêu, đạn của chúng phá hủy được rất nhiều cơ sở quan trọng của ta trong thành.


Hỏa lực của giặc mỗi lúc mạnh thêm thì bên ta mỗi lúc yếu dần. Chẳng bao lâu, súng trong thành im bặt, riêng pháo đài phía Nam còn tiếp tục. Tuy vậy trọn một ngày đầu giao chiến, giặc vẫn chưa hiểu lực lượng ta ra sao nên chưa dám hãm thành. Nhưng hôm sau, nhờ sự do thám của tên Giô-rê-ghi-be-ry và sự chỉ dẫn của tên Lơ-phép-vrơ, Ri-gô nắm vững được tình thế Gia Định.


Rạng ngày hôm sau, Ri-gô để một số quân giữ tàu còn bao nhiêu cho đổ bộ hết. Cánh bên trái gồm hai đạo thủy quân lục chiến và những đại đội của tàu Phlê-giê-tông, Pri-mô-ghêEn-ca- nô đánh vào mặt Nam là nơi bên ta bố trí nhiều đại bác vì gần bến tàu nhất. Tên đại úy Ga-li-ma và toán công binh đi theo cánh quân này để nổ mìn các cửa thành, mở lối tiến quân. Một đội lính Y Pha Nho do tên trung tá Pa-lăng-ca chỉ huy cũng được cử làm lực lượng dự bị cho cánh quân này.


Cánh bên phải do tên đại tá Lăng-da-rốt-tơ chỉ huy gồm đơn vị còn lại lính Y Pha Nho và nửa tiểu đoàn lính thủy phải xuống bộ tiến vào chân thành cửa Bắc, phía rạch Thị Nghè.


Một tiểu đoàn còn lại để dự bị ở bờ sông do tên trung tá Rây-bô chỉ huy.


Cùng một lúc, súng đồng từ trên tàu và ô- buy của các toán đổ bộ bắn rất rát. Thành Gia Định mù mịt dưới làn mưa đạn, nhiều chỗ bị sụp đổ.


Một tiểu đội cảm tử do tên thiếu tá Đờ Pa-li-rơ chỉ huy liền kéo đến pháo đài và bắn vào đó dữ dội. Giặc nhân những chỗ thành bị phá, cố đặt thang leo lên. Chúng vượt được mặt thành, hò reo ầm ĩ: Hoàng đế vạn tuế([2]).


Võ Duy Ninh đứng trên mặt thành đích thân chỉ huy cuộc kháng cự, hò hét ba quân một cách tuyệt vọng.


Quân ta phản công mạnh vào cánh phải của địch tiến dọc theo rạch Thị Nghè. Nhờ có lực lượng tiếp viện đông, giặc đã đẩy quân ta về phía bên kia rạch.


Thủy quân lục chiến Lang-Sa mở được cửa thành, theo lệnh của tên thiếu tá Bờ-rét-xanh, đoàn này liên lạc với đội quân tiên phong tiến vào hồi mười giờ sáng. Thấy tình hình nguy ngập, Võ Duy Ninh ra lệnh rút quân, bỏ lại trong thành hai trăm súng đại bác bằng đồng, bằng gang, hai mươi ngàn súng tay, giáo, gươm, tám mươi lăm tấn thuốc súng và một số lúa gạo đủ nuôi hàng vạn quân trong cả năm, chín chiến thuyền đã và đương đóng ở ụ đóng tàu trên rạch Thị nghè. Tính tất cả theo thời giá là hai mươi triệu quan.


Bước vào xưởng thủy quân trong thành là nơi đặt tổng hành dinh, Ri-gô thầm nghĩ: chủ trương đem quân đánh úp Gia Định trong lúc người Việt không phòng bị là rất đúng. Lần trước Ri-gô đem tàu chiến đánh cửa Đà Nẵng đã từng bị Nguyễn Tri Phương đem quân bao vây đánh tỉa, tiêu diệt được khá nhiều lính Lang-Sa, đến nỗi suốt năm tháng giao tranh, Ri-gô không dám kéo quân lên đánh kinh đô Huế và đành lủi thủi rút tàn quân về. Trong bản tường trình gởi về chính quốc, Ri-gô đã bắt buộc phải nói lên một phần sự thật: “Chính phủ bị lừa về bản chất của cuộc đi lấy nước Nam Kỳ, người ta trình bày rằng cuộc viễn chinh này chỉ là một việc dễ dàng thôi, nhỏ bé thôi! Thật ra nó không dễ, cũng không nhỏ… Người ta mật báo rằng quân đội Việt Nam không có gì, sự thật thì quân chính quy rất đông, còn dân quân thì gồm tất cả những người dân nào không đau ốm và không tàn tật”.


Nhìn lá cờ ba sắc bay phấp phới trên nóc cột cờ, Ri-gô xoa tay đắc ý. Phải chăng ngôi sao chiếu mệnh của y đã bắt đầu sáng tỏ từ trên bầu trời thành Gia Định này?


