tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19306605
07.03.2013
Hà Văn Thùy
Tìm cội nguồn qua di truyền học (1)

Tựa


Hai cuốn sách Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt (NXB Văn học, 2007) và Hành trình tìm lại cội nguồn (NXB Văn học, 20081) gợi lên trong bạn đọc những cảm nhận trái ngược. Người phản đối, kẻ ủng hộ và càng nhiều hơn những người lặng im ngờ vực. Điều này dễ hiểu vì trong đó trình bày những ý tưởng quá mới lạ, không chỉ với người Việt mà với cả giới khoa học quốc tế. Cho đến nay, dù đồng ý với nhau về nguồn gốc châu Phi của nhân loại thì trên vấn đề rất then chốt là thời điểm và lộ trình con người chiếm lĩnh Trái đất vẫn còn tranh cãi giữa những trường phái di truyền học hàng đầu thế giới… Thực tế cho thấy, dù có thần kỳ chăng nữa thì công nghệ di truyền cũng chỉ là một trong những phương pháp khám phá tự nhiên. Tự nó không giải quyết được mọi chuyện và càng không thể thay thế được những khoa học nhân văn khác trong công việc vô cùng khó khăn là tìm hiểu quá khứ loài người. Bằng kinh nghiệm bản thân, người viết định ra phương pháp luận: né tránh những vấn đề còn tranh cãi, chỉ dùng những dữ liệu di truyền học đáng tin cậy, được đồng thuận, kết hợp với những chứng cứ vững chắc của khảo cổ học, cổ nhân học, ngôn ngữ học, văn hóa dân gian… để nghiên cứu thời tiền sử của người Việt. Từ rất nhiều điều học được ở người đi trước, cho phép người viết đưa ra những ý tưởng sau:


1.         Lịch sử người Việt có hai thời kỳ: thời kỳ đầu từ Việt Nam đi lên mở mang đất Trung Hoa. Thời kỳ thứ hai, từ lưu vực Hoàng Hà trở về dựng nước Văn Lang.


2.         Người Hoa Hạ ra đời từ 2600 năm TCN, do sự hòa huyết giữa người Mông Cổ phương Bắc và người Bách Việt.


3.         Tất cả văn hóa vật thể và phi vật thể trên đất Trung Hoa trước 2600 TCN là sản phẩm của Việt tộc. Văn hóa Trung Hoa được xây dựng trên cơ sở văn hóa Việt.


4.         Tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Trung Hoa.


5.         Cùng với lúa, cây kê cũng được người Việt đưa lên Trung Quốc. Tại trung lưu Hoàng Hà, người Việt là chủ nhân của văn hóa trồng kê Ngưỡng Thiều.


Trong khi hào hứng phục dựng lâu đài văn hóa nguy nga, kỳ vĩ của tộc Việt, người viết chưa kịp đắp những bậc cấp khiến người chiêm ngưỡng chưa có đường lên, ngờ rằng đó là “lâu đài cất bằng hơi nước!”


Vì vậy, người viết thấy cần làm cuốn sách khác, một tuyển tập những công trình nghiên cứu tiên phong và đáng tin cậy về lĩnh vực đang quan tâm, những khảo cứu của người viết và những bài mà các tác giả có nhã ý trao đổi, để rộng đường ngôn luận.


Với tính chất như vậy, cuốn sách này có thể là tài liệu nhập môn giúp độc giả tiếp cận với phương pháp khoa học mới trong nghiên cứu thời tiền sử người Việt.


Người viết chân thành cảm ơn Giáo sư Wilhelm G. Solheim II, Giáo sư Stephen Oppenheimer, Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, Giáo sư Jared Diamond, Giáo sư Zhou Jixu, PGS. TS. Hoàng Xuân Chinh cùng các tác giả có bài trong sách.


Cảm ơn Giáo sư Ranjan Deka (USA), Tiến sĩ Nguyễn Đức Hiệp (Australia), ông Vũ Khánh Thành (London), nhà báo Hoài Thanh (USA), nhà nghiên cứu ngôn ngữ Đỗ Thành (USA) giúp nhiều tài liệu quý.


