tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20813317
06.12.2008
Nhiều tác giả
Trương Đăng Quế Cuộc đời và sự nghiệp (5)

SỰ NGHIỆP TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ


Thời kỳ đầu làm quan, Trương Đăng Quế cố gắng làm tròn chức trách, chưa có đóng góp gì đáng kể cho triều đình, vì chức nhỏ, chưa được phép ý kiến nhiều, và cũng như bất cứ người trẻ tuổi nào, ông cũng bị vướng một số khuyết điểm, lầm lỗi, nhưng những đóng góp của ông cho triều đình, cho đất nước mới là quan trọng.


Chúng ta tuần tự nghiên cứu từng lãnh vực cụ thể.


Sử ghi hai lỗi nhỏ.


Lần một, bộ Lại kê danh sách quan địa phương đợi vua khuyên tên cho vời đến kinh chúc thọ. Quan Hộ tào thành Gia Định là Ngô Bá Nhân được vua khuyên mà các quan ở bộ Lại và các quan ở Nội các quên mất, không gởi cho, nên đều bị giáng 3 cấp, trong đó có các quan thị lang Nội các Phan Thanh Giản, Trương Đăng Quế và Phan Bá Đạt.(Đại Nam thực lục, tập 3, tr. 34)


Lần hai, là nhân ngày làm lễ đại khánh vua Minh Mệnh, Thị lang Nội các là Phan Thanh Giản và Trương Đăng Quế dâng bài tụng đại khánh, thuật các việc từ lúc vua lên ngôi đến nay, siêng lo chính trị làm gốc để được phúc hưởng thọ. Vua Minh Mệnh bực mình phê:


“Bọn ngươi không lo cố gắng làm hết chức phận, cứ ngày thêm lỗi, nay lại làm bài văn vô dụng này đối với lầm lỗi có bổ ích gì?”.


Đại Nam thực lục, tập 3, tr.39


Vua ném trả lại và truyền chỉ quở mắng.


Sử đã ghi nhiều đóng góp của Trương Đăng Quế từ những công việc cụ thể đến những sách lược về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội mang tầm quốc gia.


Trên kia, chúng ta đã nghiên cứu về bối cảnh lịch sử, về gia tộc Trương Đăng Quế, và sơ yếu lý lịch bản thân, về con người ông. Bây giờ chúng ta nghiên cứu những việc làm cụ thể trong cuộc đời và sự nghiệp của ông.


1. TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ VẠCH THẾ TRẬN TRẤN TÂY THÀNH


Trấn Tây thành là nước Chân Lạp thời nhà Nguyễn. Sau khi đã yên giặc Xiêm, vua cho rằng việc biên giới nên xếp đặt trước, bèn cho đình thần bàn kỹ về mọi việc cho thành Nam Vang và hai tỉnh An Giang, Hà Tiên. Đình thần cho rằng có rất nhiều việc đáng nên sửa sang thực khó làm cả một lúc được. Nên biết rằng, đình thần bàn bạc trên cơ sở tờ trình của bộ Binh, do Trương Đăng Quế đứng đầu khởi thảo.


Những việc cần kíp dưới đây liệt kê từng điều để tâu lên:


1.Thiết lập thành trì đồn trại: Thành Nam Vang đã bị giặc Xiêm tàn phá, đáng lẽ vua nước Chân Lạp sửa đắp để ở và giữ. Nhưng mới lấy lại được, lòng người còn ngờ sợ, nên phải liệu đem trọng binh để giúp việc trấn áp. Xin chọn một chỗ đất ở dưới thành lập một đồn to đặt tên là đồn An Man, để 2.000 biền binh đóng giữ, đặt thêm một quan Lãnh binh An Giang đến coi quản, phàm những công việc quan trọng đều do quan Tổng đốc điều khiển. Còn công việc nước Phiên vẫn do vua Chân Lạp liệu lý. Vì mạn thượng du Battambang là nơi địa đầu rất xung yếu, cũng xin đặt ở chỗ ấy một đồn to gọi tên là đồn Tịnh Biên, phái quân đi đóng giữ để nghiêm việc phòng bị. Ở dưới Nam Vang có xứ Kanport, trên thông với Nam Vang dưới suốt đến An Giang, đấy là trung độ. Và đối ngạn với Nam Vang là xứ Loveth, đường bộ có thể thông đến Quang Hóa. Ở trên Nam Vang có biển hồ Tonlesap đường có nhiều ngả, ví chẳng do đường Battambang hay do đường khác, nếu đi qua biển này cũng có thể thông đến Nam Vang, Xứ Poipet là cuối địa giới Chân Lạp với nước Xiêm, cũng là nơi trọng yếu, đều nên liệu đặt đồn trại, phái vài chục quân Chân Lạp đóng giữ. Khi có việc thì báo cho nhau để thông tin tức. Ngoài ra, hoặc có chỗ nào nên đặt đồn xin do bọn Trương Minh Giảng, Nguyễn Xuân và Lê Đại Cương xét kỹ, tâu lên sẽ theo thứ tự mà làm. Còn thành tỉnh An Giang trước đã dựng ở đất Long Sơn, chưa làm xong. Chỗ ấy cũng cao ráo, sáng sủa, đào cảng thông đến Châu Đốc, thì có thể ngoái trông cả Tiền Giang và Hậu Giang, đủ là địa thế hiểm trở hữu hình, xin nên theo chỉ dụ trước, tiếp tục xây dựng cho được hoàn thành. Lại nữa, Châu Đốc trên thì thông với Nam Vang, dưới thì tiếp với Vĩnh Long, cùng với Hà Tiên, che chống lẫn cho nhau, xin theo như cũ, sửa đắp thêm, liệu để trọng binh canh giữ. Từ miền hạ du Châu Đốc đến thủ sở Chiến Sai cũ là nơi đường thủy Tiền Giang – Hậu Giang tất phải đi qua. Quan quân đi tiễu, đã có đặt đồn đóng quân, xin lập hai pháo đài ở hai bên tả hữu chỗ ấy: một cái đặt tên là pháo đài Toàn Thắng, một cái đặt tên là pháo đài Phá Địch, liệu đặt biền binh đóng giữ. Còn tỉnh thành Hà Tiên, trước vì lỵ sở cũ chật hẹp nên đã dời đến Giang Thành. Chỗ này địa thế cao rộng, quang đãng, đủ để cư tụ. Nếu dựng lập tỉnh thành ở đấy, rồi đặt đồn lớn ở tỉnh lỵ cũ, đồn để đóng trọng binh, ngoài có pháo đài Kim Dữ cùng bảo vệ lẫn cho nhau, ví như có tường phên che đỡ, lại có cửa ngõ canh phòng, thì những lúc gặp việc quân cơ, ứng phó thình lình, có thể phòng bị những điều bất trắc. Còn như tỉnh lỵ cũ, gần sát cửa biển ngoài không có gì để che đỡ, e không phải là nơi đất tốt. Duy hộ phủ Trịnh Đường đã có tâu, chuẩn cho thiết lập lại như cũ. Đường bộ từ Gia Định thông đến Nam Vang, chỗ cầu Tây Hoa (Tây Ninh) đạo Quang Hóa rất là xung yếu. Xin đắp một thành đất ở đạo Quang Hóa, đặt một đồn ở Tây Hoa phái quân đóng giữ.


2. Dự liệu phân phối về việc công dịch và việc trú phòng:


Ngoài thành Nam Vang và hai đồn lớn ở Battambang, còn những công trình xây dựng khác xin do bọn Trương Minh Giảng liệu phái biền binh, thương lượng với vua Chân Lạp liệu điều động quân, dân nước ấy góp sức cùng làm. Còn thành mới An Giang, đồn Châu Đốc, pháo đài Toàn Thắng, pháo đài Phá Địch, thành đất ở đạo Quang Hóa thì do quan tỉnh An Giang, quan tỉnh Gia Định điều động quân, dân tại chỗ đến làm. Còn biền binh trú phòng: đồn An Man do bọn Trương Minh Giảng liệu để lại 2.000 biền binh, điều động thuyền bè canh giữ. Thành mới An Giang, đồn Châu Đốc cùng hai pháo đài Toàn Thắng và Phá Địch thì do hai tỉnh An Giang, Vĩnh Long. Thành đất Quang Hóa và tấn sở Tây Hoa thì do tỉnh Gia Định liệu phái biền binh canh giữ. Còn Tonlesap, Ba Nộn, Loveth và Kanport thì thuộc Nam Vang điều động và ngoài những chỗ ấy, phàm những chỗ nào nên đặt tấn sở thì điều động quân dân đến làm. Những chỗ canh giữ do quan địa phương châm chước mà làm. Và số quân tỉnh Hà Tiên không có bao nhiêu, xin do quân tỉnh An Giang phái thêm 500 biền binh đóng giữ. Nếu tỉnh thành đặt ở Giang Thành, tỉnh lỵ cũ mà làm đồn to thì xin lấy quân và dân tỉnh Vĩnh Long để cùng làm. Còn các đồn ải và các tấn sở ở nước Chân Lạp thì do quan Tổng đốc An Giang bàn cùng vua Chân Lạp liệu điều động quân Chân Lạp xen với quân ta phòng thủ.


3. Dự trữ quân nhu ở các đồn trại bộ là Bùi Phổ quyền giữ ấn triện bộ Hộ.


Nước Chân Lạp trước không có tàng trữ lại bị chiến tranh tàn phá. Thế nên 2.000 biền binh đóng giữ ở đồn An Man xin do tổng đốc tỉnh An Giang tư lấy thóc vài vạn hộc, tiền vài vạn quan ở hai tỉnh Vĩnh Long - Định Tường đem đến chứa ở đấy để đủ cấp lương rồi sẽ làm dần.


4. Phân biệt công tội của quan nước Chân Lạp:


Khi giặc Xiêm mới vào cướp, vua Chân Lạp đã chạy trước sang ta, quan Chân Lạp mà người nào biết tập họp quan dân, mượn tiếng quan quân, đánh lùi giặc Xiêm, không những vì nước mình diệt thù mà còn giúp rập quân ta đuổi giặc, ví như bọn Nhâm Lịch Trà Tri thì nên liệu khen thưởng để khuyến khích người sau. Còn trong bọn quân Chân Lạp, người nào nhanh nhẹn được việc vốn được người dân tại chỗ tin phục thì do bọn Trương Minh Giảng hội cùng vua Chân Lạp làm danh sách kể rõ tên họ, quan chức và sự trạng tâu lên đợi Chỉ để ban cho quan chức của triều đình đặt trùm lên trên, khiến họ cùng đội ân, vinh cho mọi người đều biết khuyến khích. Những kẻ cam lòng theo giặc, đứng đầu làm ác thì cho vua Chân Lạp lọc ra để nghiêm trị, để họ biết răn sợ. Còn những người bị bắt ép theo giặc thì không nên xét kỹ.


5. Đình chỉ việc cho sứ Chân Lạp sang Xiêm La:


Trước đây nước Chân Lạp mỗi năm một lần sai sứ sang Xiêm, do quan thành Gia Định cũ đem việc chuyển tâu cho hợp lễ giao hiếu với láng giềng. Nay người Xiêm tham tàn càn rỡ, đem quân vào cướp, xua đuổi dân Chân Lạp, cướp bóc của cải tài vật của họ nên hai nước trở thành kẻ thù của nhau. Vậy việc thông sứ xin giao quan Tổng đốc An Giang - Hà Tiên chuyển sức, đình chỉ mãi mãi.


6. Chỉnh đốn quân Chân Lạp và chiến khu:


Nước Chân Lạp đất rộng, người đông mà từ trước đến nay quân lính tản mác, không có thông thuộc. Cần nên một phen chỉnh đốn cho có quy tắc. Xin do bọn Trương Minh Giảng hội cùng vua Chân Lạp sức cho an phủ các phủ: cứ số dân, mười người lấy một làm lích, cho theo các an phủ, đóng giữ địa hạt. Lại nên bảo cho vua Chân lạp phải rộng tích trữ, sắm khí giới, đóng thuyền bè để làm thế cường thịnh.


Đại Nam thực lục


Bản phác thảo chiến lược về việc xây dựng và phát triển vùng đất Nam Bộ và Chân Lạp rất cụ thể, tưởng không thể nào chu đáo hơn.


Trong bài tựa tập thơ Trương Quảng Khê tiên sinh tập, Phan Thanh Giản viết có câu:


 “Vả lại, tiên sinh từng trải, nắm vững vùng đất Nam Kỳ lục tỉnh như lòng bàn tay, nhìn xa trông rộng, xác định những nơi hiểm yếu, tâu xin xây dựng thành trì ở Tây Ninh là điều mà tôi tuy là người gốc Nam Bộ, thật tình cũng chưa từng nghĩ tới”.


Thơ Trương Đăng Quế, sđd, trang 10


Trương Đăng Quế làm nhiều bài thơ, có lẽ khi ông đi kiểm tra công việc thực hiện sách lược trên kia, bài:


TỪ LẦU THÀNH TRẤN TÂY (Nam Vang)


Khống chế cả vùng biên trấn nầy


Đồn binh lương thảo giáo gươm đầy


Thừa khi công chúa lên ngôi báu


Là lúc nguyên nhung lập kế hay


Mừơi sáu phố phường dân hội tụ


Bốn luồng giòng rẽ nước thông đầy


Lên cao đưa mắt nhìn toàn cõi


Vạn lý thu về nước Việt đây.


Năm 1835, Minh Mệnh năm thứ 16, mùa đông, bọn tướng quân Nguyễn Xuân, Phạm Hữu Tâm khải hoàn từ quân thứ Gia Định về đến Kinh (dẹp xong dư đảng Lê Văn Khôi).


2. TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ LẬP ĐỊA BẠ SÁU TỈNH NAM KỲ


Năm 1836, Minh Mệnh năm thứ 17, vua Minh Mệnh tổ chức việc kinh lý Nam Kỳ. Bổ nhiệm Binh bộ thượng thư, Cơ mật viện đại thần Trương Đăng Quế và Lại bộ thượng thư Nguyễn Kim Bảng làm Kinh lược đại thần, thự Lễ bộ Hữu thị lang Tôn Thất Bạch và thự Thông chính sứ Nguyễn Đức Trí làm phó sứ.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 878


Ngày 24 tháng 3 năm 1836, phái bộ Nam Kỳ Kinh lược sứ Trương Đăng Quế đi thuyền mới sáu ngày đã tới Gia Định, làm sớ tâu lên. Vua Minh Mệnh thấy chuyến đi này thuận buồm, xuôi gió, nên truyền chỉ hỏi thăm úy lạo, lại thấy thời tiết đã sang mùa hè, trong Nam nóng dữ, nên sai thị vệ mang rượu thuốc Tây dương gấp đến ban cho.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 899