Nghe tiếng súng Tây nổ dữ dội phía thành, bà Tú Chiểu hớt hải từ chợ Cầu Kho chạy về, nói với ông Tú:


- Ông ơi, chợ đang đông thì có tin Tây nó đánh thành, thế là ở chợ, người ta dẫm lên nhau mà chạy, quang gánh thúng mủng đổ tung toé cả. Bây giờ già trẻ lớn bé đang bồng bế, dắt dìu nhau chạy loạn, còn nhà ta thì ông tính thế nào?


Ông Tú Chiểu ngẫm nghĩ một hồi:


- Nhà hãy cho sắp nhỏ chạy về quê ngoại bên Cần Giuộc để tạm tránh tên bay đạn lạc đi đã…


- Thế còn ông?


Đôi mắt đục lờ của ông Tú như nhìn về xa xăm:


- Còn tôi thì phải ở lại cùng trai tráng chặn giặc. Lúc đất nước nguy vong mà trốn tránh nghĩa vụ, bỏ đi nơi khác yên thân, sao cho phải!


Bà Tú nằn nì:


- Giá như người ta mắt sáng thì không nói làm gì, đằng này ông…


Lời ông Tú vang lên rắn rỏi như át cả tiếng súng vẫn nổ rền từng chặp:


- Tôi mắt kém thật nhưng sức vẫn còn mạnh, có ở lại cũng không sao. Hỏng mắt nhưng còn miệng, vẫn có thể dóng dả bà con đứng lên chống giặc. Nhà cứ yên tâm mà đi không phải lo chi hết. Đã có bọn học trò lớn tuổi chăm nom săn sóc tôi là đủ rồi. nhà và sắp nhỏ mới cần tạm lánh chớ!


Bà Tú kiên quyết:


- Nếu ông không đi thì tôi cũng nhất quyết ở lại đây, có chết thì cũng chết chớ không đi đâu hết!


Ông Tú ôn tồn:


- Nhà nên nhớ là nhà đang mang bầu, ở lại rủi tiếng súng đạn làm kinh động đến thai nhi! Ý tôi đã quyết rồi! Nhà phải nghe tôi một chút chớ!


Bà Tú ngồi xệp xuống ván, không chịu đi. Ông Tú khuyên.


- Nhà còn có tránh nhiệm lớn trong việc nuôi dạy các con nên người, không phải vì một lúc vụng suy mà tính chuyện liều lĩnh được. Cứ thu xếp cho các con đi trước, tôi ở lại ít bữa coi tình thế ra sao rồi sẽ sang bên ấy với nhà và các con.


Bà Tú gạt nước mắt:


- Nếu vậy tôi đi trước, sang tới bển tôi sẽ cậy anh Hai tới rước ông cùng sang luôn.


Bà Tú đưa các con đi rồi, ông Tú sai học trò dẫn đi thăm những người tai mắt trong vùng hỏi thăm tin tức. Ông được biết khi chiến thuyền nhỏ của giặc vào con rạch từ Xóm Chiếu đi Xóm Củi, chúng nhổ cọc, phá cản rồi đem quân vào chiếm đóng chùa Cây Mai, tại Gia Định, chúng lập đồn ở gần sông. Chiếm xong Trường Thi,, chúng lập một phòng tuyến ngoại vi từ chùa Khải Tường gần Trường Thi vào tới chùa Cây Mai, đền Hiển Trung ở Chợ Đũi và chùa Chợ Rẫy. Giặc vừa chiếm chùa Chợ Rẫy thì một ngàn quân ta do Đinh Bình Tâm cầm đầu xung phong đánh địch suốt đêm mồng ba rạng mùng bốn tháng bảy. Những người chí sĩ như Trần Thiện Chính trước là tri huyện bị triều đình cách chức và Lê Huy trước là quan võ bị thải hồi, tụ họp dân cũng được ngót sáu ngàn người, vận động bà con góp tiền, góp gạo cương quyết dánh giặc. Nhờ đạo nghĩa quân này yểm hộ mà Đề đốc Trần Trí đã an toàn rút quân về ụ Tây Thái. Dân chúng đã tự động đứng lên chống giặc, trong khi đó thì các quan lớn như Bố chánh Vũ Thục, Lãnh binh Tôn Thất Năng bỏ thành chạy dài. Hộ đốc Võ Duy Ninh chạy vào huyện Phước Lộc thắt cổ ở thôn Phước Lý, An sát Lê Từ cũng tự vẫn ở đó…


Chứng kiến một chuỗi tự sát của những bầy tôi bất lực của triều đình bất lực, Tú Chiểu ngậm ngùi:


- Thiệt là mỉa mai! Bầy tôi chỉ biết lấy cái chết để chuộc tội với vua, mà không thấy trách nhiệm với dân với nước. Trong khi đó những người dân thường không được hưởng lộc vua, thì lại biết đem thân ra giữ nước! Nghe nói trong triều lúc này chỉ có quan kinh lược Nguyễn Tri Phương là người khá, không hiểu ngài có phương cách gì cứu nguy cho đất nước không?