Cảm ơn cháu Trần Thiện giúp cậu tiền in sách.


Một lần nữa cảm ơn vợ cùng các con tôi chịu nhiều thương khó cho sách ra đời.


Sài Gòn, Xuân Tân Mão.


Hà Văn Thùy


Ánh sáng mới trên vùng quên lãng


Tiến sĩ Wilhelm G. Solheim II, Giáo sư nhân học, Đại học Hawaii. Hà Văn Thùy chuyển ngữ


 Trong thập kỷ vừa qua, thế giới đã chú trọng trở lại tới Đông Nam Á, nhưng là do quan tâm tới cuộc chiến tranh. Những sự kiện quân sự bao trùm đã che phủ những khám phá kỳ lạ về lịch sử cổ xưa và thời tiền sử của những người sống ở đây. Tuy nhiên, về lâu dài, những phát hiện này, trước hết là về khảo cổ học, sẽ ảnh hưởng đến - có lẽ nhiều hơn chiến tranh hay hậu quả của nó - cách suy nghĩ của chúng ta về một vùng đất và con người, cũng như cách thức họ suy nghĩ về chính bản thân họ.


Ngay cả vai trò của con người phương Tây và chỗ đứng của anh ta trong tiến trình văn hóa thế giới cũng có thể bị tác động mạnh mẽ. Có những bằng cứ rõ ràng và vững chắc chứng tỏ rằng, những bước tiến đến văn minh sớm nhất có thể đã diễn ra ở khu vực Đông Nam Á.


Nơi đâu con người trồng cây và đúc đồng sớm nhất?


Các sử gia Âu Mỹ thường cho rằng, nền văn minh nhân loại được nảy sinh từ vùng Lưỡi liềm Cận Đông hay trên những dãy đồi phụ cận. Từ lâu chúng ta tin, tại đó, con người nguyên thủy đã phát triển nghề nông và học cách làm đồ gốm, đồ đồng. Khảo cổ học đã ủng hộ niềm tin ấy, một phần vì các nhà khảo cổ đã khai quật, khảo sát khu vực này kỹ lưỡng. Tuy nhiên, những khám phá mới đây ở Đông Nam Á buộc chúng ta phải xem xét lại những quan niệm truyền thống. Những hiện vật được khai quật và phân tích trong năm năm qua cho thấy dân cư nơi đây đã trồng cây, làm đồ gốm, đúc đồng trước tất cả mọi nơi trên thế giới.


Những di chỉ khảo cổ ở Đông Bắc và Tây Bắc Thái Lan, cộng với những khai quật ở Đài Loan, Bắc và Nam Việt Nam, các khu vực khác ở Thái Lan, Mã Lai, Philippine và ngay cả từ miền Bắc Australia đưa ra hàng loạt chứng cứ. Các hiện vật được khám phá và xét nghiệm bằng C 14 là những di tích văn hóa của những dân tộc mà tổ tiên họ đã trồng cây, chế tạo đồ đá, đồ gốm hàng ngàn năm trước các sắc dân sống ở vùng Cận Đông, Ấn Độ, và Trung Hoa.


Tại một địa điểm khai quật ở Bắc Thái Lan, đồng được đúc trong những khuôn đôi vào khoảng từ trước 2.300 năm đến hơn 3.000 năm TCN. Như vậy là sớm hơn so với Ấn Độ hoặc Trung Quốc và có thể còn sớm hơn cả ở Cận Đông, nơi mà cho tới bây giờ phần lớn học giả vẫn còn tin là nơi luyện kim đồng đầu tiên trên thế giới.


Sẽ có người hỏi: nếu quan trọng như vậy, tại sao vai trò của Đông Nam Á trong thời tiền sử cho tới nay không được biết đến? Có nhiều cách giải thích nhưng lý do thực sự lại rất đơn giản là rất ít nghiên cứu khảo cổ học được tiến hành ở đây trước năm 1950. Ngay bây giờ công việc cũng chỉ mới bắt đầu. Các viên chức thuộc địa đã không đặt ưu tiên cao cho khảo cứu thời tiền sử, chỉ có một vài người được huấn luyện về nghề nghiệp. Không một báo cáo khai quật đạt tiêu chuẩn được công bố trước năm 1950. Sau nữa, những gì mà các nhà khảo cổ tìm ra đã được diễn dịch theo giả thuyết là sự phát triển văn hóa theo chiều Đông tiến và Nam tiến.