Bọn Trương Đăng Quế khi mới đến Gia Định bàn với hai phó sứ Tôn Thất Bạch và Nguyễn Đức Trí chia đi Biên Hòa, Định Tường để khâm đạc. Bấy giờ đại sứ Nguyễn Kim Bảng bị bệnh, Trương Đăng Quế liền dâng sớ xin tạm ở Gia Định, xếp đặt năm ba ngày rồi đi ngay Vĩnh Long, An Giang để lướt qua một phen chỉnh sức trước. Ông tâu về triều:


 “Hạt này, sau nạn binh hỏa, dân mới được yên ổn sum họp. Về việc tuyển lính, những kẻ ngu lười, yên thói cũ, lúc mới thì hoang mang sợ hãi, đến khi được các phủ huyện theo lời dụ dẫn bảo, bấy giờ mới hơi yên ổn. Quan tỉnh hiện đang gọi và tuyển lính. Duy về việc đạc ruộng, nhân dân sở tại ít người biết toán pháp, không khỏi một phen phải tốn công chỉ bảo cho nhiều người tập quen để sẽ lần lượt tiến hành. Thần đã sai giáo thụ, huấn đạo hiệp với các viên phủ huyện cùng làm, ngõ hầu mới mong xong sớm được”.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 902


Vua cho giải chức Kinh lược của Nguyễn Kim Bảng vì tuổi già lắm bệnh, chờ thuyền trở về kinh đô điều dưỡng. Sai Trấn tây tướng quan Trương Minh Giảng thay làm. Dụ rằng:


“Việc đi kinh lý lần này, tuyển lính để bảo vệ dân, đạc ruộng để định cương giới, đều là chính sự lớn của nước, triều đình không phải lấy đó làm lợi. Nên đem ý này hiểu thị cho dân sở tại. Các khanh là trọng thần của nhà nước, mọi việc phải nên vừa phải, không dễ dãi mà cũng không mạnh quá. Việc Kinh lược Nam Kỳ lần này không phải chỉ được ủy cho hai việc ấy thôi đâu, mà trong sáu tỉnh Nam Kỳ, phàm việc lợi nên làm, việc hại nên bỏ, đều châm chước mà làm cho được ổn thỏa và tốt. Đến như nhân dân nếu có điều gì uất ức, thì nên làm cho tới nơi tới chốn mà gỡ oan cho người ta để đức ý nhà vua thông suốt tận người dân và tình dân được thấu lên trên. Thế mới không phụ lòng ta ủy thác”.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 903


Quan tỉnh Gia Định tâu nói:


“Năm ngoái thuê mướn dân phu ở tỉnh hạt và ở Vĩnh Long và Định Tường để san bằng thân thành Phiên An cũ, và lấp các hào rãnh, đến nay công việc mới được quá nửa. Bây giờ có việc tuyển lính và đạc điền, dân các tỉnh gián hoặc có người phải đăng lính, có người phải đích thân đứng ra nhận ruộng đất, vậy xin hãy tạm cho họ về, chờ khi xong việc đăng lính và đạc điền mới có thể tiếp tục”.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 903


Vua y cho.


Bố chính Vĩnh Long là Trương Văn Uyển tâu có nói:


“... còn dân Nam Kỳ mới qua khỏi sự biến, nếu vội đạc ruộng ngay thì họ không khỏi sợ hãi. Vậy xin nên cứ theo đây, thửa ruộng đất trước, rồi châm chước định lệ thuế, khiến cho nhiều ít vừa phải mà thôi”.


Vua Minh Mệnh sao gởi cho bọn Kinh lược Trương Đăng Quế bàn xét. Trương Đăng Quế tâu:


“... còn như việc đặc điền trót đã làm rồi, cốt cho giới hạn rõ ràng, mẫu sào ấn định, rồi sau châm chước bàn định thuế khóa mới có chuẩn. Nếu vì mới qua khỏi sự biến, chưa thể vội làm thì đợi đến bao giờ mới làm được? Ruộng không đo đạc ngay thì lấy đâu làm chuẩn mà định thuế lệ và giữ cho nhiều ít được quân bình? Điều xin ấy là không phải ”.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 903


Vua cho ý Trương Đăng Quế là phải, truyền chỉ khen thưởng, chuẩn cho làm theo như đã đề nghị.


Tháng tư mùa hạ năm 1936, bọn Trương Đăng Quế, Nam Kỳ Kinh lược sứ tâu nói:


 “Lính mới tuyển ở Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường đã dần đủ số. Còn việc đạc điền đã làm thử ở chỗ gần, thấy dân tình cũng có một vài người không vui, nhưng phần đông đều muốn đo đạc. Vì Nam Kỳ chứa chất tệ hại đã lâu, cường hào cậy mạnh bá chiếm, người nghèo không có đất cắm dùi. Có kẻ xã này chiếm ruộng đất ở xã khác mà người sở tại lại phải tá ngụ để cày cấy ăn ở. Có nơi ruộng có một thửa, tô thuế nguyên trưng không quá ba bốn hộc, nay lại chia thành sáu bảy thửa bán cho người khác mà những người mua ấy lại phải nộp thóc gấp bội cho chủ nguyên trưng thu riêng. Có nhiều cách sách nhiễu không sao kể xiết! Nay khám đạc lại thì mọi người cứ chiếu phần mình cày cấy mà nộp thuế không còn bị cường hào ức hiếp nữa. Đất bỏ hoang dân ra sức khai khẩn thì được chia lợi. Cho nên người thích muốn đo đạc thì nhiều. Thế thì việc đạc điền cũng là việc người dân muốn làm, chứ không phải là việc làm khổ dân. Duy từ quan lại ở tỉnh cho đến tổng lý không có ai am tường về địa phận đông tây, về phân số mẫu sào và những cách nêu ruộng, ghi nhận, tính, đo! Bọn thần đã chỉ bảo hai ba lần cho đến khi họ thông thuộc được cũng là việc rất gian khổ. Trong số ruộng đất đạc được có chỗ nguyên trưng là ruộng mà nay thanh ra vườn tược, nhà ở, có chỗ cấy thực mà không có sổ, có chỗ ở xã khác mà ghi lầm vào bản xã, có chỗ nguyên trưng là một thửa mà nay chia làm mấy chục thửa, chuyển bán cho người ta rồi, có chỗ trước gọi là một thửa mà dài rộng quanh co đi đến nửa ngày đường mới hết chỗ cày cấy thực. Sự tình dường ấy không phải kể một nơi mà đủ cả được. Cho nên có đo đạc, tất phải kê cứu, nên không tránh khỏi kéo dài”.


Vua Minh Mệnh phê:


“Nhìn việc thấu triệt, nói đươc rõ ràng, có thể đi đến chỗ thành công đấy!”.


Rồi ban Dụ khen:


“... Duy việc đạc điền là sáng kiến mới, sợ rằng dân quen thói thường, theo nếp cũ, chưa trông thấy lợi, có kẻ cho là tai hại! Không ngờ một khi hiểu được thì họ biết cố gắng, vượt được biếng lười, thích làm điều thiện, sốt sắng việc công. Xét tình hình ấy biết rằng sau khi xong việc không những có thể cùng vui công việc đã thánh mà ngay lúc mới làm cũng đã thấy sơ được công hiệu. Bọn Kinh lược đại thần vâng mệnh đi kinh lý đã tuyên dương được ý trẫm, làm yên lòng dân, thật rất đáng khen”.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 915,916


Tiết Vạn thọ, bọn Nam Kỳ Kinh lược sứ Trương Minh Giảng, Trương Đăng Quế, Tôn Thất Bạch, Nguyễn Đức Trí dâng sớ cung chúc vua Minh Mệnh và báo cáo công tác đang ráo riết tiến hành.


Vua Minh Mệnh phê bảo rằng:


“Bọn khanh khỏe mạnh, việc binh lính và việc ruộng đất làm dần đâu ra đó, xem tờ tâu sớ trẫm yên tâm và vui mừng. Gặp ngày lễ Vạn thọ của trẫm, cúi trông triều ban, không thấy bọn khanh xếp trong hàng, lòng trẫm cũng nao nao!”.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 924


Bọn Kinh lược sứ Nam Kỳ Trương Minh Giảng, Trương Đăng Quế tâu lên:


 “Lần trước trong tập thỉnh an của quan bố chánh Vĩnh Long Trương Văn Uyển và bố chánh Định Tường Trần Tuyên đều nói: đất sáu tỉnh Nam Kỳ nhiều đường sông, mọi người đều có thuyền, dân lười biếng trốn lính và trốn dao dịch, côn đồ nhân sơ hở mò mẫm đều do đấy. Vậy xin: phàm tất cả thuyền bè mới cũ của dân đều cho trình sở tại để được cấp bài chí (thẻ bài) cắm ở mũi thuyền, hoặc là khắc chữ (ghi khắc tên xã, thôn) ở mũi thuyền. Lại chia đặt việc tuần sông, liệu thiết lập đồn xích hậu (đồn tuần tra), xét ra kẻ nào đội tên giả mạo thì bắt tội. Về việc thuyền bè, đã được giao bàn xét kiểm tra lại, thì năm trước đình thần có bàn chắc đã chu tất cả rồi, nếu quan địa phương biết, thể theo mà làm, tự khắc có thể chặn được cái tệ trốn tránh, không còn phải tìm kiếm ở đâu khác nữa. Nếu quy cho vì cớ nhiều thuyền, rồi đặt pháp lệnh để nghiêm phòng, thì mỗi khi đặt một pháp lệnh lại sinh một tệ hại, phiền phức sẽ không kể xiết! Ngay như đóng một chiếc thuyền nho nhỏ, phải trình quan cấp bài, báo quan khắc chữ, vậy có giữ được bọn lại dịch khỏi khó dễ yêu sách không? Chỉ vì Nam Kỳ đường sông có nhiều ngả, côn đồ dễ ra vào, bọn du thủ du thực phần nhiều cũng mượn cuộc sống lênh đênh để làm kế qua khỏi tạm thời. Vậy xin: ở những nơi giáp ranh giữa sáu tỉnh Nam Kỳ, chọn chỗ xung yếu, dựng một sở tuần tấn, phái lính phòng giữ. Phàm thuyền dân qua lại, xét đủ tờ bằng chiếu mới cho đi. Lại ở các xã thôn ven sông, liệu chỗ đặt đồn xích hậu, kiểm soát thình lình hễ thuyền nào không có bằng chiếu thì bắt giải lính để trừng trị. Nếu muốn phân biệt thuyền từng tỉnh hạt thì sơn màu sắc ở mũi thuyền để tiện kiểm soát. Thuyền tỉnh Gia Định mũi sơn màu đỏ, thuyền Biên Hòa kiêm hạt nên mũi cũng sơn màu đỏ viền đen, thuyền Vĩnh Long mũi màu đen, thuyền Định Tường mũi màu đen viền đỏ, thuyền An Giang và Trấn Tây mũi màu lục, thuyền Hà Tiên kiêm hạt mũi cũng màu lục viền đỏ. Kẻ nào sơn giả mạo sẽ trị tội rất nặng. Như thế thì dân trốn tránh không còn chỗ dung thân mà côn đồ giặc cướp cũng còn chỗ ẩn núp”.