*


Tiếng pháo giao thừa nổ lẹt đẹt như chiếu lệ rồi đứt quãng, thỉnh thoảng lại dội lên vài tiếng lạch tạch lạc lõng. Năm nay vì quân Lang-Sa đang đóng trong thành Gia Định, nên mùa xuân chừng như cũng ngại ngùng không muốn bước sang.


Ánh bạch lạp lấp lánh trên những đồ lộ bộ([3]) rọi leo lét trên mặt án, trải rộng tờ sắc chỉ màu vàng lợt nổi hàng chữ son phê của vua Tự Đức: “Khanh cứ cố thủ, chờ giặc mệt mỏi tất phải giảng hòa. Đừng nên khinh động e sinh nhiều chuyện”.


Những dòng chữ bỗng như nhạt nhòa rồi chập chờn nhảy múa trước đôi mắt già của quan Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương. Cố thủ! Thì lúc nào ông chẳng lo thủ, nhưng thủ là để chờ cơ hội chiến, chứ không phải là hòa.


Được cử vào Gia Định, việc đầu tiên của ông là củng cố lại đồn lũy cũ của Tham tán quân vụ Tôn Thất Hiệp dựng lên sau khi thành mất. Ngoài đồn Tiền, đồn Tả, đồn Hữu do Tôn Thất Hiệp lập ở phần đất làng Phú Thọ, ông Nguyễn còn xây dựng cả một hệ thống Đại đồn, đắp lũy đất dày cỡ bảy thước rưỡi ta, cao cỡ bảy thước ta, ngang hơn hai trăm trượng, dài bảy trăm năm mươi trượng từ Chí Hòa xuống Bình Thới, từ Chí Hòa xuống khỏi Phú Nhuận, án ngữ phía tây thành Gia Định. Đồn tiền duyên cách các đồn mới Lang-Sa từ hai trăm năm mươi đến bốn trăm năm mươi trượng, để tránh nỗi nguy hiểm của đại bác từ tàu giặc bắn vào. Doanh trại lớn, nơi ông Nguyễn trú đóng, gọi là đồn Trung, lại có xây thêm đồn Tả Hậu, Hữu Hậu. Trong đồn chia làm năm khu, khu này ngăn cách với khu kia bằng đường đất, vách đá có cửa, phòng địch vào tới nơi này thì nơi kia vẫn giao chiến được. Mặt Đông Bắc tức mặt tiền cách đồn giặc tám dặm, thì chắc hơn là mặt hậu, phía Tây Nam.


Từ Đại đồn xuống, hướng về vị trí đồn Cây Mai của địch, ông cho đào đắp một dải chiến hào, chiến lũy và xây đồn trại làm chỗ dựa. Lại một dải chiến hào, chiến lũy khác đi từ Đại đồn hướng về phía sông Thị Nghè, nơi tàu chiến giặc đậu.


Cách Đại đồn gần tám trăm trượng về phía đằng sau thì có đồn Thuận Kiều là nơi chứa quân lương, quân dụng trên con đường đi Hốc Môn, Tây Ninh.


Bên cạnh những pháo đài kiên cố ấy còn có những đường hầm dài hơn hai mươi dặm, pháo đài nào, hầm lũy ấy, đủ binh lính canh phòng, đủ chỗ ẩn nấp cho họ. Thành lũy của Nguyễn Tri Phương dựng mau như nấm mọc, hễ chỗ nào có một lối đi là có ngay một chiến lũy ngăn cản. Chỗ nào quân ông đến thì thành lũy liền sẵn sàng để quân ông núp bắn. Muốn cắt đứt đường giao thông của Lang-Sa, ông không quên những điểm then chốt trên các đường đi Cao Miên, về Huế, sang Định Tường và dọc theo sông Đồng Nai,


Mới chiều nay, Nguyễn Tri Phương cùng viên tùy tướng Trần Nhượng cưỡi ngựa đi thị sát chung quanh khu vực trung tâm của Đại đồn trên phần đất làng Chí Hòa. Dọc theo lũy, rải rác nhiều chòi trông xa cất cheo leo trên ngọn cây cổ thụ giống như những tổ chim đại bàng. Vách thành làm bằng đất sét và đá ong, cao chín thước ta, dày năm thước ta, có lỗ châu mai nằm khít nhau để nã súng đại bác, ném đá hoặc phóng các chất dẫn hỏa. Đại bác nhiều cỡ lớn nhỏ, súng bắn đá, súng trường lớn được đặt ở đây. Ngoài vách thành có rào tre nhọn, chướng ngại vật treo ngang dọc, từng bụi gai bao trùm tất cả bề dài các bức tường, những cây tre được gài khéo léo để khi cần có thể bật thẳng vào quân địch. Nào hố chữ phẩm cắm chông tre, nào ụ đất, nào hào đầy nước, những cạm bẫy đó rải hàng mấy trăm thước từ chân thành trở ra. Nhìn cảnh tượng hùng vĩ trước mắt, Nguyễn Tri Phương hứng khởi nói với Trần Nhượng:


- Ngươi nhìn coi, hình thế Đại đồn có phải giống như cái thân của một lực sĩ mà hai dải chiến hào như hai cánh tay dang ra ôm lấy Sài Gòn hay không? Với cái thế này, thừa sức hất giặc đổ xuống sông Bến Nghé.


