tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18404362
Những bài báo
15.03.2013
Nhiều tác giả
Một số bài viết về Cao Xuân Hạo

- Đọc bài cùng chủ đề: Hoài niệm về anh Cao Xuân Hạo


 

Vĩnh biệt thầy Cao Xuân Hạo


Bài của Nguyễn Tý


Thầy Cao Xuân Hạo dạy chúng tôi về ngôn ngữ. Đặc biệt, về Ngữ pháp chức năng giữa mệnh đề “Đề-Thuyết” rất hữu dụng trong thực tiễn. Bao thế hệ được thầy dìu dắt nhưng không thể không biết những nhận định về Thầy là người "cực đoan" (điều này là do Thầy bảo vệ những chính kiến học thuật của mình. Yêu-Ghét phân minh. Chúng tôi kính Thầy là ở tính cương trực này.


Tôi là người may mắn được Thầy đón tiếp trò chuyện nhiều lần. Đó là khoảng thời gian tôi làm Báo Văn Nghệ, trò chuyện cùng Thầy và có bài “Có nên viết về khuyết tật của người mình không?” (bài đã đăng trên Văn Nghệ, 2003). Tôi biết, những năm cuối đời, Thầy dành tâm huyết để biên soạn cuốn Siêu Từ điển tiếng Việt. Không biết công trình đã hoàn thành chưa? Thầy mất đi là điều đáng tiếc cho ngành Ngôn ngữ và dịch thuật Việt Nam.


Điều ngạc nhiên trong số học trò chúng tôi, đó là câu chuyện Thầy đã chấm 0 điểm trong buổi bảo vệ luận văn Tiến sĩ của một nghiên cứu sinh Trường ĐH Sư phạm. Và, tuy Thầy chỉ được Nhà nước phong học hàm Phó Giáo sư nhưng kể cả đồng nghiệp, bạn bè, học trò... đều gọi Thầy là Giáo sư (so với những gì Thầy đã đóng góp trên hai lĩnh vực Ngôn ngữ và Văn học).


Chiều 23-10, lớp Ngôn ngữ niên khóa 1996-2000, sẽ đi viếng Thầy. Bạn bè cứ gọi, nhắn tin hỏi Thầy đã tổ chức tang lễ chưa, sao thấy im lặng thế. Đúng, vì chờ người thân là cô em gái cùng mẹ khác cha từ Pháp trở về. Tin này, tôi vừa nghe nhà thơ Hoài Anh nói nhân gặp gỡ tại Lẩu dê 105 Trương Định, chiều qua. Cô bạn lớp trưởng Ngọc Quyên, hỏi: "Viếng thầy vòng hoa ghi sao anh?", tôi bảo, "Tập lớp Ngôn ngữ niên khóa 1996-2000. Kính viếng Thầy Cao Xuân Hạo". Cô bạn ngạc nhiên: "Sao ghi Thầy mà không gọi Giáo sư". Tôi lại bảo, sinh thời chúng ta đều gọi Người là Thầy, Thầy cũng thích thế. Còn Nhà nước ghi nhận những đóng góp cho giáo dục phong tặng Thầy là Phó Giáo sư (chưa được gọi Giáo sư). Nhưng hàng vạn học trò, đồng nghiệp đã tôn kính gọi Thầy là Giáo sư từ lâu lắm (ngay cả báo chí) cũng vậy. Gọi Thầy để gần gũi như Thầy mong muốn trong những lần lên giảng đường là điều tôn kính Thầy.


Thầy rất rất nghệ sĩ nhưng cũng rất Nho. Bởi cha thầy, cụ Cao Xuân Huy là Giáo sư triết học phương Đông - cái nôi văn hóa gia đình ảnh hưởng lớn đến Thầy Cao Xuân Hạo. Thầy nghệ sĩ vì từng tổ chức dàn nhạc trong kháng chiến, dịch sách và khi nhắc đến Cao Xuân Hạo, người đọc không thể nào quên những trang văn giàu hình ảnh tiếng Việt “Chiến tranh và hòa bình”.


Nhiều bài viết để bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt, cũng như những bài giảng cho sinh viên, nghiên cứu sinh... Thầy luôn trăn trở, bất bình và phẫn nộ – nhiều người cho đó là cực đoan. “Tôi thực sự đau lòng khi thấy sinh viên ngày càng yếu kém tiếng mẹ đẻ. Trong nhà trường hiện nay người ta đang dạy ngữ pháp tiếng Pháp với ví dụ Việt, chứ không phải tiếng Việt. Nếu cứ dạy như thế thì chỉ làm thầy và trò ngày càng ghét tiếng Việt. Tiếng Việt tinh tế lắm, đừng để hỏng nó...” – Thầy nói.