Vua Minh Mệnh chuẩn y cho thực hiện.


Bọn Trương Minh Giảng, Trương Đăng Quế còn tâu về việc quản lý ở Cần Giờ, Cần Thạnh. Vua Minh Mệnh phê bảo rằng:


“Nói thì chính trực vô tư, làm thì quả quyết được việc, chặn được mánh lới kẻ gian, dứt được việc lừa dối trước đây”.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 943


Họ còn tra xét việc lãnh binh Hà Tiên là Hoàng Văn Lý cưỡng ép con gái nhà dân lấy tiền tài của dân. Lý đều thú nhận, bị thu bằng sắc đem giam. Họ đề cử Phó lãnh binh thành Trấn Tây Hoàng Quang Thông lên thay làm lãnh binh Hà Tiên. Vua Minh Mệnh chuẩn y nhưng Dụ bảo:


“... chưa tâu đã xét xử trước thì không phải đâu. Các Kinh lược sứ là bầy tôi thân tín của ta, được ta ủy thác những việc quân dân trọng đại, nhưng việc thưởng phạt quan to một tỉnh như Lãnh binh há nên chuyên quyền như thế! Sau này nên cẩn thận để tránh lời công nghị của đình thần”.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 966


Vua Minh Mệnh thấy việc tuyển lính và đạc điền ở Nam Kỳ nhiều lần đã được Kinh lược sứ là Trương Minh Giảng và Trương Đăng Quế tâu báo ước đến khoảng tháng 6, tháng 7 năm nay là xong, bèn dụ sai xét các nhân viên để khen thưởng. Có ba người Cai tổng cho con đi lính trước để làm gương cho dân, khiến công việc được hoàn thành nhanh chóng, mỗi người được thưởng thêm 100 quan tiền.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 968


Tháng 7 năm 1836, việc đạc điền ở sáu tỉnh Nam Kỳ đã xong. Bọn Kinh lược sứ Trương Đăng Quế, Tôn Thất Bạch, Nguyễn Đức Trí làm sớ báo rằng đến ngày 18, 19 tháng này chia ra từng đợt đi đường trạm về kinh phục mệnh. Trương Minh Giảng thì ngày 19 về thành Trấn Tây cung chức.


Họ đệ trình bản sách ghi số mục ruộng đất.


1.Trước trong sổ nộp thuế là ruộng, nay khám đạc là thổ; trước trong sổ nộp thuế là thổ, nay khám đạc là ruộng; trước là đất hoang, nay thực sự đã cày cấy; trước là đất hoang, nay là ruộng nhưng chưa kịp khai đơn nộp thuế, đều theo thực tế cho khai vào các hạng ruộng đánh thuế. Gián hoặc trước trong sổ nộp thuế là ruộng thực canh, mà nay khám ra toàn trồng dâu, mía và cau, cũng có một hai phần tách ra thì cũng theo thực tế, cho khai vào các hạng thổ đánh thuế.


2. Các hạng ruộng đất nộp thuế trước, gián hoặc có chỗ xây dựng miếu mạo đền chùa, mồ mả thì tách ra, liệt vào hạng riêng; còn thì căn cứ vào số thực canh, chiếu đạc biên vào sổ.


3. Những đất dân cư, chỗ nào là đất hoang và gò đống, trong sổ không ghi người nào trước đã nộp thuế thì liệt làm hạng đất dân cư, miễn thuế; nếu có chủ khai nhận, thì cho dân đánh giá, nộp thuế theo hạng đất công.