Lúc này, ông đang tính toán một nước cờ quyết định. Vì biết quân Lang-Sa phải chia một số binh lực sang hợp sức với quân Hồng mao([4]) đánh nhau với nhà Thanh, ông Nguyễn đã dâng sớ xin vua cho đánh dốc một trận, quét sạch quân Lang-Sa trong các đồn Cây Mai, chùa Kiến Khương, đền Hiển Trung. Nhưng Tự Đức chần chừ không chịu quyết, cuối cùng ban lệnh cho ông không được đánh, phải cố thủ để chờ dịp điều đình.


Nguyễn Tri Phương thở dài. Lang-Sa đang phân tán quân sang Tàu, cơ hội nghìn năm có một, không thừa dịp nắm lấy, thật uổng. Ông buồn rầu, khi thấy trong số những kẻ chủ hòa lại có cả người bạn thân nhất của ông: Phan Thanh Giản. Không ai chối cãi được rằng Phan là một người ngay thẳng và trong sạch. Ông Nguyễn còn mến Phan ở chỗ trung hậu, chí tình với bạn, nhất là thơ rất hay. Nhiều bài thơ của Phan, ông Nguyễn thuộc lòng, thỉnh thoảng lại ngâm nga và nhiều lúc phải buột miệng khen vì lời thơ tự nhiên thanh thoát mà đầy tình cảm chân thành. Người làm sao thì thơ làm vậy. Phan lên bảy tuổi thì mất mẹ. Cha Phan – Phan Văn Ngạn, tức ông thầy ở Gảnh Mù U – cưới vợ khác. Phan đối xử với bà mẹ mẹ ghẻ rất hiếu thuận, khiến mẹ ghẻ cũng phải động lòng thương. Khi Phan tới học với ông thầy chùa ở làng Phú Ngãi, một tháng bà mẹ ghẻ phát cho Phan ba chục tô gạo và ba chục con mắm, thì Phan cũng giữ để ăn cho đủ mà học.


Vì có tính cương cường, ngay thẳng, không tham lam của dân, lại chẳng hay bợ đỡ quan trên nên cha Phan khi làm thủ hạp tại nhà tơ tỉnh Vĩnh Long, bị quan trên kiếm chuyện nói là để dân thiếu thuế mà không thâu, bị bắt giam tới ba năm, rồi bị cách chức và bị phạt tù một năm. Khi cha Phan bị tù ở Vĩnh Long, thì Phan được hai mươi tuổi, nhà nghèo lắm, song một mình Phan ngoài lo nuôi cha- mỗi ngày vào nhà giam làm thế công việc cho cha – xong lại coi sóc việc gia đình. Lúc cha Phan đau yếu thì ngày đêm Phan lại ở trong khám hầu hạ cơm thuốc, quên sự đói lạnh. Lòng hiếu của Phan đã khiến quan Hiệp trấn Lương phải cảm thương, can thiệp cho cha Phan được sớm mãn hạn tù, lại cho Phan vào trường tỉnh học và cho sách vở, dạy Phan học thêm. Khoa Ất Dậu, Minh Mạng thứ sáu, Phan đậu cử nhân ở trường thi Gia Định, rồi cưới vợ họ Lê ở làng Long Hồ, Vĩnh Long để ở nhà hầu hạ cha, cho mình yên lòng ra Huế thi Hội. Không phải chỉ khi chưa đậu nhà mới nghèo khó, mà sau khi đậu tiến sĩ, làm quan đến tột phẩm, nhà Phan vẫn thanh bạch như lúc hàn vi. Một người tài năng, đạo đức như vậy, kể trên đời cũng hiếm. Vậy mà đứng trước những giờ khắc gay go nhất của lịch sử, Phan lại có những nhận định mơ hồ, lầm lẫn. Trong bản điều trần dâng vua, Phan viết:


“Súng đạn và chiến hạm của Tây rất tinh xảo. Họ lại thạo về môn thủy chiến. Vì vậy, ta không mong thắng được họ lúc này. Ta phải dốc toàn lực vào công cuộc phòng thủ bờ cõi. Bao giờ ta đầy đủ về mọi mặt, chừng ấy ta hãy bàn nên chiến hay nên hòa. Nếu ta không đủ lực lượng phòng bị thì đừng mong khai chiến hay nghị hòa với họ”.


Ngay buổi chầu hôm đó, ông Nguyễn đã công kích kịch liệt chủ trương của bạn nói là phải chờ đợi chuẩn bị lực lượng, nhưng kỳ thực là để che giấu ý định cầu hòa, lùi bước trước lũ giặc. Bị mất mặt trước vua và các đình thần, Phan sinh ra bất hòa với Nguyễn Tri Phương, dù sao trong thâm tâm ông Nguyễn vẫn lấy làm tiếc về chuyện đó.