Người ta cho rằng, văn minh bắt đầu từ vùng Cận Đông lan ra Mesopotamia, Ai Cập, sau đó là Hy Lạp và La Mã. Văn minh cũng di chuyển về phía Đông, tới Ấn Độ và Trung Hoa. Đông Nam Á do quá xa cội nguồn nên chỉ tiếp nhận văn minh sau các vùng trên.


Người Âu châu tìm ra các nền văn hóa cao ở Ấn Độ và Trung Hoa. Khi nhận thấy sự giống nhau về kiến trúc và lối sống giữa các quốc gia trên với vùng Đông Nam Á, họ cho rằng do Ấn Độ và Trung Hoa chi phối. Ngay cả tên họ đặt cho vùng là Ấn –Trung cũng bộc lộ thái độ của họ. 


Người di cư và những làn sóng văn hóa


Trong khi tìm về thời tiền sử, chúng tôi cho rằng Đông Nam Á phải được trải rộng ra tới những khu vực có các nền văn hóa gần gũi. Thuật ngữ tiền sử Đông Nam Á mà tôi sử dụng gồm hai phần. Phần thứ nhất là vùng đất liền Đông Nam Á trải dài từ rặng núi Tần Lĩnh phía Bắc sông Dương Tử của Trung Hoa cho tới Singapore và từ biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) tới Miến Điện và Assam của Ấn Độ. Phần khác được gọi là Đông Nam Á hải đảo, một vòng cung từ quần đảo Andaman ở miền Nam Miến Điện trải dài tới Đài Loan, bao gồm Indonesia và Philippine.


Năm 1932, nhà nhân chủng học người Áo Robert Heine-Geldern công bố đề cương truyền thống thời tiền sử Đông Nam Á. Ông đã đề xướng một loạt những “đợt sóng văn hóa” với ý nghĩa, những người di cư đã đem tới Đông Nam Á những chủng tộc chính ngày nay đã được tìm thấy ở khu vực. Ông cho rằng đợt di dân quan trọng nhất là của những người đã chế ra một dụng cụ đá hình chữ nhật được gọi là cái rìu, từ Bắc Trung Hoa xuống Đông Nam Á và lan xuống Malay Peninsula, Sumatra, Java, thậm chí tới Borneo, Philppine, Đài Loan và Nhật Bản. Sau đó ông Robert Heine-Geldern đã giải thích sự du nhập đồ đồng vào Đông Nam Á như sau: Nguồn gốc nguyên thủy của thời đại Đồ Đồng ở Đông Nam Á được di dân du nhập từ Đông Âu khoảng 1000 năm TCN. Ông cho rằng những di dân đó di chuyển vào phía Đông và phía Nam Trung Hoa vào thời Tây Chu (khoảng từ năm 1122 – 771 TCN). Những di dân này đã đem theo không chỉ kiến thức về chế tạo đồng, mà còn đem tới hình thức nghệ thuật mới. Vì vậy, họ đã thiết kế đồ đồng với các đường thẳng, đường xoắn ốc, tam giác cùng hình người và thú vật. Nghệ thuật này được ứng dụng trong toàn vùng Đông Nam Á, được hai ông Robert Heine-Geldern và Bernhard Karlgren, một học giả Thụy Điển, gọi là văn hóa Đông Sơn theo tên một địa điểm ở miền Bắc Việt Nam, phía Nam Hà Nội, nơi mà các trống đồng lớn cùng các cổ vật khác được tìm thấy. Hai ông đều cho rằng người dân Đông Sơn đã đem đồng và nghệ thuật chạm trổ kỷ hà vào Đông Nam Á.