4. Trong số trước là thực trưng, nay khám ra còn một hai chỗ hoang vu thì căn cứ vào thực canh, đã đạc thành mẫu, thành sào, trước bạ; còn thì liệt vào hạng lưu hoang, đều do quân địa phương sức dân khai khẩn cày cấy thành ruộng, cho làm hạng công điền, bắt nộp thuế.


5. Các hạng ruộng đất của các xã thôn trước đã nộp thuế, có lệ thuế trong điền bạ ở thôn này, mà ruộng đất tọa lạc ở tỉnh khác, nay cho trả về sổ địa bạ của tỉnh và thôn mà đất tọa lạc ở đó.


6. Ruộng đất thực canh, ở trong sổ khai là cả thôn ấy cùng cày cấy, thì cho là hạng ruộng đất công. Gián hoặc có những chủ ruộng trốn đi hoặc chết, mà không có con cái, thì giao cho dân sở tại cày cấy, nộp thuế theo hạng ruộng đất công.


7. Ở ngoài phụ quách thành Phiên An cũ, trừ ra những nơi đặt làm thành mới Gia Định và những chỗ liệu để làm quan xá, quân trại, thủy tướng, còn thì đạc được hơn 440 mẫu, cho dân phụ cận lập sổ địa bạ, nộp thuế theo hạng công thổ.


8. Một thửa đất thành cũ Định Tường trước đạc được hơn 40 mẫu, cho dân sở tại khai khẩn cày cấy, nộp thuế theo hạng công thổ.


9. Ở Gia Định có 3 thửa ruộng bỏ hoang, trước cấp cho đội An Lương khai khẩn cày cấy đã thành ruộng, nay đạc được hơn 14 mẫu, cho dân nhận lĩnh canh tác, nộp thuế theo hạng ruộng công.


10. Ở Hà Tiên có 3 thửa ruộng quan điền, trước không phải nộp thuế, cấp cho cơ Hà Tiên cày cấy; nay đạc thành ruộng được hơn 75 mẫu, vẫn để cho lính cơ, nộp thuế theo hạng quan điền.


11. Ở Định Tường, trước kia Tôn Thất Chương để lại hai thửa ruộng cỏ, từ trước vẫn cho người tá canh, nửa vời, các điền hộ chuyền tay nhau bán đi; nay khám ra là 50 thửa, mà dấu tích tá canh hãy còn rõ ràng thì có thửa đạc được 398 mẫu, vẫn giao cho chủ trước. Còn 44 thửa đạc được 359 mẫu, thì cho dân nhận lãnh trước nộp thuế, liệt vào hạng ruộng công.


12. Nhân dân thôn xã nào trốn tránh tan tác, địa phận của họ không ai đứng nhận đạc thì sức cho Chánh Tổng sở tại gọi những xã thôn bên cạnh nhóm lại, tiếp nhận, khám đạc, rồi căn cứ vào số ruộng đất, lập thành sổ địa bạ, cho người ta canh tác nộp thuế, đợi khi dân đó về thì cho nhận lại.


13. Thôn xã nào trước không có địa phận, lại không có ruộng đất, phải mua đất ở thôn khác để ngụ cư mà hiện có sổ dân và ngạch lính, thì cho tách lấy chỗ ruộng đất đã mua ấy làm địa phận, xây dựng địa bạ. Gián hoặc có vài xã thôn, trước không có địa phận, cũng không có ruộng đất, không có đóng thuế mà chỉ ở nhờ ruộng đất người xã khác, hiện nay đã thành làng xóm, thì cũng cho xắn lấy số ruộng đất đã ở nhờ đó làm địa phận mình. Nếu thôn xã nào ở tản mác, không thành thôn xóm, thì do quan địa phương xét xem trong hạt, những nơi rừng rú gò đống bỏ hoang mà có thể cày cấy, cư trú được, thì cho họ lập ấp, làm sổ địa bạ, để họ được an cư.


14. Các hạng ruộng đất, trước ở trong sổ, gián hoặc có chỗ trước bạ hai lần hoặc có chỗ bỏ hoang mà không rõ tọa lạc ở đâu, nay xét ra quả thực là đúng thì đều cho miễn trừ.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 983,984


Vua dụ Nội các rằng:


“Sáu tỉnh Nam Kỳ, bấy nay những xứ sở bờ mốc ruộng đất đều lộn xộn. Nay Kinh lược đại thần thân đi xem xét tại chỗ, bàn kỹ từng khoản, đều được ổn thỏa, hợp lý, chuẩn cho thi hành như lời đã bàn...”.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 984


Vua Minh Mệnh thưởng cho Trương Đăng Quế 400 quan tiền làm lộ phí về kinh, thưởng cho Trương Minh Giảng 300 quan tiền làm lộ phí đi Trấn Tây.


Kinh lược sứ Trương Đăng Quế lại dâng sớ tâu:


“Việc tuyển lính, đạc điền đã đâu ra đó, lòng dân đã yên, tưởng không còn điều gì khác. Có điều việc lập pháp dẫu là việc khó, nhưng giữ được pháp chế lại càng khó hơn, không thể không nghĩ kỹ cái kế bền vững. Lính Nam Kỳ sở dĩ trốn nhiều, là hoặc vì người cầm quyền ở làng thôn giấu giếm cho gia đình hào phú, mà bắt người cùng đinh ra lính, hoặc vì người quản suất cay nghiệt nhiều đường làm cho binh lính chịu không nổi. Như vậy cũng không nên chỉ quy tội cho binh lính hay trốn. Vậy nên làm phép để ngăn ngừa, trừ bỏ cái tệ đã tồn tại lâu ngày ấy đi.


Đến như còn nhiều khoảnh ruộng đất bỏ hoang, trong đó có nhiều thửa ruộng màu mỡ có thể trồng trọt cày cấy, cũng nên bàn định thể lệ thưởng phạt để khuyến nông”.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 985


Báo cáo nêu cụ thể các biện pháp ngăn chặn lính trốn, biện pháp thưởng phạt khuyến nông:


1. Phân xử việc lính trốn, thiếu.


Quy định mỗi quý kiểm soát một lần:


Phân binh thôn xã nào từ một đến năm người, trong quý 1 nếu thiếu người, thì lý trưởng sở tại phải bị phạt năm chục roi, cứ thiếu một người, lại tăng tội lên một bậc; nếu thiếu cả thì phạt chín chục trượng, bắt phải điền vào ngay. Quý 2, nếu vẫn còn thiếu thì phạt năm chục roi, cứ thêm một người lại tăng tội lên một bậc; nếu thiếu cả thì phạt một trăm trượng.


Phân binh thôn xã nào từ sáu đến mười lăm người, mà quý 1 thiếu một người, thì phạt lý trưởng sở tại ba chục roi, cứ thêm một người lại tăng tội lên một bậc; nếu thiếu đến sáu người thì phạt chín chục trượng, bắt phải điền vào ngay. Quý 2, nếu vẫn còn thiếu thì phạt ba chục roi, cứ thêm một người lại tăng tội lên một bậc; nếu thiếu đến bảy người thì phạt một trăm trượng.


Phân binh thôn xã nào từ mười sáu đến ba chục người, mà quý 1 thiếu một người, thì phạt lý trưởng sở tại hai chục roi, cứ thêm một người lại tăng tội lên một bậc; nếu thiếu đến bảy người thì phạt chín chục trượng, bắt phải điền vào ngay. Quý 2, nếu vẫn còn thiếu thì phạt một trăm trượng.


Phân binh thôn xã nào từ ba mươi mốt đến năm chục người, mà quý 1 thiếu một người, thì phạt lý trưởng sở tại hai chục roi, cứ thêm một người lại tăng tội lên một bậc; nếu thiếu đến tám người thì phạt chín chục trượng, bắt phải điền vào ngay. Quý 2, nếu vẫn còn thiếu thì phạt một trăm trượng.


Phân binh thôn xã nào từ năm mươi mốt người trở lên, mà quý 1 thiếu một người, thì phạt lý trưởng sở tại mười roi, cứ thêm một người lại tăng tội lên một bậc; nếu thiếu đến chín người thì phạt chín chục trượng, bắt phải điền vào ngay. Quý 2, nếu vẫn còn thiếu thì phạt một trăm trượng.


Phàm tội đến mãn trượng (tội bị đánh đủ một trăm trượng) và lính tuyển bổ sung nếu vẫn cón dám trốn, khi bắt được sẽ bị phát đi thành Trấn Tây làm hạng nô tì chăn nuôi.


Các cai tổng, phó tổng, quý 1 nếu lính thiếu đến hai chục người thì phạt sáu chục trượng, cứ thêm mười người, lại bị tăng tội lên một bậc, thiếu đến sáu chục người trở lên thì phạt một trăm trượng, cho lưu dịch (được ở lại làm việc), bắt phải gọi điền đủ số. Quý 2, nếu vẫn còn thiếu, thì bị phạt một trăm trượng, bị cách dịch (cách chức).


Các viên tri phủ, tri huyện cứ từng quý phải kiểm soát, đốc sức giục điền bổ khuyết, nếu trong huyện phủ, hai quý thiếu đến một trăm người trở lên, thì quan tỉnh phải nghiêm hặc, trừng trị.


Còn đối với các quản suất cũng có quy định: mỗi quý một lần soát lại. Quý 1, mỗi đội trốn đến sáu người, thì độ trưởng và ngoại ủy đội trưởng phải bị phạt hai chục roi, suất đội được giảm một bậc. Cứ thêm ba người lính trốn lại bị tăng tội lên một bậc. Mỗi vệ, mỗi cơ để trốn đến ba chục người, lại bị tăng tội lên một bậc, nhưng tối đa là một trăm trượng.


Nếu quan cấp tỉnh Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Lãnh binh không biết đốc suất chặt chẽ để biền binh trong tỉnh trốn đến hai phần mười trở lên thì lập tức phải làm tờ tấu, kể rõ để đợi Chỉ.


(còn tiếp)


Nguồn: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. NXB Văn học. 1-2009.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
xem thêm »