Tiếng trống cầm canh ở vọng lâu khiến Nguyễn Tri Phương giật mình ngước nhìn lên. Chiếc độc bình lớn giữa nhà vẫn trống trơn. Mọi năm trước, mỗi lần đón xuân, ông lại sai chặt một cành bạch mai ở trong chùa Cây Mai đem về cắm bình. Ông không thích hoàng mai vì hoàng mai sắc đẹp nhưng không có hương thơm như bạch mai.


Ở Gia Định, bạch mai chỉ chùa Cây Mai và chùa Gò mới có, mà hai nơi ấy đều nằm trong vùng giặc đóng, thì lấy đâu ra bạch mai thưởng xuân này. Thật đau lòng khi thấy không những dân lành bị hãm trong lưới giặc mà cả bạch mai cũng bị giam cầm, xuân này lại phải nở hoa trong tầm súng giặc.


Nhớ lại lần cùng Phan Thanh Giản tới thăm chùa Cây Mai, thấy bảy cây bạch mai đẹp quá, ông Nguyễn đã truyền dựng một tòa lương đình có gác cao, để ngồi trên đó thưởng mai. Tòa lương đình, mái ngói ống xanh, hai đầu cong như đuôi én, dưới có lan can chạm vẽ, cửa sổ chấn song con tiện, có thể nhìn ra ngoài. Trên bức hoành trước mặt, có đề hai chữ Mai đình, nét chữ xương kính, do chính tay Phan Thanh Giản đề.


Khi khánh thành lương đài, cũng vào dịp đầu xuân Đinh Tỵ([5]) Nguyễn Tri Phương mời Phan Thanh Giản tới thưởng mai. Chưa vội bước lên đài, ông Nguyễn tới bên gò đất cao ngắm kỹ từng gốc mai. Mấy cội bạch mai cành lá sum suê, đâm những bông trắng muốt, cạnh đó là những nụ hoa vừa hé, đầy vẻ e ấp. Ông cười, nói với bạn:


- Tôi suốt một đời long đong lật đật, không có lúc nào thanh nhàn mà thưởng hoa, nên sáu chục tuổi đầu mới có thì giờ ngắm kỹ một gốc mai. Cứ nhìn qua, ngoài màu sắc ra, khó mà phân biệt được bạch mai khác hoàng mai chỗ nào.


Phan Thanh Giản lắc đầu:


- Khác nhau nhiều chớ. Hoàng mai có từ mười cánh hoa, bạch mai chỉ có bốn cánh và hai tai hoa. Bạch mai hoa không lớn bằng hoàng mai, chỉ nhỏ bằng hột nút áo, nụ hoa tròn như hạt tiêu. Hoàng mai đâm bông phần nhiều ở ngọn và cuối cành, còn bạch mai thì đâm bông ngay thân cây, ở nách cây hoặc ở những u. Lá hoàng mai mỏng, lá bạch mai dày, trơn láng và xanh hơn…


Nguyễn Tri Phương gật gù:


- Bác hiểu về mai, hẳn là yêu mai lắm, hèn chi bác lấy hiệu là Mai Khê cũng phải.


Phan Thanh Giản cười:


- Ấy nhiều người cứ quen với chữ: cúc, trúc, lan, mai nên ngỡ hiệu Mai Khê của tôi lấy chữ mai trong mai hoa. Nhưng Mai Khê đây lại có nghĩa là Gảnh Mù U. cây mù u vì thân sần sùi giống cây mai nên người ta kêu là nam mai. Quê tôi ở Gảnh Mù U nên mới lấy hiệu Mai Khê, có vậy thôi.


Nguyễn Tri Phương chợt nhớ:


- Hèn nào hồi tôi ở Kinh tới thăm Tùng Thiện Vương, Vương có đọc cho tôi nghe câu thơ của viên hành tẩu Cao Bá Quát: “Ngoảnh lại Hải Vân không với tới, ròng ròng nhỏ lệ nhớ nam mai” và khen người làm thơ là từng trải, biết cả tên cây mù u trong Nam. Còn tôi thú thực không phân biệt được các giống mai khác nhau thế nào…


Phan Thanh Giản khẽ vuốt chòm râu bạc, từ tốn:


- Bác nửa đời ở Kinh lại ra Bắc, mà ngoài Bắc chỉ có giống Bắc mai, hoa cũng trắng nhưng nhỏ lại nở thành trái mơ, không giống bạch mai ở trong này, nên ít khi được ngắm bạch mai cũng phải. Ngay ở trong Nam cũng chỉ mấy nơi có bạch mai, như Bình San Hà Tiên, núi Điện Bà Tây Ninh, đình Phú Tự Bến Tre, còn ở Gia Định thì chỉ riêng chùa Gò và chùa Cây Mai. Cũng may quê tôi ở Bến Tre, nên từ nhỏ đã được ngắm bạch mai ở đình Phú Tự. Còn mai ở chùa Cây Mai tôi đã nhiều dịp thưởng thức cùng các danh sĩ trong Bạch mai thi xã…


- Bạch mai thi xã… Họp mặt các thi nhân uống rượu thưởng mai rồi vịnh thơ cũng là cái thú tao nhã. Chỉ tiếc tôi không lúc nào nhàn rỗi để tiêu khiển, di dưỡng tính tình…Trong Thi xã có những ai vậy bác?


