tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20804413
Tiểu thuyết
13.03.2013
Hà Văn Thùy
Nguyễn Thị Lộ

Nghe nhà vua nói, các quan đều cảm kích, cùng nhau hô vang vạn tuế ba lần.


     Buổi tối, trong phật đường sáng trưng đèn nến, nhà vua hỏi hòa thượng:


     - Trẫm nghe nói rằng, đạo Bụt từ Trung Hoa truyền sang nước ta, xin hòa thượng cho biết thực hư ra sao?


     - Muôn tâu, người ta nói vậy cũng là có cái lý của họ bởi nhìn thấy từ thời nhà Đường trở về sau, đạo Bụt bên nước Tàu thịnh, xây chùa nguy nga, dịch những bộ kinh lớn, có những đại sư sang ta thuyết pháp, nhiều lần các nhà vua bên ta cho sứ thần sang xin những bộ kinh hàng trăm quyển… Nhưng nếu tra cứu kỹ càng hơn thì không phải vậy mà là ngược lại: chính đạo Bụt vào nước ta trước rồi từ nước ta truyền sang Tàu…


     Thấy lạ, nhà vua tỏ ra thú vị, cười hỏi:


      - Vậy ư, đầu đuôi ra sao mong đại sư giảng cho trẫm và các quan nghe cùng…


   - Muôn tâu, giọng sư Thiện Trai trầm tĩnh, sự thể như vầy… Hồi đầu triều Lý, khi trình bày về lai lịch đạo Bụt ở nước ta, nhà sư Thông Biện nói với vương phi Ỷ Lan rằng Mâu tử và Khương Tăng Hội là hai tăng sĩ đầu tiên ở nước ta. Trong thư tịch của Trung Hoa cổ có ghi Mâu tử người Giao Châu sống vào thời Hán Minh đế viết sách Lý hoặc luận và dịch một số bản kinh Bụt ra chữ Hán. Lý hoặc luận có nghĩa là luận về sự hoài nghi, cuốn sách cổ nhất luận lý về cơ sở của đạo Bụt. Vào thời Tam Quốc, cũng có một nhà sư từ Giao Châu sang thuyết pháp khiến vua Ngô là Tôn Quyền theo đạo và cho xây chùa Kiến Sơ ở Tràng An… Người Trung Hoa cho ông là người Hồi Hồi. Nhưng khi xét kỹ thì Khương Tăng Hội lại là con một người lái buôn Tây Trúc sang sinh sống ở Giao Châu. Người này lấy vợ người Việt, sinh ra Khương Tăng Hội. Hội thông thạo tiếng Việt, học chữ Hán rồi theo đạo Bụt. Đọc những bản kinh Khương Tăng Hội dịch ra chữ Hán thì thấy không phải được dịch trực tiếp từ Phạn ngữ mà lại dịch qua một bản tiếng Việt. Như vậy có thể đoán định rằng, vào thời Thục An Dương vương hay chí ít là vào thời Triệu Võ đế, kinh Bụt đã được dịch từ Phạn ngữ ra tiếng Việt. Dựa trên những bản dịch này, Khương Tăng Hội dịch sang chữ Hán. Ở bản kinh Lục độ tập được dịch đầu tiên, do chữ Hán chưa tinh thông nên dấu vết chữ Việt còn khá đậm. Căn cứ vào đó, có thể kết luận là chí ít thì đạo Bụt đã vào nước ta từ cuối thời vua Hùng, và lúc đó người Việt ta có chữ viết của mình. Sau này vì sao chữ thất truyền là điều chưa lý giải được. Như vậy là đạo Bụt đã theo đường biển vào nước ta trước rồi được người Việt ta cùng những tăng sĩ người Tây Trúc truyền sang Tàu. Sách Thiền uyển tập anh ngữ lục của sư Đàm Thiên đời nhà Tùy ghi rõ ràng: “Xứ Giao Châu có đường biển thông sang Thiên Trúc, khi Phật giáo chưa vào Trung Quốc… Vùng Luy Lâu xứ ấy đã xây 20 tháp, độ được 500 tăng và dịch được 25 bộ kinh. Thế là xứ ấy theo đạo Phật trước ta…” Sau này, do nội thuộc kéo dài, đạo Bụt ở Giao Châu suy vi, trong khi đó ở bên Tàu thì thịnh lên khiến người ta có cảm tưởng đạo Bụt từ bên Tàu truyền sang nước ta…