 Phần lớn thời tiền sử Đông Nam Á được tái tạo theo truyền thống đó nhưng có một số sự kiện đã không phù hợp với truyền thống này. Thí dụ, vài nhà thực vật học nghiên cứu về nguồn gốc cây cối được thuần hóa đã cho rằng Đông Nam Á là một trung tâm thuần hóa cây cỏ rất sớm.


Năm 1952, nhà địa chất học Carl Sauer đã đi một bước xa hơn. Ông nêu giả thuyết là cây cỏ đầu tiên trên thế giới được thuần hóa ở Đông Nam Á. Ông phỏng đoán rằng cây cỏ thuần dưỡng, được những người sống trong nền văn hóa trước thời kỳ Đông Sơn mang tới, họ là chủ nhân nền văn hóa nguyên thủy được biết đến như là văn hóa Hòa Bình. Tuy nhiên, các nhà khảo cổ thời đó đã không chấp nhận lý thuyết này.


Những đập nước gây ra sự khẩn cấp


Thuật ngữ “văn hóa Hòa Bình” xuất hiện trong thập kỷ 20, do bà Madeleine Colani, nhà thực vật học người Pháp, sau thành nhà cổ sinh vật và nhà khảo cổ học đề xuất căn cứ trên việc khai quật những hang động đá ở miền Bắc Việt Nam, được tìm thấy trước tiên ở ngôi làng trong tỉnh Hòa Bình. Những cổ vật tiêu biểu trong những di chỉ này gồm có những dụng cụ bằng đá hình bầu dục, hình tròn, hay hình tam giác, được mài dũa một bên, một bên để nguyên. Những đá mài xinh xắn được tìm thấy ở phần lớn các địa điểm khai quật cùng với nhiều vụn đá. Những tầng trên của hang động đá thường để giữ các đồ gốm và một ít dụng cụ bằng đá khác với đầu để sử dụng thì sắc bén. Xương thú vật và một số lượng lớn vỏ sò cũng có mặt. Các nhà khảo cổ cho rằng, đồ gốm cùng với các dụng cụ của văn hóa Hòa Bình xuất hiện ngẫu nhiên, do những người có một nền văn hóa cao hơn sống gần đó chế tạo, có thể là những nông dân đã di cư từ miền Bắc xuống. Họ cũng nghĩ rằng những dụng cụ đá mài được học từ bên ngoài. Nhưng không có địa điểm nào như vậy của nông dân phía bắc được phát hiện.


Năm 1963, tôi tổ chức khẩn cấp một đoàn khảo cổ phối hợp giữa Bộ Văn hóa Thái Lan và Đại học Hawaii để cứu vớt những di chỉ khảo cổ ở vùng sẽ bị lụt do xây dựng những đập nước mới trên sông Cửu Long và những chi nhánh của nó. Chúng tôi bắt đầu làm việc ở miền Bắc nước Thái, nơi những đập nước đầu tiên được xây dựng. Chưa có một nghiên cứu hệ thống nào về thời tiền sử ở vùng này được tiến hành. Tôi cảm thấy cần khẩn cấp bắt đầu hàng loạt khai quật trước khi vùng này chìm dưới nước.


Chuyện lạ từ gò đất bình thường


Trong mùa khảo cứu dã ngoại đầu tiên, chúng tôi đã xác định vị trí của hơn hai mươi địa điểm. Mùa thứ hai, đoàn đã khai quật một vài nơi của các địa điểm này trong khi thám sát các nơi khác. Vào năm 1965-1966, chúng tôi đã làm một cuộc khai quật chính ở Non Nok Tha. Trong lúc thử nghiệm với C 14 để xác định tuổi các cổ vật đã xuất hiện vài vấn đề, chúng gợi ý một cách rõ rệt là có dấu hiệu sự liên tục về đời sống của con người (với vài sự ngắt quãng) ở thời điểm trước năm 3.500 TCN.