- Trong số quan thì có ông Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, ông Án sát Huỳnh Mẫn Đạt, ông Hàn lâm Nguyễn Thông… còn những người trẻ tuổi thì có cử nhân Phan Văn Trị, Ấm sinh Tôn Thọ Tường…


Nguyễn Tri Phương hơi cau mày:


- Tôn Thọ Tường nào? Có phải con trai ông Tuần phủ Thuận Khánh Tôn Thọ Đức không?


- Chính đó. Hồi nhỏ Tường mới xuất thân, đã bị triều đình bắt tội vì làm bài mướn cho học trò đi thi. Tường bị giải vô kinh, khi đó tôi đang ngồi Bộ Lại, Tường cậy người chuyển tới dinh một bài thơ trần tình, trong có câu: “Vì nhà túng rối nên quyền biến. Phép nước răn he há dám khinh. Gió bụi đất từng quen với mặt, Nắng mưa trời có thấu cho mình”. Thấy Tường thơ hay, tôi thương tình xin Ngài Ngự tha cho y.


- Quyền biến… Làm chuyện phi pháp mà cũng là quyền biến à? Thơ hay nhưng khí cục tầm thường… Trong Thi xã còn có ai nữa?


- Có lần tôi thấy một ông thầy ở Bình Dương, tên Nguyễn Đình Chiểu thì phải, sở dĩ tôi chú ý bởi ông đui mà làm thơ rất hay, tuy so với người khác thì ổng ở bậc thấp bởi đậu có tú tài. Có điều ông chỉ chuyên làm thơ nôm mà tôi thì ưa nôm nên có cảm tình ngay khi mới gặp. Mấy câu lục bát vịnh mai của Tú Chiểu có cái khí rất mạnh, tôi còn nhớ tới bây giờ:


Hữu tình thay ngọn gió đông.


Cành mai nở nhụy, lá tòng reo vang.


Nguyễn Tri Phương gật gù:


 - Nghe được cả tiếng lá tòng reo vang, đúng là người sức nhìn kém thì sức nghe càng mạnh. Đành rằng nếu thầy Chiểu không bị đui thì không phải chỉ đậu có tú tài mà bảng nhỡn thám hoa cũng nên. Nhưng khoa bảng mà làm gì nếu con người không có kiến thức sâu rộng cũng như từng trải sự đời. Gia thế thầy Tú Chiểu thế nào, bác?


- Thân sinh thầy Chiểu là ông Nguyễn Đình Huy, gốc ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên…


- Ủa, vậy ra cũng đồng hương với tôi…


- Vâng, ông Huy được bổ làm thơ lại ở văn hàn ty, theo Lê Tả quân([6]) vô Sài Gòn, lấy bà thứ ở làng Tân Thới sinh thầy Chiểu. Tới khi Ngụy Khôi nổi lên đánh chiếm Gia Định, thầy Chiểu theo cha về Thừa Thiên và được gửi trọ học với người bạn của cha làm chức Thái phó suốt tám năm. Năm hăm hai tuổi, thầy Chiểu trở về quê mẹ và thi đậu tú tài tại trường Gia Định. Năm sau, thầy lên Kinh chờ khoa thi hội, gần tới kỳ thi thì được tin mẹ chết từ tháng chạp năm trước. Thầy vội rời kinh trở về Gia Định. Lúc ấy mới cuối tháng giêng mà tới tháng tư mới có chuyến ghe bầu về Nam nên thầy đành phải đi bộ. Đường trường vất vả lại nhân nỗi đau thương, thầy tự nhiên nhuốm bịnh. Bịnh mỗi ngày một trầm trọng nên thầy phải ở đậu tại Quảng Nam để kiếm thầy chạy thuốc. Bị buộc chân ở đó, không trở về thủ hiếu được mà tiền lương cạn dần, thầy đâm ra buồn bực, càng động đến mối thương tâm, nên đêm ngày than khóc vì cớ đó sinh ra đau mắt nặng rồi đui. May sao khi đó gặp được ông thầy Trung vốn dòng ngự y, thương tình nuôi nấng và dạy cho nghề thuốc. Học xong, thầy Chiểu được người nhà đưa về Gia Định cư tang rồi sống trong cảnh trơ vơ thiếu thốn. Mãn tang, thầy mở trường dạy học để khuây khỏa tháng ngày, cũng để kiếm kế nuôi thân…


- Cảnh ngộ thầy Chiểu éo le thiệt! Mà sao bác biết rành về thầy Chiểu như vậy?