    - Thì ra vậy, nhà vua cười vui vẻ. Nghe đại sư nói, trẫm thấy chí lý. Đúng là thời đó đường sá cách trở nên tăng sĩ Tây Trúc vượt biển sang ta đễ hơn, cũng do vậy mà đạo Bụt truyền vào ta trước. Điều này có lý. Còn nói vào thời vua Hùng, chúng ta đã có chữ, nghe thì hả dạ nhưng tin lại khó. Thời đó mà đã có chữ thì thật vẻ vang. Nhưng đó là loại chữ gì, mà làm sao lại thất truyền? Nét mặt nhà vua tỏ ra băn khoăn.


   -  Muôn tâu thánh thượng, Nguyễn Trực lên tiếng, việc vì sao mà chữ của người Việt bị mai một, thần không rõ nhưng việc thời thượng cổ chúng ta có chữ viết là xác thực. Thần đọc Chu thư, thấy có ghi, người Giao Chỉ xăm mình, viết chữ khoa đẩu, tức là chữ hình con nòng nọc… 


    - Tâu hoàng thượng, nhà sư Thiện Trai nói tiếp, thời Bắc thuộc, tuy đất nước bị ngoại bang đô hộ nhưng về đạo Bụt, người Nam ta đóng góp cho Thiền tông Trung Hoa vị tổ thứ sáu là Huệ Năng…


    - Sao, đại sư nói sao? Người Nam ta lại là vị tổ thứ sáu của Thiền tông Bắc quốc? Nhà vua ngạc nhiên hỏi.


    - Tâu hoàng thượng, sách Pháp bảo đàn kinh chép rằng, Tổ là Huệ Năng người Tân Châu xứ Lĩnh Nam ta. Tổ sớm mồ côi cha, nhà nghèo phải kiếm củi nuôi mẹ. Một hôm đến bán củi cho một tiệm khách, khi ra về thì nghe tiếng tụng kinh Phật, lời kinh chấn động mạnh tinh thần. Tổ hỏi ra thì được biết đấy là kinh Kim Cương do Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn truyền ở núi Hoàng Mai đất Kỳ Châu. Khát khao học kinh ấy với vị thầy ấy, Tổ thu xếp tiền nong gửi lại nuôi mẹ rồi đi bộ gần tháng trời đến núi Hoàng Mai vào làm lễ Ngũ Tổ.


      Ngũ tổ hỏi: Ong từ đâu đến?


      Tổ đáp: Lĩnh Nam.


      Ngũ Tổ hỏi: Ong muốn cầu gì?


       Đáp: Chỉ cầu làm Phật.


      Ngũ Tổ nói: Người Lĩnh Nam không có tính  Phật, sao làm Phật được?


      Tổ bèn đáp: Người đành có Nam có Bắc,  tính Phật há vậy sao?


      Tuy lời đáp làm đẹp lòng Ngũ Tổ, nhưng Tổ cũng chỉ được giao việc bửa củi, giã gạo ở nhà bếp. Ít lâu sau, Ngũ Tổ có ý định chọn người kế vị mình giữa đám môn nhân năm bảy trăm người làm Tổ thứ sáu. Trong số học trò của Ngũ Tổ, có Thần Tú là người học cao và nhuần nhã nhất việc đạo, được đồ chúng coi là người xứng đáng kế vị. Thần Tú làm bài kệ viết trên vách chùa:


       Thân là bồ đề cội


       Tâm như gương sáng dài


       Giờ giờ siêng phủi quét


       Chớ để nhuốm trần ai


     Đọc bài kệ, ai cũng thích, cho là tác giả đã giác ngộ, thoát khỏi trần tục, xứng đáng được kế vị.  Nhưng sáng hôm sau lại thấy bên cạnh đó bài kệ khác:


       Bồ đề vốn không cội


       Gương sáng cũng không dài


       Nguyên chẳng có một vật


        Sao gọi phủi trần ai.