 Non Nok Tha là một gò đất rộng khoảng sáu mẫu Anh, nhô lên trên các ruộng lúa bao quanh khoảng 1, 8 met (6 foot). Trong khi làm việc tại đó, chúng tôi sống ở làng Ban Na Di, cách gò đất chừng một hai trăm mét. Chúng tôi làm việc bốn tháng tại nơi khai quật đầu tiên. Ông Haminton Paker thuộc Đại học Otago, nước New Zealand, chịu trách nhiệm trong năm đầu tiên. Donn Bayard, một sinh viên học trò của tôi, trở lại Non Nok Tha vào năm 1968 để làm cuộc khai quật thứ hai cho luận án tiến sĩ của mình. Từ đó, hai đại học Otago và Hawaii đã liên tục yểm trợ cho công việc của đoàn khảo cổ như một chương trình phối hợp với Bộ Văn hóa Thái Lan.


Những kết quả của các cuộc khai quật cho tới bây giờ đã sang năm thứ bảy thật đáng kinh ngạc, nhưng mới chỉ mở ra một cách chậm chạp khi những phân tích của chúng tôi tìm ra từ phòng thí nghiệm ở Honolulu. Ngay khi bắt đầu có kết quả đồng vị phóng xạ C 14, chúng tôi nhận ra rằng đây chính là nơi thực sự mở ra một cuộc cách mạng của ngành khảo cổ. Trong một mảnh gốm vỡ vụn nhỏ hơn một inch vuông (2,54 cm2), chúng tôi đã tìm ra dấu vết của vỏ trấu. Từ thử nghiệm đồng vị phóng xạ Carbon trên mảnh gốm, chúng tôi được biết hạt gạo có niên đại ít nhất là 3.500 năm trước Công nguyên. Điều này chứng tỏ rằng lúa gạo đã được trồng tại đây trước Trung Hoa hay Ấn Độ, nơi một vài nhà khảo cổ cho rằng là nơi thuần hóa lúa gạo đầu tiên, cả ngàn năm. Từ Carbon đồng vị phóng xạ của than liên hệ, chúng tôi biết rằng những rìu đồng đúc trong những khuôn đôi bằng sa thạch được làm ra ở Non Nok Tha sớm hơn 2.300 năm, có thể là 3.000 năm TCN. Vậy là hơn 500 năm trước kỹ thuật đúc đồng ở Ấn Độ, và 1000 năm trước khi đồng được biết đến ở Trung Hoa. Di chỉ này cũng chứng tỏ là lâu đời hơn những địa điểm ở Cận Đông vẫn được coi là nơi chế tác đồng đầu tiên.


Khuôn chữ nhật mà chúng tôi tìm thấy ở Non Nok Tha đều theo cặp đôi, chỉ rõ ràng chúng được đặt chung với nhau ở nơi chúng tôi tìm ra chứ không phải bị thất lạc hay vứt bỏ. Quan sát toàn thể khu vực và những lò nấu kim loại bị hư hỏng cùng những cục đồng nhỏ vương vãi, chúng tôi không còn nghi ngờ gì nữa, khi cho rằng đã khai quật một khu vực đúc đồng, hay chính xác hơn, một nhà máy làm rìu cổ.


Nhiều xương gia súc được chôn chung với những mộ cổ Non Nok Tha. Những vật này đã được xác nhận là gia súc tương tự như loài bò có u. Điều này chứng tỏ những gia súc đã được thuần hóa sớm ở Đông Á. Chester Gorman, một sinh viên của tôi ở Đại học Hawaii, là người xác định vị trí của Non Nok Tha bằng cách tìm ra những mảnh gốm đã bị bào mòn trên gò đất. Năm 1965, anh trở lại Thái Lan cho luận án tiến sĩ của mình. Chester Gorman muốn thử nghiệm lại giả thuyết do Carl Sauer và các nhà khảo cổ khác cho rằng người dân thuộc nền văn hóa Hòa Bình đã thuần hóa cây cỏ. Anh đã khám phá ra Hang Ma ở xa về phía bắc biên giới Thái Lan và Miến Điện. Tại đây, Chester Gorman đã tìm ra được những gì anh muốn.


 


Giật mình vì niên đại của Hang Ma


Hang Ma trồi lên cao bên cạnh lớp đá vôi nhìn xuống dòng suối chảy vào sông Salaween của Miến Điện. Hang này được dùng như một hầm mộ do đó còn được gọi là hầm mộ. Khi khai quật sàn hầm mộ, Chester Goman đã tìm thấy những phần còn lại của cây cỏ hóa than, bao gồm hai hạt đậu Hòa-Lan, củ năn (water chestnut), hột ớt, những đoạn dây bầu bí và dưa chuột. Tất cả những vật này kết hợp với những công cụ bằng đá đặc trưng của cư dân văn hóa Hòa Bình. Các mảnh xương thú vật được cắt ra từng miếng nhỏ, không thấy dấu vết cháy, chứng tỏ rằng thịt đã được nấu chín tại đây chứ không phải nướng trên ngọn lửa. Thịt được nấu trong những đồ vật bằng tre xanh vẫn thấy dùng ở Đông Nam Á ngày nay.


Một loạt khảo nghiệm bằng đồng vị phóng xạ Carbon 14 cho thấy các vật liệu tìm ra ở đây có niên đại từ khoảng 6.000 năm cho tới 9.700 năm TCN. Vẫn còn những cổ vật xưa hơn nằm trong những lớp đất đào sâu hơn, chưa xác định được thời gian. Vào khoảng 6.600 năm TCN, các cổ vật này đã có mặt tại đây. Đó là những đồ gốm hoàn chỉnh, sắc xảo và được đánh dấu bằng những sợi dệt trong quá trình chế tạo, cùng những dụng cụ bằng đá hình chữ nhật được mài bóng và những lưỡi dao nhỏ. Các dụng cụ và cây cỏ được thuần hóa thuộc nền văn hóa Hòa Bình được tiếp tục khám phá.


Chúng tôi quan tâm đến những khám phá tại hầm Hang Ma, ít nhất như là bước khởi đầu để bổ sung cho giả thuyết của Carl Sauer. Những cuộc thám hiểm khác đang thêm những chứng cứ của một sự trải rộng và phức tạp của nền văn hóa Hòa Bình. Ông U Aung Thaw, Giám đốc cơ quan khảo cổ Miến Điện đã khai quật trong năm 1969 một địa điểm đáng lưu ý thuộc nền văn hóa Hòa Bình tại những hầm mộ Pandah - Lin ở phía đông Miến Điện. Địa điểm này chứa đựng nhiều hiện vật khác, trong đó có nhiều họa phẩm. Đây là nơi xa nhất về hướng Tây thuộc nền văn hóa Hòa Bình được báo cáo.


Những cuộc khai quật ở Đài Loan do một đoàn thám hiểm hỗn hợp của Đại học Quốc gia Đài Loan và Đại học Yale dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Kwang Chin Chang thuộc Đại học Yale, đã tìm ra một nền văn hóa với những hình dây và những đồ gốm sắc bén, dụng cụ bằng đá mài bóng và những phiến đá mỏng được đánh bóng đã xuất hiện từ khoảng 2.500 năm TCN.


Bối rối được tháo gỡ


Trong khi nhận xét tóm lược về những cuộc khai quật mới cùng niên đại của chúng tại đây và các nơi khác, tôi đã không chú ý tới việc ức đoán sự tái hiện thời tiền sử ở Đông Nam Á, mà có lẽ trong một ngày nào đó hai việc này cũng quan trọng ngang nhau. Trong một số bài viết được xuất bản, tôi đã bắt đầu việc này. Hầu hết những ý kiến đó, tôi phát biểu như là giả thuyết hay phỏng đoán. Những giả thuyết hoặc phỏng đoán này cần được khảo cứu nhiều thêm để có thể chấp nhận hay bác bỏ.


Trong đó có:


- Tôi đồng ý với Sauer là dân cư thuộc văn hóa Hòa Bình là những người đầu tiên trên thế giới đã thuần hóa cây cỏ ở một nơi nào đó trong vùng Đông Nam Á. Việc này cũng chẳng làm tôi ngạc nhiên nếu sự thuần hóa bắt đầu sớm nhất khoảng 15.000 năm TCN.


- Tôi cho rằng những dụng cụ bằng đá được tìm thấy ở miền Bắc Australia có tuổi Carbon 14 khoảng 20.000 năm TCN có nguồn gốc từ văn hóa Hòa Bình.


- Trong khi niên đại sớm nhất của đồ gốm hiện được biết ở Nhật khoảng 10.000 năm TCN, tôi kỳ vọng rằng khi nhiều địa điểm Hòa Bình với gốm văn thừng được xác định niên đại, chúng ta sẽ nhận ra rằng gốm chính do những người này làm ra chắc chắn trước 10.000 năm TCN, và có thể họ đã phát minh ra cách làm đồ gốm.


- Quan niệm truyền thống về thời tiền sử Đông Nam Á cho rằng các di dân từ miền Bắc đem những phát triển quan trọng về kỹ thuật đến vùng Đông Nam Á. Thay vào đó, tôi đề nghị văn hóa Đá Mới sớm nhất (cũng có nghĩa là cả thời Đá muộn) ở Bắc Trung Hoa như văn hóa Ngưỡng Thiều (Yangshao) thoát thai từ một nền văn hóa phụ của văn hóa Hòa Bình từ phía bắc Đông Nam Á di chuyển lên vào khoảng thiên niên kỷ thứ 6 hoặc thứ 7 trước Công nguyên.


- Tôi đề nghị nền văn hóa muộn hơn, được gọi là văn hóa Long Sơn (Lungshan) vốn được cho là xuất phát từ Ngưỡng Thiều ở phía bắc Trung Hoa sau đó lan xuống Đông và Đông Nam, thực ra đã được phát triển ở Nam Trung Hoa và di chuyển lên hướng Bắc. Cả hai nền văn hóa này đều thoát thai từ văn hóa Hòa Bình.


- Thuyền làm bằng thân cây có thể được sử dụng trên sông ngòi Đông Nam Á trước thiên niên kỷ thứ năm. Có thể không lâu trước 4.000 năm TCN, xà nách (cái xiểm - outrigger) được phát minh ở Đông Nam Á, tạo sự ổn định cần thiết để đi biển. Tôi tin rằng phong trào đi khỏi khu vực bằng thuyền bắt đầu khoảng 4000 năm TCN, dẫn đến các cuộc du hành ngẫu nhiên từ Đông Nam Á tới Đài Loan và Nhật Bản, đem tới Nhật kỹ thuật trồng khoai môn và các hoa mầu khác.


- Ở thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên, những tay chèo thuyền Đông Nam Á, đã đi tới những đảo ở Indonesia và Philippine. Họ đem cả một nghệ thuật kỷ hà gồm những đường xoắn ốc, hình tam giác, hình chữ nhật trong những kiểu mẫu được dùng chạm trổ ở đồ gốm, đồ gỗ, hình xăm, quần áo bằng vỏ cây, và sau đó là vải dệt. Những mỹ thuật kỷ hà này được tìm thấy trên các đồ đồng Đông Sơn và đã được cho là từ Đông Âu tới.


Người Đông Nam Á cũng đi về phía Tây tới Madagascar khoảng 2000 năm về trước, mang cống hiến quan trọng của họ cho sự thuần hóa cây trồng ở Đông Phi.


Cũng khoảng thời gian này, sự tiếp xúc giữa Việt Nam và Địa Trung Hải bắt đầu, có thể bằng đường biển, nhờ vào phát triển giao thương. Một vài đồ đồng khác thường được tìm thấy ở Đông Sơn có thể có nguồn gốc Đông Địa Trung Hải.


(còn tiếp)


Nguồn: Tìm cội nguồn qua di truyền học. Khảo luận của Hà Văn Thùy. NXB Văn học, 2011.


www.trieuxuan.info







1 Mời đọc toàn văn qua website www.trieuxuan.info. http://trieuxuan.info/?pg=tpdetail&catid=3&id=779&fid=0



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
xem thêm »