- Tôi bình sinh trót mắc cái tật mê thơ, nên bất kỳ ai dầu quan hay dân mà thơ hay là tôi đều làm quen hết! Thơ thầy Chiểu có cái lạ là đã khí phách mà viết cái chi cũng ngụ ý đui mù ở trong. Ngoài những câu đôn hậu như: “Sự đời thà khuất đôi tròng thịt. Lòng đạo xin tròn một tấm gương” cả những câu ngược ngạo: “Xe ngựa lao xao giữa cõi trần. Biết ai thiên tử biết ai thần”.


Nguyễn Tri Phương hơi nhăn mặt vì lời lẽ phạm thượng của Tú Chiểu nhưng rồi lại cúi đầu ngẫm nghĩ. Ông nhớ lại bữa ông duyệt binh qua Đồng Tập Trận, còn nhìn thấy đất chỗ Mả ngụy sau mấy chục năm vẫn còn sình lên sụp xuống. Đó là nơi vua Minh Mạng sai chặt đầu ném thây chôn chung một huyệt cả thảy một ngàn một trăm ba mươi bảy người già trẻ lớn bé, đàn ông, đàn bà lộn lạo, khép vào tội theo giặc Khôi làm phản chống lại triều đình. Một người như thầy Chiểu đã từng chứng kiến việc Lê Văn Khôi nổi dậy giết Tổng đốc Nguyễn Văn Quế, bắt Bố chánh Bạch Xuân Nguyên đốt làm đuốc sống tế tả quân Duyệt, chiếm giữ thành Phiên An trong ba năm…hẳn có ý nghĩ khác ông về vua quan nhà Nguyễn, điều đó không lấy gì làm lạ. Nhưng dầu sao đi nữa những lời lẽ xẵng bạo ấy vẫn khó thể lọt tai một vị đại thần vốn rất mực trung quân.


Bỗng một luồng gió ấm phảng phất. Một làn hương nhẹ thoảng qua, mơ hồ như có như không. Phan Thanh Giản hít một hơi dài như muốn thu lấy hương mai vào trong lòng, rồi đưa mắt nhìn xa như theo dõi áng hương tan loãng vào trong không gian:


- Bác có cảm thấy hết mùi hương của bạch mai không? Mùi hương mai mơ hồ phảng phất nên người ta gọi là ám hương. Cũng vì trời càng lạnh thì càng thơm, nên còn gọi là lãnh hương. Tôi rất thích hai câu thơ của Lâm Bô đời Tống vịnh mai:


Sơ ảnh hoành tà thủy thanh thiển,


Ám hương phù động nguyệt hoàng hôn([7])


Thật không ai sướng hơn Lâm Bô, ông ấy về ẩn dật ở núi Cô Sơn tại Tây Hồ, thường tự cười mình cưới mai làm vợ, nuôi hạc làm con. Tôi chỉ ước sao sớm được hưu quan, lui về ẩn dật “Nghêu ngao vui thú yên hà, Mai là bạn cũ, hạc là người quen” như câu thơ của quan Cần chánh Nguyễn Du, đề vào cái đĩa sứ “mai hạc” cho lò gốm Hàng Châu, năm ngài đi sứ…


Nguyễn Tri Phương cười:


- Cái ông Lâm Bô nhà bác yêu mai dễ đã bằng cụ Lục Du chưa. Cụ ấy còn muốn hóa thân ra làm ngàn vạn để mỗi cây mai có một Phóng Ông kia mà…


Hai người cùng cười. Phan Thanh Giản cất tiếng ngâm nga hai câu thơ Lục Du: “Hà phương khả hóa thân thiên vạn. Nhất thụ mai hoa nhất Phóng Ông”. Giữa lúc đó nhà chùa cũng dâng lên hai ly trà nấu bằng gỗ mai. Nguyễn Tri Phương nhấp một ngụm. Hương sắc của hoa, vị thanh đạm của trà, quyện với tiếng ngâm thơ trong trẻo của người bạn, khiến ông thấy tâm trí lâng lâng.


Ông tưởng như sống ngược lại với thời xưa, khi ấy trời đất mênh mông hơn bây giờ, những kẻ sĩ đi ngàn dặm chỉ cốt ghé thăm bạn trong một túp lều tranh, uống với nhau một tuần trà, hưởng cái thú “đối diện đàm tâm”([8] )để rồi sớm mai lại phất áo ra đi không hẹn ngày trở lại.


Ly trà hồng mai đã thấm đượm một mùi vị triết lý, lại thêm tiếng kinh mõ đều đều từ Phật điện vẳng lên, càng gợi một không khí thoát tục. Tất cả như nhắc nhủ người ta không gì quý bằng chữ nhàn, tội gì lăn lộn trong đám hồng trần cho mệt. Ở đời đã mấy khi có dịp họp bạn thưởng hoa, không biết tận hưởng cái thú thanh cao này thật uổng. Dường như không chịu nổi cái không khí thanh tĩnh vô vi ấy, Nguyễn Tri Phương vụt cất tiếng nói to lên như là nói với chính mình:


- Nhưng cụ Lục Du yêu mai đâu phải chỉ vì mùi hương mơ hồ phảng phất, mà yêu mai chính là khí tiết cương cường của nó. Tôi rất thích bài thơ mai của Lục Du:


Tuyết ngược phong hào dũ lẫm nhiên,


Hoa trung khí tiết tối cao kiên.