Về văn học, giáo sư Cao Xuân Hạo đã dịch các tác phẩm kinh điển và hiện đại bằng trang văn tiếng Việt trong sáng như: Người con gái viên đại úy, 1959; Chiến tranh và hòa bình của Lev Tolstoi, 1962, Chuyện núi đồi và thảo nguyên, 1963; Trên những nẻo đường chiến tranh, 1964; Truyện ngắn của M.Gorki, 1966; Con đường đau khổ, 1973; Tội ác và trừng phạt, 1983; Đèn không hắt bóng, 1986; Papillon, 1988; Khải hoàn môn, 1988. Năm 1985, giáo sư được giải thưởng về dịch thuật của Hội Nhà văn Việt Nam.


Tâm sự về dịch sách, Giáo sư cho biết: “Ngoài công việc giảng dạy và nghiên cứu ngôn ngữ học, tôi đã viết một số bài báo về các vấn đề văn học, một số bài giới thiệu và lời nói đầu cho các bản dịch tác phẩm nước ngoài. Nhưng phần đóng góp đáng kể nhất của tôi có lẽ là các bản dịch từ các tác phẩm văn xuôi nước ngoài, chủ yếu là tiểu thuyết Nga và Xô Viết” (Trích “Nhà văn Việt Nam hiện đại”, NXB Hội Nhà văn, 1997, trang 251).


Về ngôn ngữ, là cây đại thụ, chỉ riêng cuốn “Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng” của Thầy là công trình lớn của ngành Ngôn ngữ học Việt Nam. Sách đoạt giải Vàng sách hay năm 2006 (được công bố lần đầu năm 1991 và tái bản ba lần). Phonologie et linéarité. Réflexions critiques sur les postulats de la phonologie contemporaine (Paris, 1985.- Dịch ra tiếng Việt: Âm vị học và tuyến tính. Suy nghĩ về các định đề của âm vị học đương đại, 1999); Câu có trạng ngữ đứng đầu (1985); Câu trong tiếng Việt: Cấu trúc, Nghĩa và Công dụng (1992).


Ngoài ra, Thầy có công trình “Tiếng Việt – Mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa” được đánh giá cao.


Sau một tuần Thầy qua đời (được để phòng lạnh tại Bệnh viện) chờ người em gái từ Pháp trở về, đúng 9 giờ sáng (23-10) đã làm Lễ viếng tại Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, số 5 Phạm Ngũ Lão, quận Gò Vấp. Lễ truy điệu lúc 14 giờ ngày 24-10. Lễ động quan lúc 14 giờ 30 cùng ngày. An táng tại Nghĩa trang chùa Hoằng Pháp, xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, TP.HCM.


Tiễn đưa Thầy về nơi an nghỉ cuối cùng trong niềm tiếc thương vô hạn của gia đình, nhiều thế hệ học trò, đồng nghiệp, bạn bè, người thân. Thầy đã thanh thản ra đi, nhưng những công trình, tác phẩm sẽ sống mãi theo năm tháng...


Người học trò trong số hàng vạn học trò của Thầy xin cúi đầu thành kính chia buồn cùng tang quyến, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam.


Tưởng nhớ Thầy 10 giờ 7 phút ngày 24-10


 Học trò Nguyễn Tý


Cao Xuân Hạo - Một trí thức, một thân phận


 


Bài của GS Tương Lai


Thế là nhà trí thức tài hoa ấy đã ra đi. Và lần này, nhà ngữ học bậc thầy ấy đã ra đi "một cách tuyệt đối", không còn cách gì cứu vãn được nữa. "Bác chẳng ở dẫu van chẳng ở, tôi tuy thương lấy nhớ làm thương, tuổi già hạt lệ như sương…" Phải cố nghĩ đến câu thơ người xưa khóc bạn để mà gắng vơi đi nỗi đau đã được báo trước. Đành rằng, rồi cũng phải lấy nhớ làm thương, vì làm sao cưỡng lại được quy luật nghiệt ngã mà ai rồi chẳng phải đón nhận. Một trí thức như Cao Xuân Hạo thì cũng phải mỉm cười, nụ cười diễu cợt và thách thức, mà chấp nhận sự nghiệt ngã đó.


 


Đó là diễu cợt và thách thức thân phận của một người trí thức. Trí thức theo cách nói của J.-P. Sartre, là người ý thức được sự xung đột xảy ra trong lòng họ và trong lòng xã hội giữa việc đi tìm sự thật qua thực tiễn hành động và hệ ý thức… là người xớ rớ vào những chuyện không liên quan đến họ. Chuyện không phải của họ mà họ thấy là của họ. Cái thấy đó làm họ trở thành trí thức. Mà cũng vì thế, theo K. Marx, người trí thức là người "phê bình không nhân nhượng về những gì đang hiện hữu, không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không thụt lùi dù trước kết luận của chính mình…".*


 


Là tôi tưởng tượng ra nụ cười thường ngày của Hạo vào phút giây nghiệt ngã anh nắm chặt tay tôi, khi chính tôi đang run lên nghẹn ngào trước sự thật sẽ phải đón nhận đó. Anh đã ra đi thật rồi, khoảng trống vắng nhà ngữ học lớn ấy để lại không biết rồi đây sẽ ai sẽ khỏa lấp, măc dù anh tự cho mình chỉ là "người trần tục tầm thường".


 


Tự nhận mình là người trần tục, để không thể nào chấp nhận những ai đó "lấy làm thỏa mãn với dăm bảy thí dụ chợt nghĩ ra trong vài giây, vào những khoảnh khắc xuất thần của thiên tài. Nhà trí thức tài năng ấy đã quyết dành "hàng buổi, hàng tuần, hàng tháng, hàng năm nếu cần, lần giở từng trang từ điển hòng kiểm tra lại những phát hiện sáng chói mà các bậc thiên tài đã thực hiện, và hễ có cơ may thì tự mình tìm ra những quy tắc khác ít mang dấu ấn của thiên tài, nhưng lại vượt qua được sự thử thách của một quá trình kiểm nghiệm kỳ khu, để lần mò tới những sự thật có thật trong tiếng Việt chứ không phải trong tiếng Pháp hay tiếng Nga".**


 


Và thực sự là anh đã tạo ra "cơ may" ấy bằng cách góp phần quan trọng vào việc làm nên một diện mạo của Việt ngữ học từ khi có nền đại học Việt Nam. Nhưng xin hãy để chuyện này cho các nhà ngữ học, đồng nghiệp của Anh, bình luận thẩm định về Anh, là người ngoại đạo của chuyên ngành này, tôi chỉ xin khóc bạn về đôi điều cảm nhận về bản lĩnh của người trí thức và cũng do đó mà phải gánh chịu một thân phận nghiệt ngã của người trí thức, người tôi yêu mến và kính trọng.


 


Con người ấy, như anh đã tự kể về mình : " Cách đây gần bốn mươi năm, một người bạn học cũ, khi thấy tôi ngồi mỗi ngày mười tiếng trong Thư viện Khoa học ở phố Lý Thường Kiệt để đọc cho bằng hết các sách ngôn ngữ học, tri thức luận và logích học trong đó, có khuyên tôi thôi làm cái chuyện dã tràng xe cát ấy đi, vì nếu muốn giỏi bằng một anh phó tiến sĩ của Nga, một người Việt Nam tự học phải thông minh gấp ba và đọc gấp mười mới được. Lòng tràn đầy tự ái, tôi đáp : 'Sao anh biết tôi không thông minh gấp ba và sẽ đọc nhiều gấp mười nó'".** Cao Xuân Hạo kể để tự phê phán mình, nhưng qua đó, có thể hiểu ra được ngọn nguồn tài năng của thân phận nghiệt ngã mà người trí thức tài hoa ấy đã phải gánh chịu. Tự giam mình mỗi ngày mười tiếng như vậy trong suốt mười lăm năm anh bị một án kỷ luật để không được đứng lớp giảng dạy, chỉ được "làm tư liệu" để "phục vụ nghiên cứu". Và rồi cũng vì cái án kỷ luật đó, trong thời gian dài đó, anh "chỉ được dịch", chứ không được viết !


 


Để "phục vụ nghiên cứu", Cao Xuân Hạo tự trở thành một nhà ngữ học tài ba mà tác phẩm của anh đã làm "một cuộc cách mạng Copernic thực sự của ngữ học hiện đại" *** như nhận định của Jean-Pierre Chambon. Và vì "chỉ được dịch", anh đã để lại cho đời hơn hai vạn trang sách văn học trong đó có các kiệt tác như Chiến tranh và hoà bình, Tội ác và hình phạt, Con đường đau khổ, Khải hoàn môn, Đèn không hắt bóng, Papillon, người tù khổ sai…. Điều đáng nói hơn nữa, khi dịch như vậy, từ cái vốn hiểu biết sâu sắc thành tựu của ngữ học hiện đại qua quá trình làm tư liệu "phục vụ nghiên cứu", trên cở sở bám rất chắc vào mảnh đất tiếng Việt, khẳng định dứt khoát "Linh hồn tiếng Việt không hề mất. Cái ý vị vô song của ca dao, tục ngữ, của những câu Kiều, những câu ngâm của người chinh phụ vẫn còn sống mãnh liệt trong tiếng nói hàng ngày của dân ta…"**, anh đã có dịp so sánh, đối chiếu cách diễn đạt tiếng Việt và các thứ tiếng Châu Âu, rút ra được những điểm dị đồng giữa hai loại hình ngôn ngữ, Cao Xuân Hạo đã dám sửa cái chuẩn tắc vốn được giới ngữ học thừa nhận theo quan điểm "dĩ Âu vi trung" (europeocentrism), mở ra một hướng mới đầy thách thức.


 


Thì ra tạo hóa đã không quá bất công, luật "bù trừ" phát huy tác dụng, cái án kỷ luật buộc anh phải treo bút đã giúp anh "vượt qua được sự thử thách của một quá trình kiểm nghiệm kỳ khu, để lần mò tới những sự thật có thật trong tiếng Việt" ** để có những cống hiến lớn trong lĩnh vực Việt ngữ học, cũng đồng thời để lại dấu ấn nổi bật trong lĩnh vực dịch thuật. Mà nào có gì to tát, khó hiểu đâu, cái án kỷ luật buộc anh phải treo bút ấy là do khi đi dạy, học trò cứ hỏi riết mãi về một "vụ án văn học, nghệ thuật" đang gây bức xúc dư luận, không thể im lặng mãi không trả lời, anh nói với học trò của mình : "trong tranh luận học thuật và văn chương, khi ai buộc phải dùng đến uy quyền và trấn áp thay cho tranh luận công khai thì chính người đó sợ chân lý". Đó là cái tội "phát ngôn vô nguyên tắc" của mình. Vẫn nụ cười hiền lành song không dấu cái vẻ khinh bạc, anh kể lại chuyện đó, khiến tôi nhớ lại đoạn văn M. Gorki nói về Chekhov : " Trước cái đám đông xám ngắt những kẻ bất túc, đã hiện ra một người… bằng giọng nói trung thực mà sang sảng, buồn buồn mà mỉm cười, với một nỗi sầu hoài tuyệt vọng trong tâm khảm và trên sắc mặt, giọng đầy quở trách dịu dàng mà thâm thúy, người ấy bảo cả bọn họ : Các vị sống bậy quá đi thôi ! ".


 


Cao Xuân Hạo đã cố gắng thực hiện cái lương năng trí thức của mình như K. Marx đã từng chỉ ra, người trí thức là người " phê bình không nhân nhượng về những gì đang hiện hữu, không nhân nhượng với nghĩa rằng họ không thụt lùi dù trước kết luận của chính mình…". Nhưng rồi số phận đã chơi khăm anh, là nhà ngôn ngữ học tài ba, anh đã không còn diễn đạt được ý nghĩ anh có trong đầu sau mấy lần bị tai biến, tình trạng ấy kéo dài mãi cho đến khi anh không còn nói được nữa, chỉ biểu đạt ý nghĩ của mình bằng ánh mắt. Thì cũng giống như Chekhov đấy thôi, suốt đời "dùng ngòì bút tinh nhuệ của mình để phát giác ra những cái mốc meo của sự phàm tục" để khi ông mất, thi hài của ông được chuyên chở về St. Petersburg trên cái vagông đen chứa sò huyết của chuyến tàu chợ! Tôi nhớ mãi ngón tay trỏ của Hạo cứ gõ gõ trên ngực mình ngày anh mới nhập viện mà cô cháu đứng lau mồ hôi cho anh giải thích "đấy là ông cháu gõ vi tính đấy ạ. Ông cháu chỉ đánh vi tính được theo kiểu mổ cò"! Nhà ngữ học tài hoa ấy vẫn đang tư duy, chỉ không nói được!


 


Hạo ơi, anh đã tuyệt đối nằm xuống, nhưng sự nghiệp của anh thì đang đứng dậy vì càng ngày người ta sẽ càng nhận ra khoảng trống về sự thiếu vắng của một tài năng bẩm sinh từ cái "gien"di truyền và sự truyền dạy của cha anh, người thầy đáng kính của riêng anh và của một lớp trí thức có nhân cách, thầy Cao Xuân Huy. Một bậc minh triết, từng được mệnh danh là một nhà "Đạo học" ngay từ buổi mới trong ngoài ba mươi tuổi. Được sự chăm sóc và truyền dạy của cha, Cao Xuân Hạo theo được cái chí của cha vói cảm nhận thường trực về "cái gánh nặng tinh thần đang đè lên một người con không thực hiện được hoài bão của cha, một người học trò dốt đã phụ lòng mong đợi của thầy"**. Sự tự vấn ấy khiến anh để lại lời nhắn gửi "hy vọng các nhà khoa học nhân văn thuộc các ngành khác nhau, nhất là các đại diện của thế hệ trẻ, sẽ tiếp tục nghiên cứu theo hướng này" ** tức là hướng từ sự khác nhau về cấu trúc ngôn ngữ (tuyến tính/phi tuyến tính) để suy nghĩ thêm về sự khác nhau về phương thức tư tưởng giữa phương Đông và phương Tây mà cụ Cao Xuân Huy đã dẫn dắt anh.


 


Tôi muốn mượn lời của chính anh, để nói về sự nghịệp của anh, khi với tư cách là một nhà ngữ học tài ba, một nhà dịch thuật uyên bác để kiến nghị về cách anh hiểu một ý thơ của Nazim Hikmet qua sự diễn đạt tinh tế của tiếng Việt mà anh suốt đời đau đáu :


 


Nếu tôi không cháy lên


Nếu anh không cháy lên


Thì làm sao


Bóng tối


Có thể trở thành


Ánh sáng ?


 


Ở thế giới bên kia, anh hãy tự bằng lòng vì thân phận trí thức của anh cũng đã giúp " mỗi người trong chúng ta phải có đủ nhiệt huyết để dám tự thiêu huỷ trong đấu tranh thì Chân mới thắng được Nguỵ, Thiện mới thắng được Ác " ** như anh đã từng lý giải về cách dịch câu thơ của Hikmet.


 


Tương Lai


_________


* Cao Huy Thuần, Thế giới quanh ta, NXB Đà Nẵng, tr. 61.


** Những trích dẫn đều lấy từ Tiếng Việt, Văn Việt, Người Việt của Cao Xuân Hạo


*** “ Có lẽ chính cái hướng do Cao Xuân Hạo chỉ ra – chứ không phải hướng của ngữ pháp tạo sinh cải biến – mới thật là cái hướng mà ta phải theo để tìm đến một cuốc cách mạng Copernic thực sự của ngữ học hiện đại ” (Revue des langues romanes, tome LXXXIII, n° 1978, fasc. 1, pp.205-210), dẫn lại theo Hoàng Dũng trong “Cao Xuân Hạo. Nhà ngữ học”


 


Thư ngỏ gửi Giáo sư Cao Xuân Hạo


            Anh Cao Xuân Hạo kính mến!


            Trước tiên, xin thú nhận, tôi là người say mê tên tuổi anh đã từ lâu. Tuổi trẻ và sau đó là những năm tháng trực tiếp giảng dạy, nghiên cứu, phê bình văn chương đã đưa tôi đến những trang dịch văn xuôi Nga – Xô Viết đầy sức cuốn hút của anh, như Chuyện núi đồi và thảo nguyên, Chiến tranh và hòa bình, Truyện ngắn Gorki, Con đường đau khổ, Tội ác và trừng phạt… Với tôi, và chắc không chỉ riêng tôi, Cao Xuân Hạo đồng nghĩ với sự thông thái, đồng nghĩa với vẻ tài hoa, những phẩm chất vốn là ước ao của bao người nhất là những người trẻ tuổi.


 


            Vì “phải lòng” anh, nên gần đây tôi đã chăm chú theo dõi một loạt bài viết của anh gần như về cùng một vấn đề đăng trên Văn nghệ. Đó là các bài: Về tính hiếu học của người Việt xưa và nay, (Số 19, ngày 12/5/2001); Ngôn ngữ học với nghề văn (Số 27, ngày 7/7/2001); Phép màu của lãng quê (Số 39, ngày 29/9/2001). Thật ra những bài viết này là sự tiếp nối bài trao đổi của anh in trên Văn nghệ số 4, ngày 22/1/2000, có tên Sợ hơn bão táp. Từ nhiều góc độ khác nhau, anh lên tiếng cảnh báo, khuyến cáo về tình trạng nói và viết sai tiếng Việt một cách trầm trọng mà nguyên do là từ việc giảng dạy và nghiên cứu tiếng Việt bấy lâu nay quá sai lạc, tạo ra hệ thống tri thức về ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa hoàn toàn không phù hợp nghĩa là không khoa học, khiến người đọc, người học - nói như anh - “ghê sợ” tiếng mẹ đẻ. Tôi hoàn toàn chia sẻ với nỗi lo lắng chứa đựng trách nhiệm công dân cao của một nhà khoa học như anh. Tôi cũng tán đồng nhiều ý kiến xác đáng về lý lẽ, phù hợp với thực tế của anh. Và cũng như anh, tôi cho rằng những ai còn lương tri khoa học, và ý thức xã hội không thể không nghiêm túc suy nghĩ các vấn đề khẩn thiết được anh nêu ra, cùng các kiến giải độc đáo của anh.


 


            Tuy nhiên, đọc xong các bài báo của anh, tôi thấy nỗi lo ngại được anh thành thực bày tỏ cách đây gần hai năm trong bài Sợ hơn bão táp là có cơ sở: “Tôi biết rằng những điều tôi viết trên đây không có bao nhiêu sức thuyết phục, và sẽ không thiếu gì những bạn đọc không tin tôi nói thật, hay ít nhất cũng cho rằng tôi vẽ ra một bức tranh quá ảm đạm, và những nhận định của tôi là cực đoan và thiếu căn cứ” – những chỗ in nghiêng là do tôi nhấn mạnh. Tôi cứ tự hỏi, anh có qúa đủ điều kiện để lôi cuốn người khác, sao lời nói của anh “không có bao nhiêu sức thuyết phục”, mà xem ra, anh càng viết, sức thuyết phục lại càng thuyên giảm? Vâng, quả thật anh có nhiều ưu thế. Anh bàn về một ngành chuyên sâu ngữ học, Việt ngữ học mà chính anh là một chuyên gia thâm niên như có lần anh tế nhị lưu ý người đọc: …”. Tôi là một trong những người đã tham gia lâu năm nhất (từ năm 1956 là năm đầu tiên có giảng dạy ngữ âm và ngữ pháp tiếng Việt trong trường đại học)”. Mục Viết nhịu đăng nhiều kỳ trên tạp chí Ngôn ngữ và đời sống, cuốn sách Tiếng Việt, mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa do Nxb Giáo dục ấn hành 1998, cùng nhiều bài viết, báo cáo khoa học, và một vài cuốn sách khác của anh chứng tỏ tác giả của nó vừa có thực tiễn ngôn từ dồi dào vừa có lý thuyết ngôn ngữ phong phú. (Xin lỗi, tôi không dám đánh giá những đóng góp khoa học của anh, vì tôi không có thói quen bàn về những lãnh vực bản thân chưa thật sự am hiểu). Anh còn có lòng trung thực và quả cảm – vốn là ưu thế của kẻ mạnh: “Tôi chỉ nói lên những sự thật thuần túy – anh viết – mà đã mười mấy năm nay chưa từng lấy có một người nào dám nói hay viết dù chỉ một câu để bác bỏ”. Đặc biệt, anh mang tình yêu tiếng Việt hiếm có – thiếu nó sẽ không một ai có đủ nghị lực để kiên trì đi trên con đường tìm hiểu tiếng Việt vốn qúa nhiều trở ngại và thách thức để có những đóng góp thật sự. Tôi cảm động khi đọc những dòng sau của anh: “Tiếng Việt… tuy khác với tiếng Pháp về nhiều phương diện, nhất là về ngữ pháp, nó vẫn là một thứ tiếng trong sáng, chính xác, tinh tế, đẹp đẽ hoàn toàn xứng đáng được dân ta quý trọng và nâng niu”.


 


            Tóm lại, lẽ ra những ý kiến của một người có đủ uy tín như anh phải tỏ rõ sức mạnh trong thực tế, nhưng lại chưa, thậm chí không được như vậy, vì sao? Trước hết, tôi thấy ý kiến của anh có lẽ còn phiến diện và cực đoan. Chẳng hạn, việc anh lý giải hiện trạng sử dụng sai tiếng Việt tràn lan trên sách, tạp chí, và các phương tiện thông tin đại chúng. Anh gần như đổ tất cả lỗi lầm lên đầu những người viết sách giáo khoa, giáo trình tiếng Việt, theo tôi, vậy là vô lối. Anh quả quyết: “Nhiều giáo sư văn học đã phải thốt lên: Mong sao sau 12 năm học phổ thông con tôi vẫn còn nói và viết được tiếng Việt như trước khi đi học”. Tôi không rõ những người đó có sai sót hay không, và sai sót đến đâu, nhưng cả khi họ có sai sót, kể cả những sai sót trầm trọng, không thể tha thứ được như ý của anh là “ngày nay Việt Nam đang là cái pháo đài cuối cùng và cực kỳ kiên cố của chủ nghĩa dĩ Âu vi trung cực đoan trong ngôn ngữ học”, thì cũng không thể cho đó là nguyên nhân duy nhất, hoặc ở mức độ thấp hơn lànguyên nhân quan trọng nhất được. Sách viết ra, còn có vai trò của người đọc; sách dành cho việc học còn có vai trò của người dạy và người học. Không phải sách (kể cả sách công cụ như giáo khoa, giáo trình) viết gì người ta cũng buộc phải nghe cả đâu. Vả chăng, nói viết tiếng mẹ đẻ là vấn đề giao tiếp xã hội rộng rãi, nguyên do của cái hay và cái dở trong đó bao giờ cũng tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố cực kỳ phức tạp, không thể chỉ quy lỗi cho một ai, một lãnh vực nào.


 


            Nhưng thôi, cứ tạm chấp nhận với anh, sách viết về tiếng Việt còn nhiều sai sót và bất cập là một trong những nguyên do cơ bản của tình trạng sai phạm trong sử dụng tiếng Việt thì tôi cũng không thể đồng tình với anh về những lời giải thích một chiều, rằng do các nhà Việt ngữ học và rộng ra là các nhà ngữ văn học, các nhà khoa học xã hội và nhân văn ở nước ta lạc hậu và kém cỏi xa với các nước khác, nhưng họ lại không có ý thức vươn lên vượt thoát khỏi tình trạng thê thảm ấy, thậm chí còn tự cao tự đại kiểu AQ chủ nghĩa. Anh viết: “Không ít người thấy mình vượt lên phía trước rất xa so với các nước khác… vì thế giới ngày nay đã lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng về khoa học xã hội, duy có Việt Nam làm thành một ốc đảo còn có được một nền khoa học ngữ văn lành mạnh”. Tôi xin lưu ý là anh đang nói về một tình trạng “ảm đạm” chung, không riêng Việt ngữ học: “Té ra tất cả các ngành khoa học xã hội và nhân văn đều như vậy cả, và ai cũng tưởng chỉ riêng ngành mình biết mới tồi tệ như thế mà thôi”. Tôi cho rằng, có thể cũng có một ai đó nghĩ và làm vậy, nhưng chỉ là hiện tượng cá biệt, không phổ biến đâu. Phần đông các nhà khoa học xã hội tôi có dịp gặp gỡ và tìm hiểu đều khiêm nhường, thậm chí có người còn tự ti khi tiếp xúc với bên ngoài, tuyệt nhiên không dương dương tự đắc như anh nghĩ. Họ biết mình biết ta, cả mặt mạnh và mặt yếu, Khoảng cách giữa ta và người là có, nhưng chắc không quá lớn, đến mức không thể vượt qua như anh viết:“Một số lớn trong chúng tôi không hề thấy mình lạc hậu chính vì lạc hậu quá xa, nhìn về phía trước không còn trông thấy mô tê gì nữa”. Gần đây, trong tạp chí Tia sáng, nhân trao đổi về việc thành lập Viện Hàn lâm Việt Nam, anh vẫn nhất quán với đánh giá của mình: “Trong tình hình hiện nay tôi nghĩ rằng, các khoa học chính xác, các khoa học tự nhiên có lẽ có đủ người để làm thành Viện Hàn lâm. Chứ các khoa học xã hội nhất là ngôn ngữ học mà tôi biết rõ thì trong cả nước ta chỉ có bốn năm người có đủ trình độ đại học hay hơn một chút” (Số 8, ngày 5/9/2001,tr.18). Tôi nghĩ nhận xét về chất lượng khoa học bao giờ cũng phải xuất phát từ mặt bằng chung, đồng thời lại cần có cái nhìn mang sức bao quát lớn. Hình như anh chưa có đủ cả hai. Lẽ nào các nhà khoa học tự nhiên đứng ở mảnh đất khác các nhà khoa học xã hội? Lẽ nào các chuyên gia đầu ngành thuộc khoa học xã hội và nhân văn, không ít tên tuổi trong số họ từng được vinh dự nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh, mà trình độ lại thấp kém đến vậy? Nên người ta có lý do để đặt câu hỏi, vậy anh đứng ở đâu để đưa ra phán xét trên? Hay Cao Xuân Hạo với học hàm phó giáo sư  được Nhà nước Việt Nam phong tặng, đứng tách hẳn ra, ở một tầm cao khác?


 


            Trong nhiều bài viết, anh còn cố công đi tìm nguyên nhân của tình trạng lạc hậu trong các ngành khoa học xã hội ở ta. Anh bảo ở Việt Nam “có hai ngành mà nhiều người quan niệm là không cần học một chữ nào cũng có thể làm được: đó là Văn và Ngữ”. Để biện hộ cho anh, tôi cho đây là cách viết không thật phù hợp với văn phong báo chí, văn phong khoa học, như kiểu: “Một người bạn cũ lâu năm gặp lại, nay là hiệu trưởng trường phổ thông cơ sở, khi biết tôi đang dạy và viết về tiếng Việt, liền tái mặt và van xin tôi tha thiết…” hay: “Hôm ấy, khi thấy tôi tỏ ý kinh ngạc và phẫn nộ vì cái nội dung của một cuốn sách được thẩm định… một Giáo sư Tiến sĩ khoa học có tiếng tăm đã nhìn tôi với đôi mắt tràn đầy lòng trắc ẩn” (Những chỗ in nghiêng là do tôi chủ ý nhấn mạnh). Nếu không phù hợp về văn phong, lẫn sang phong cách nghệ thuật thì bắt bẻ làm gì! Thế nhưng ở đoạn sau thì tôi đành bất lực vì anh viết quá nghiêm túc: “Trong các ngành khoa học xã hội, nhất là văn học và ngôn ngữ được coi như những ngành hoàn toàn không cần đến “chuyên”, chỉ cần “đỏ”, cần lập trường “tư tưởng” mà người đã có tư tưởng tốt thì dù không học giờ nào cũng có thể làm được”. Tôi nghĩ có thể có một lúc nào đó,ở một nơi nào đó, và một ai đó nghĩ vậy, nhưng cho tới giờ, xét trên toàn cục, thì chắc chẳng còn còn mấy người nghĩ như anh. Cũng phiến diện y như cái dẫn dụ anh đưa ra sau đây để xác minh cho “sự ngu dốt” của một giảng viên: “Bản thân tôi đã từng được triệu tập đến nghe bốn buổi (14 tiếng đồng hồ) giảng về ngôn ngữ học trong đó diễn giả chưa từng đọc một trang sách báo nào về ngôn ngữ và ngôn ngữ học…”. “Phép ngoa dụ” được anh dùng không đúng chỗ, người đọc không tin anh cũng là phải thôi!


 


            Tôi cứ nghĩ mãi là tại sao một người có đầu óc sáng láng như anh lại rơi vào cực đoan trong cách lập luận và cách sử dụng từ ngữ đến mức ấy. Gần đây tôi mới phát hiện ra rằng, có lẽ là do cái “tâm” của người viết? Nghĩ như thế là bởi tôi thấy lời lẽ mạt sát người khác của anh quả có hơi quá đáng. Anh coi cuốn sách giáo khoa được Hội đồng thẩm định nọ thông qua là “sản phẩm của một người hoàn toàn mù chữ về ngôn ngữ học và tiếng Việt” viết ra. Một người bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ trước Hội đồng cấp Nhà nước bị anh gọi là “một gã vô học”. Anh ta sau đó giữ chức Phó chủ nhiệm khoa Ngữ văn của một trường Đại học Sư phạm mà anh bảo là “dạy toàn những chuyện tầm bậy cho sinh viên!” Cái gì cũng có giới hạn, vượt quá giới hạn nhiều lần thì sẽ không thể không rơi vào tình thế bất lợi. Có lẽ anh quá giận thành ra mất khôn rồi. Nhưng thôi, những lời lẽ báng bổ đó của anh cũng chỉ liên quan đến một vài người. Sự mai mỉa của anh hướng về số đông thì xúc phạm hơn nhiều. Đây, giọng điệu của anh dành cho một trong những phẩm chất quý giá nhất của người Việt Nam: “Nếu bây giờ ai còn nói đến tính hiếu học của người Việt đều không khỏi cảm thấy ngượng nghịu” (!); hoặc: “Những điều mắt thấy tai nghe trên các phương tiện truyền thông đại chúng cho thấy rõ cái tinh thần hiếu học trứ danh của dân ta ngày nay ra sao” (!). Chớ nên từ một vài hiện tượng lẻ tẻ mà nổi đóa lên như vậy. Không, chẳng gì có thể bôi nhọ tính hiếu học đang được phát huy có hiệu quả trong đa số người Việt Nam, nhất là lớp trẻ. Và cũng chẳng gì có thể phủ nhận sự cố gắng của nhiều người để giữ gìn sự trong sáng và giàu có của tiếng Việt chúng ta. Một cái nhìn thái quá đi đôi với một thái độ thái quá sẽ không những không có sức mạnh cải biến, mà ngược lại, còn ngăn cản mọi cố gắng đổi thay theo chiều hướng tốt đẹp hơn.


 


            Tôi cứ đinh ninh  lý do nói trên là cái sâu xa chi phối mọi lời bàn ít sức thuyết phục của anh. Đọc bài đăng trên Văn nghệ mới đây tôi mới vỡ nhẽ ra là không hoàn toàn phải thế. Anh dồn mọi bực dọc không kìm chế nổi trong những câu sau: “Những điều mà Hội Ngôn ngữ học Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận, có đúng sự thật không? Những đại diện của Hội cho chúng tôi biết rằng họ sẵn sáng chứng minh từng điểm một trong những nhận định mà có người coi là “cực đoan” của họ. Biết đâu họ chẳng chứng minh được điều gì có ích? Tại sao không chất vấn họ? Tại sao không điều tra xem họ có phải là một bọn vô lại hay là những nhà khoa học nghiêm túc? Tại sao không ai hé răng tranh luận với họ một lần xem sao?” (Phép màu của lãng quên).


 


           Tôi nghĩ tới một câu chuyện ẩn chứa nhiều ý nghĩa trong bộ phim Mỹ Đêm Ả Rập. Chàng hoàng tử  trong chuyện dùng tài bắn cung để chiếm quả táo “cải tử hoàn sinh” dành cho vua cha. Thật là điệu nghệ! Anh ta bắn tắt ngọn nến mà không làm cho nó suy xuyển. Thử thách cuối cùng đòi hỏi anh  phải bắn trúng quả táo đặt trên đầu một đứa trẻ dĩnh ngộ. Giương cung lên, anh lại bỏ cung xuống nhiều lần - anh không chấp nhận  tính mệnh của đứa bé phải đưa ra thử thách. Nhưng chính vì thế mà chàng trai đã dành được quả táo thần. Kết luận được rút ra thật thấm thía, trong trường hợp này, không nên giành giật chiến thắng bằng mọi giá.


Cuối thư, xin gửi tới anh lời chào trân trọng.                                        


                                         Kính thư 


                                      Phạm Quang Trung   


http://www.pqtrung.com


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Huyền thoại tắm tiên Tây Bắc - Trần Vân Hạc 22.03.2017
Thi hoa hậu trong động Thiên Đường? - Nhiều tác giả 22.03.2017
Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ sau gần 50 năm ẩn dật - Lam Điền 20.03.2017
Người già chật vật kiếm sống và thách thức với kinh tế Việt Nam - Tư liệu 19.03.2017
Cần chính sách đãi ngộ xứng đáng - Nguyễn Mộng Giao 19.03.2017
Ghét người giầu, tiêu diệt người giầu như Pol Pot hay là khuyến khích họ, không làm hư hỏng họ?! - Nhiều tác giả 19.03.2017
Thu phí vỉa hè, Việt Nam có nên học người Pháp? - Tư liệu 16.03.2017
Cố nhà văn Hoài Anh đi xa đã 6 năm! - Nhiều tác giả 15.03.2017
Nhà văn Hoài Anh: Khi viết, tôi luôn tôn trọng lịch sử - Trần Hoàng Nhân 15.03.2017
​Gần 500 cựu chiến binh Trường Sa tưởng nhớ sự kiện Gạc Ma - Tư liệu 15.03.2017
xem thêm »