     Tác giả bài kệ đó là vị cư sĩ quèn chuyên bửa củi giã gạo trong nhà bếp. Bài kệ chọi lại bài của Thần Tú nhưng trình độ giác ngộ về Thiền cao vượt trội. Ngũ Tổ thấy ở bài kệ tỏa ra một pháp khí chứng tỏ người viết có thể thống lĩnh chúng tăng làm nên nghiệp lớn sau này bèn quyết định truyền áo pháp cho Tổ. Nhưng Ngũ Tổ có ý lo, làm vậy sẽ gây ra tranh chấp, hại đến tính mạng của Tổ nên ngầm bảo sang canh ba, khi đồ chúng ngủ yên, vào tịnh thất dạy việc. Ngũ Tổ trao áo pháp truyền từ Tổ Bồ đề Đạt Ma cho Tổ và dặn: hãy tạm mai danh ẩn tích nơi núi rừng chờ thời đến sẽ công khai xuất hiện và hoằng dương. Mười hai năm sau, vào năm đầu niên hiệu Nghi Phụng đời nhà Đường, Tổ đến chùa Pháp Tính thành Quảng Châu khai sinh dòng Thiền Nam tông truyền đến ngày nay…


    Nhà vua khoái chí cười lớn: Thú vị thật, từ người giã gạo, bửa củi trở thành vị tổ thứ sáu của Thiền tông Bắc quốc. Nước Nam ta thực lắm nhân tài!


  - Bẩm hoàng thượng, Nguyễn Trãi thưa, từ khi được tự chủ, đạo Bụt nước ta ngày một thăng tiến và thịnh nhất vào thời Lý thời Trần. Việc đức Nhân tông đệ nhất tổ Trúc Lâm chọn Yên Tử để xiển dương đạo Bụt vừa có ý nghĩa cho đạo mà cũng là có ý giúp đời. Từ địa bàn xung yếu này người cảnh giác phương Bắc nhằm giúp nhà Trần bảo vệ biên thùy… Việc hoàng thượng tín nhiệm giao cho thần chức Đề cử Côn Sơn tự cùng việc người duyệt thủy quân ở miền Đông cũng là tiếp nối đại nghiệp giữ nước an dân của tiền triều… Lúc trưa hoàng thượng có nói, người mong được thư nhàn giao việc nước lại rồi lên ẩn cửa Bụt… Thần trộm nghĩ, Bụt tại tâm. Hoàng thượng cứ giữ tâm bụt, hết lòng yêu dân vì nước cũng là đạt chính quả…


     Như bừng tỉnh, nhà vua gật gật đầu:


   -  Quan Hành khiển nói phải, cái gánh trên vai trẫm còn nặng lắm. Lúc này mà nghĩ đến an nhàn nơi cửa Bụt thì sớm quá. Nhưng nói như lúc trưa, cũng phần nào là tâm nguyện là lòng yêu của trẫm với cảnh chùa này. Trẫm mong quan Đề cử chùa Côn Sơn cùng chư tăng làm cho ngôi quốc tự này thêm đẹp và nêu cao được Phật thống của dòng thiền Trúc Lâm.


   Đại sư Thiện Trai rước nhà vua cùng các quan đi nghỉ sớm để ngày mai lên đường. Nguyễn Trãi cùng Thị Lộ được lão Mộc đốt đuốc rước về phủ.


    Nàng Cẩm Vân mừng rỡ đón hai người ở cổng rồi đưa về thư phòng. Nàng rót từ trong giành tích ra hai chén nước chè tươi nóng hổi mời Nguyễn Trãi và Thị Lộ rồi ý nhị ra ngoài. Cầm chén nước trên tay, Nguyễn Trãi hỏi:


 - Phu nhân thấy việc nghênh giá thế nào?


    - Thưa, thiếp thấy mình tiếp giá không được linh đình nhưng cũng trang trọng và chu đáo.


    - Trang trọng và chu đáo… Nguyễn Trãi trầm ngâm nhắc lại rồi khẽ gật đầu. Phải, nàng nói phải. Tuy trong cảnh neo ngặt, ta không đón tiếp thánh thượng được linh đình nhưng cũng là chu đáo, trang trọng. Việc này công lớn là do nàng. Ta bận mải bên thánh thượng nên việc nhà dồn hết cho nàng. Nàng đã khéo sắp đặt công việc trong nhà, trên chùa, lại có sáng kiến nấu món chay ngon, vừa lòng thánh thượng…


      - Đa tạ lão gia quá khen, nhưng thiếp tự thấy, công của mình thật nhỏ còn công của lão gia mới lớn. Đó là cái công quán xuyến chăm lo cho cảnh đời cũng như cảnh chùa. Nếu dân không an cư lạc nghiệp thì chùa cũng không thể sầm uất nên chẳng thể khoe tươi khoe tốt được… Mấy năm mới trở lại quê, thiếp thấy cảnh vật khác xưa nhiều. Cây cối xanh tốt hơn. Xóm làng trù phú hơn. Người dân có da có thịt, ăn mặc cũng lành lặn hơn. Sự yên bình hiện lên trên ánh mắt trên khuôn mặt từng người…


     - Nàng nói phải… Nguyễn Trãi lại gật gật đầu sau lúc trầm ngâm suy nghĩ. Nhìn cảnh hàng ngày mãi cũng quen nên ta không nhận ra điều đó. Nhưng thâm tâm cảm thấy có cái gì đó yên ổn. Những năm qua ta cũng làm được ít việc hữu ích… Nhìn vợ bằng cặp mắt trìu mến, Nguyễn Trãi nói tiếp, lâu rồi ta mới được ở gần thánh thượng nhiều ngày. Ta thật mừng vì thấy người cứng cáp lên nhiều. Người có phong thái đĩnh ngộ, nói năng thận trọng nhưng dứt khoát. Qua cuộc duyệt võ, ta hiểu nhà vua đã quán xuyến được công việc quốc gia, biết nhìn xa trông rộng. Bên ngoài lo võ bị. Bên trong khoan nới sức dân, mở mang văn học. Nghe nông phu cùng trẻ mục đồng hát đồng dao Đời vua Thái tổ Thái tông, lúa má đầy đồng trâu chẳng buồn ăn ta hiểu ơn vua đã thấm nhuần. Ta cứ băn khoăn tự hỏi, phải chăng đã đến thời thái bình thịnh trị? Nếu vậy thì đấy là cái phúc của dân của nước…


   Lão Mộc bước vào, tay bưng chiếc khay gỗ sơn mài trên đó một nậm rượu hai cái chung, bát đũa và mấy quả nem. Lão bộc già nói vẻ kính cẩn:


    - Thưa, bà trẻ bảo mang đồ nhắm lên hầu lão gia cùng phu nhân.


    - Cảm ơn lão, lão mời bà trẻ cùng lên hầu rượu lão gia. Thị Lộ nói.


    - Dạ thưa, bà trẻ xin cáo vì không dùng được rượu. Nói rồi lão Mộc nhanh nhẹn bóc lá quả nem, đặt vào đĩa sứ trắng, rắc thính lên, rồi dùng đũa trộn đều. Mùi nem chua quyện với hương thính thơm ngọt.


Làm xong việc, lão cầm nắm lá chuối gói nem nhẹ nhàng bước ra.


Bà Lộ rót rượu sủi tăm ra hai cái chén hạt mít rồi cầm hai tay dâng chồng:


         - Mời lão gia! Mời chồng xong, nàng cầm chén rượu của mình nâng lên ngang mặt, uống ngụm nhỏ.


     Uống xong chén rượu, Nguyễn Trãi gắp nem chấm nước nắm Vạn Vân, đưa lên bát rồi thưởng thức từng miếng nhỏ.


        - Ngon quá, chỉ lão Mộc mới làm được thứ nem này…


        - Đúng là ngon thật, lâu lắm thiếp mới được thưởng thức thứ nem ngon như vầy. Chàng có biết những ngày  ở trong cung, thiếp nhớ gì nhất không?


 Nguyễn Trãi nhìn vợ chăm chăm:


       -  Nàng nhớ gì nhất?


       - Thiếp nhớ chàng cùng nem của lão Mộc!


    Khuôn mặt hồng hào vì rượu, Nguyễn Trãi cười móm mém. Uống chung rượu thứ hai, ông hỏi:


       - Lúc nãy ta nói đến đâu rồi nhỉ?


       - Dạ thưa, chàng nói đến thái bình thịnh trị.


       - Ừ phải, ta cứ băn khoăn tự hỏi, phải chăng đây là thời thái bình thịnh trị? Cái đèn dù sáng đến mấy cũng không soi được chân mình. Con người luôn mơ về tương lai nên thường không chú trọng cái hạnh phúc hiện có. Nếu soi vào lịch sử thì đây đúng là lúc thái bình thịnh trị còn gì? Lắng lại một lúc như suy nghĩ, ông thổ lộ: Nhiều lúc phân vân ta cứ nghĩ, chính nàng, chính nàng đã góp phần cho cuộc thịnh trị này…


       - Lão gia, đừng nói thế phải tội thiếp!


       - Phải, đúng là nàng. Chính nàng cải biến được hoàng thượng… Cứ nghĩ xem, nếu không phải nàng thì ai làm thay đổi được nhạc lễ của Lương Đăng? Ai cản được cuộc tranh chấp giữa hai bà phi? Sẽ là những án oan, là những cuộc chém giết. Trong mọi thứ loạn thì loạn từ cung cấm ra là đáng sợ nhất! Mừng vì nàng mà ta cũng lo cho nàng. Dù khéo léo dù thận trọng thế nào chăng nữa thì nàng cũng tự tạo cho mình ngày một nhiều kẻ thù. Tiếc là ta không ở gần để giúp nàng… Vì vậy nàng càng cần phải cẩn trọng!


      Lão Mộc bưng vào thau nước và chiếc khăn cho hai người lau tay rồi nhẹ nhàng dọn khay bát. Nàng rót chén nước mời chồng. Uống xong chén nước, ông nói:


      - Thôi khuya rồi, nàng nên đi nghỉ để mai theo xa giá hồi cung.


      - Phu quân, Thị Lộ kêu lên thảng thốt. Đêm nay cho thiếp được hầu hạ chàng. Nói rồi nàng chăm chăm nhìn chồng. Thấy nét mặt chồng không thay đổi, nàng quỳ xuống van vỉ. Xin cho thiếp được hầu hạ chàng. Đừng ruồng rẫy thiếp. Đừng tuyệt tình với thiếp như thế…


     Để mặc cho vợ quỳ trên nền gạch, Nguyễn Trãi quay người bước xa nàng ba bước.


     - Nàng đừng làm khó ta. Ta đã tha thứ cho nàng, ta không còn hờn giận gì nàng… Nhưng ta không thể. Không thể là ta tôn trọng ta mà cũng chính là tôn trọng nàng. Ta muốn giữ mãi tình cảm vợ chồng không vẩn đục… Chén nước đã đổ, không thể hót lại như xưa. Từ ngày ấy, ta coi nàng như bạn. Phu phụ như tân. Ta muốn nàng giúp ta giữ bền tình bạn ấy. Bước tới gần vợ, ông nói nhẹ nhàng nhưng dứt khoát:


      - Nàng đứng lên. Ong đưa hai tay nâng vợ dậy rồi dìu bà về phòng của bà. Thị Lộ cúi đầu buớc đi vô cảm như người không hồn.


Trở về phòng mình, Nguyễn Trãi để nguyên quần áo nằm vật ra giường. Ong vừa qua những phút quyết liệt như phải vác một vật nặng quá sức lên dốc. Ong hụt hơi, nằm thở. “Liệu mình có khắt khe quá với nàng không?” Ong tự hỏi câu hỏi dằn vật ông đã bao ngày. Trước đây, chỉ mình với mình là một chuyện, còn bây giờ, đối mặt với nàng, đối mặt với sự đau khổ của nàng, nỗi dằn vật tăng lên gấp bội khi nhìn con người mình thương yêu đầu gối tay ấp bây giờ phải lìa xa, mà nàng quằn quại trong thất vọng… Dù biết vậy nhưng ông cũng biết rằng ông không thể! Nén lòng lại, ông nằm im…


   Nằm vật vã trên giường, Thị Lộ để mặc nước mắt tuôn rơi. Quá thất vọng, quá đau khổ, nàng ước gì mình được tan đi được tan ra cùng nước mắt. “Chàng sắt đá quá, khắc nghiệt quá! Không tha thứ cho mình ! Vậy là từ nay mất chàng thật rồi!” Tia hi vọng mong manh của nàng vào cuộc hòa giải đã hoàn toàn lụi tắt…


     Sáng hôm sau, dù hết sức mệt mỏi, Nguyễn Trãi và Thị Lộ cũng dậy sớm. Sau khi ăn sáng, hai người lội sương sang bên chùa. Trước cổng chùa, các nhà sư tề tựu đông đủ. Đại đức Thiện Trai mặc cà sa vàng, chống gậy trúc, râu dài bạc trắng cúi đầu vái bái biệt nhà vua cùng các quan. Thái tông nói với nhà sư trụ trì:


   -  Đa tạ đại đức cùng chư tăng đã tiếp đón quả nhân. Nhờ vậy quả nhân được thưởng lãm cảnh linh tự nơi núi rừng này. Cũng nhờ vậy mà quả nhân được tự hào về lịch sử lâu dài của đạo Bụt trên đất nước ta. Trẫm mong nhà chùa cố công tu tạo cảnh chùa ngày thêm sầm uất, bồi bổ cho phong tục ngày thêm thuần hậu.


    Nguyễn Thị Lộ vái chào đại đức cùng chư tăng rồi theo đoàn tùy tùng xuống chân núi. Trên bến Đông, mấy chục chiếc thuyền chực sẵn, cờ phướn rợp trời, inh ỏi chiêng trống. Thuyền rồng của nhà vua trang hoàng lộng lẫy toàn màu vàng. Chiếc cờ đại màu vàng có chữ “Lê” bay phấp phới trên đỉnh cột buồm. Những người lính xứ Thanh lực lưỡng khoác áo ngắn màu vàng tay nắm mái chèo đứng uy nghiêm bên mạn. Theo nhà vua đến tận chiếc cầu gỗ lớn bắc vào mạn thuyền, Nguyễn Trãi vái chào nhà vua. Bước sau vua, Thị Lộ dừng lại bên cầu, con mắt thất thần nhìn Nguyễn Trãi. Đến bên nàng, Nguyễn nói nhỏ: “Nàng đi bình an!” “Lão gia ở lại an khang” tiếng nàng nói hụt hơi. Nói xong, nàng chầm chậm quay người bước lên cầu, tà áo dài màu mỡ gà nhẹ như cánh bướm xòa bay theo làn gió sớm mai. Nhà vua cùng các quan tựa mạn thuyền rồng vẫy chào những người đưa tiễn. Thị Lộ chăm chăm nhìn chồng, tay vẫy mãi chiếc khăn màu trắng. Nước mắt nàng hai hàng chảy tự bao giờ, qua làn nước mắt nàng nhìn ngoái lại mãi cho tới khi bóng Nguyễn Trãi tan cùng sương khói. Không hiểu sao, nàng thấy nỗi buồn nỗi đau thắt ruột lại. Nàng cứ nghĩ sẽ không bao giờ còn gặp lại chàng…


   Quay lại nhà, không kịp nghỉ ngơi, Nguyễn Trãi thay bộ quần áo đi đường, cầm gói hành lý rồi trở ra bến. Mấy người lính chờ sẵn, viên đội trưởng mời ông xuống thuyền. Thuyền của ông nhẹ, chèo vun vút ngược theo hướng đoàn thuyền nhà vua, đi về phía Vân Đồn có công việc gấp.


 


 (còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Thị Lộ. Tiểu thuyết lịch sử của Hà Văn Thùy. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info


 


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
xem thêm »