Quá thì tự hợp phiêu linh khứ,


Sỉ hướng Đông quân cánh khất liên.


Túy chiết tàn mai nhất lưỡng chi,


Bất phương đào lý tự phùng thì.


Hướng lai băng tuyết ngưng nghiêm địa,


Liệu cán xuân hồi cánh thị thùy,([9])


Giữa mùa đông khi trăm hoa đều tàn lụi thì chỉ có mai dám ngạo cùng gió tuyết, ra sức kéo mùa xuân sang, đến khi xuân sang, mặc cho đào lý gặp thời, mai thà rơi rụng chứ không chịu đến van nài chúa Xuân rủ lòng thuơng. Mai tượng trưng cho khí phách của người anh hùng, đúng như câu thơ của cụ Ức Trai Nguyễn Trãi đã vịnh: “ Càng thuở già càng cốt cách. Một phen giá một tinh thần”. Cái chí của tôi là muốn noi gương Ức Trai, mưu sự yên vui cho trăm họ, dân chưa yên thì không lòng nào lui về ẩn dật cho được.


Phan Thanh Giản cười:


- Hôm nay, chúng ta không uống rượu thanh mai, hà tất phải bắt chước Lưu Bị, Tào Tháo luận anh hùng. Nhưng bác nghĩ coi, nhiều khi cương cường quá chỉ tổ bị người đời ghét ghen, hãm hại. Như bác có công mộ dân khai khẩn đồn điền, cho phép các phạm nhân được ra thú tội, để đưa họ về con đường làm ăn lương thiện, vậy mà viên An sát Định Tường Vương Sĩ Kiệt còn mật tấu về kinh, nói tha tù nhân, mở mang hoang địa là sanh trộm cướp, giúp chúng có cơ hội trốn lánh, chờ dịp làm loạn sau nầy. Bác suýt mất đầu vì vụ đó, chưa tỉnh ngộ hay sao mà còn hăm hở ganh đua trong trường vật lộn như vậy?


Nguyễn Tri Phương lắc đầu:


- Không phải tôi chỉ nghĩ vì Nam Kỳ còn nhiều đất hoang, mà dân còn nghèo nên phải tính kế khai khẩn đồn điền, còn một ý khác là muốn dùng chánh sách ngụ binh ư nông, đưa cả binh lính tại ngũ về cùng dân làm ruộng, để khi tĩnh là dân, khi động là binh. Khai khẩn đồn điền cũng nhằm có lương thực nuôi quân sau nầy. Bác hẳn chẳng lạ gì, mùa thu vừa rồi, chiến hạm Tây đã cập bến Đà Nẵng và cửa Thuận An, ném lên bãi cát một bó thư, đòi cho chúng được tự do thông thương và truyền đạo.


Đó chẳng qua là cái cớ để xâm chiếm nước ta mà thôi. Tôi chắc là cuộc giao tranh sắp sửa châm ngòi rồi. Sớm muộn thế nào những chiến hạm của chúng cũng còn kéo tới cửa biển nước ta lần nữa…


(còn tiếp)


Nguồn: Đuốc lá dừa. Tiểu thuyết. Rút từ bộ Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 







[1] Cuối thế kỷ 19, ta phiên âm chữ France (nước Pháp) là Phú Lãng- Sa tục gọi là Lang- Sa.




[2] Hoàng đế, tức Nã Phá Luân đệ tam (Napoléon III) nước Pháp.




[3] Lộ bộ: dàn binh khí nghi trượng trong dinh vị vương.




[4] Tóc đỏ, tiếng dân ta -cuối thế kỷ 19- gọi người Anh.




[5] Năm 1857.




[6] Tức Lê Văn Duyệt, Tổng trấn Gia Định thành.




[7] Bóng lưa thưa xiên ngang bên dòng nước trong và nông.


Hương thơm thoang thoảng nhẹ dưới trăng lúc hoàng hôn.


Hai câu thơ trong bài Sơn viên tiểu mai thi của Lâm Bô, tự Quân Phục, một thi sĩ đời Tống.




[8] Nhìn mặt nhau nói chuyện bằng tiếng thầm trong lòng.




[9] Tuyết dữ gió gào lại càng lẫm liệt. Trong các loài hoa, mai thanh cao kiên cường nhất. Hết mùa kệ cho rơi rụng. Thẹn đến với chúa Xuân xin rủ lòng thương. Say bẻ mai tàn một vài cành. Mặc cho đào mận cứ gặp thì. Trước đây trong lúc băng tuyết đóng cứng mặt đất. Cây hoa nào cố sức kéo Xuân sang. Hai bài thơ Lạc mai (mai rụng) của Lục Du tự Phóng Ông, nhà thơ yêu nước đời Nam Tống từng phản đối triều đình đầu hàng trước quân Kim xâm lược.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 26.04.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »