tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19366706
05.12.2008
Nhiều tác giả
Cuộc đời và sự nghiệp Trương Đăng Quế (4)

5. TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ LÀ NGƯỜI HẾT LÒNG VỚI NHIỆM VỤ.


Vua Minh Mệnh thường hỏi thị lang bộ Binh Nguyễn Trọng Vũ về việc binh chính. Vũ không trả lời được. Vua nói:


“Trương Minh Giảng và Trương Đăng Quế ở bộ Hộ, Lê Văn Đức ở bộ Binh đều biết rõ việc trong bộ, còn bọn Đỗ Khắc Thư, Nguyễn Trọng Vũ mỗi khi hỏi đến phần nhiều không đáp được. Dẫu vì thực thà chất phác nên được bổ dụng, nhưng đã làm quan, phải cố gắng để khỏi phụ chức trách của mình”.


Vua Minh Mệnh lại sai Lê Văn Đức, Hà Tông Quyền và Trương Đăng Quế hội đồng nghĩ cách đóng thuyền kiểu mới. Khi thuyền đóng xong, chở gỗ từ Gia Định về đến kinh đô được vua khen là nhanh chóng và tiện lợi, thưởng cho bọn Đức.


Tháng 12 năm 1830, binh thuyền nước Pháp đến đậu ở cửa biển Đà Nẵng, nói là vâng mệnh vua nước họ, muốn được một viên quan ở nhà Thương bạc đến nói chuyện. Vua Minh Mệnh sai sung biện Nội các Thị giảng học sĩ là Nguyễn Tri Phương đến để dò hỏi, thuyền trưởng nhất định không chịu nói. Lại sai Tả thị lang Trương Đăng Quế quyền chức quan Thương bạc đến, thuyền trưởng ấy mới chịu nói rằng vua nước ấy muốn cùng nước ta giao hiếu, nhưng xa cách biển khơi không đạo đạt được, nay nghe tin nước Anh mưu đồ xâm lấn đất Quảng Đông, thế tất rồi cũng lan đến nước ta, nên vua nước ấy sai đến báo tin dân ta đừng giúp Quảng Đông.


Vua đặc cách phái Đô ngự sử viện Đô sát Hà Duy Phiên, cầm cờ biển, đem theo ngự sử Lê Bình Trung và ty thuộc bộ Hình cùng với trấn phủ đi Quảng Ngãi tra xét vụ quan Bố chánh tỉnh Quảng Ngãi nhận đồ lễ biếu bị phát giác. Sai Tả tham tri bộ Hộ Trương Đăng Quế tạm quyền giữ ấn triện viện Đô sát.


Năm Qúy Tỵ, 1833, mùa xuân, vua duyệt binh tuyển lính ở 6 tỉnh miền bắc. Vua lại cho bộ Lại châm chước ghi công, ban thưởng có thứ bậc. Vua ban cho Tả Tham tri bộ Hộ Trương Đăng Quế và Hữu Tham tri bộ Hình Bùi Phổ, mỗi người một cái nhẫn vàng.


Cử Trương Đăng Quế kiêm lãnh Hiệp lý sự vụ thủy sư ở Kinh kỳ, tức hải quân. Sai mộ lính ở Hưng Yên, đặc biệt cho mộ lập một đội thủy binh để phòng sai phái, tuần tiễu đường sông.


Tháng 9 năm 1839, Minh Mệnh năm thứ 20, sai Đô thống Nguyễn Tăng Minh, Hiệp biện đại học sĩ Trương Đăng Quế tổ chức diễn tập thủy chiến trên sông An Phúc. Quân lính bơi chèo nhịp nhàng, diễn bắn súng điểu sang cũng khá được vua khen thưởng từ Thủy sư Hiệp lý trở xuống đến biền binh.


Vua lại sai Trương Đăng Quế kiêm ấn triện công việc bộ Lễ.


Năm 1840, Minh Mệnh năm thứ 21, mùa đông, vua bị ốm, tám ngày sau bệnh rất nguy kịch. Cho vời các hoàng tử, các thân công và Cơ mật viện đại thần Trương Đăng Quế vào hầu. Vua kêu Trương Đăng Quế đến bên giường, Dụ rằng:


 “Hoàng tử là Trường Khánh công lấy về ngôi thứ là hàng trưởng, lấy về đức, về tuổi nên nối ngôi lớn. Ngươi nên hết lòng hết sức giúp rập, hễ việc gì chưa hợp lẽ, ngươi nên dẫn lời nói của ta mà can gián: Ngươi trông mặt ta, nên ghi nhớ lấy”.


Rồi vua cầm tay Trường Khánh công trối trăng:


“Trương Đăng Quế thờ ta đến nay là 21 năm, trọn đạo làm tôi, một lòng công trung, bày mưu dưới trướng, ra sức giúp việc ngoài biên, thực là một người công thần kỳ cựu của Triều đình. Ngươi nên đãi ngộ một cách ưu hậu, hễ nói gì phải nghe, bày mưu kế gì phải theo, ngày sau có thể được thờ vào nhà thế thất ”.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 889


Năm 1841, vua Thiệu Trị cùng với Thượng thư bộ Binh Trương Đăng Quế bàn về thủy chiến.


Đại Nam thực lục, tập 5, tr. 312


Năm 1843, Thiệu Trị năm thứ 3, vua giao Trương Đăng Quế kiêm giữ ấn triện bộ Lễ.


Năm 1843, Thiệu Trị năm thứ 3, vua giao Trương Đăng Quế kiêm quản công việc vận tải.


Năm 1847, Thiệu Trị năm thứ 7, đúc xong 12 cỗ súng, các đại thần ba bộ Hộ, Binh, Công là bọn Trương Đăng Quế dâng biểu tâu lên. Vua ra Sắc rằng:


“Ta chịu mệnh trời đất Tổ khảo, cai trị nước Đại Nam. Năm trước, đất miền Tây chưa được mở mang, thường lấy làm thẹn. Năm Ất Tỵ [1845], cất quân đánh nước Chân Lạp, dẹp được, năm Bính Ngọ [1846], ta lên thọ 40 tuổi, đến 30 lần ân dụ ban ra, năm ấy nước Xiêm phục, nước Miên hàng, nộp lễ cống, chầu hầu. Năm nay [1847], tướng quân kéo quân về, tâu thắng trận, thôi không đi đánh, võ công cáo thành, sai công thần trông nom chế ra ba cỗ súng đồng thượng tướng quân, truyền đến con cháu, giữ thứ bảo khí ấy lâu dài, không say mê tửu sắc, nghĩ làm việc mới, noi việc cũ, theo noi mưu mô công liệt, trọng văn tạp võ ức muôn năm làm mạnh nước Đại Nam ta. Vả lại, ngự ban cho cố mệnh lương thần, Thái bảo, Tuy Thạnh bá Trương Đăng Quế, trước kia vâng cố mệnh của tiên đế khi gần thăng hà để lại, cùng ta trù tính việc biên cương, rồi thành tựu được võ công, giúp rập đức tốt, thực không phụ ơn tri ngộ. Vậy cho khắc vào vàng cỗ súng thứ nhất”.


Đại Nam thực lục, tập 6, tr. 1040-1041


Từ đầu tháng 8, năm 1847, Thiệu Trị năm thứ 7, vua không được mạnh, hơi trở trời. Vài ngày sau lại khỏi dần, gượng bệnh coi việc chính trị, sớ tấu bốn phương đều chuẩn cho mỗi ngày tiến trình, tùy từng việc mà phê trả lời. Rồi nhân nhọc mệt, bệnh tình chuyển thành trầm trọng. Đến ngày Quý tỵ, tuyên triệu Trương Đăng Quế, Vũ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương, Lâm Duy Thiếp vào hầu. Vua đợi vắng kẻ hầu, bảo các đại thần:


“Ta nối nghiệp lớn, đến nay 7 năm, sớm tối chăm lo, không dám nhàn rỗi. Gần đây bị bệnh, nay mệt lắm rồi, nghĩ đến nghiệp lớn của tổ tông giao phó vào mình, ta không thể không nghĩ sẵn chí kế của xã tắc. Các con ta, Hồng Bảo tuy lớn, nhưng là con vợ thứ, mà lại ngu độn, ít học, chỉ ham vui chơi, không thể để cho kế thừa nghiệp lớn được. Hoàng tử thứ hai là Phúc Tuy công thông minh, nhanh nhẹn, chăm học, giống như ta, có thể nối ngôi hoàng đế. Trước đây ta đã tay phê vào di chiếu để trong cái ống rồng, nay giao cho các ngươi kính cẩn phong kín, vạn nhất ta có mệnh hệ nào, thì tuyên bố ngay để cho thần dân trong ngoài đều biết ta sở dĩ cẩn thận chọn người nguyên lương là cái lý lo sâu nghĩ xa. Các ngươi đều là đại thần của nước, chịu ân sâu nghĩa nặng, nên đem tấm lòng giúp ta mà giúp tự quân. Phải kính cẩn thay, chớ bỏ mệnh lệnh của ta! ”.


Đại Nam thực lục, tập 6, tr. 1074


Di chiếu lấy hoàng tử thứ hai là Phúc Tuy công có thể nối được việc lớn lên ngôi hoàng đế và chuẩn cho cố mệnh lương thần là Trương Đăng Quế, các đại thần Vũ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương, Lâm Duy Thiếp đều sung làm phụ chính đại thần.


Năm 1847, Trương Đăng Quế được tấn phong Tuy Thạnh quận công. Sau Trương Đăng Quế là Vũ Văn Giải được tấn phong là An Viễn hầu, Nguyễn Tri Phương được tấn phong làm Tráng Liệt bá, Lâm Duy Thiếp được thăng Hiệp biện Đại học sĩ.


Ngày Đinh Tỵ, tháng giêng, mùa xuân, năm 1850, Tự Đức năm thứ 3, tổ chức duyệt binh, vua đang tĩnh dưỡng, đặc phái cho đại thần Trương Đăng Quế khâm mệnh điểm duyệt.


Tháng giêng, năm 1853, Tự Đức năm thứ 6, sai Trương Đăng Quế làm Chánh sứ hà đê, Nguyễn Đăng Giai làm Phó sứ, Tổng đốc Nghệ An là Nguyễn Trạch sung chức Tham biện hà đê.


Tháng 10 năm này, Trương Đăng Quế đi công việc ở Bắc Kỳ trở về, sức khỏe suy yếu, xin nghỉ việc ở bộ Binh, vua cho rằng chức tam công (Thái sư, Thái phó, Thái bảo) là để bàn đạo trị dân, sửa sang việc nước không dám phiền đến việc nhỏ, nên đặc ân y cho, còn các hàm kiêm sung thì Quế vẫn giữ như cũ. Phàm có việc gì, đều dự ở chỗ đình nghị chiểu theo thường lệ vào triều yết, để hỏi công việc chính trị.


Nhưng đến năm sau, năm 1854, các chính khanh ở lục bộ tâu xin vua cho vời Trương Đăng Quế quản lý công việc bộ Binh trở lại.


Vua Minh Mệnh có dụ rằng:


 “Mới rồi vì giặc nghịch ở Bắc Kỳ quấy rối, Binh bộ và Nội các hội đồng với nhau vâng lời dụ, làm phiếu bàn định, hễ làm là đúng cơ nghi. Mùa xuân năm nay, mới đầu đặt viện Cơ mật, các đại thần đã được chọn vào viện ấy, đều sớm tối siêng năng, việc gì cũng làm thanh thỏa cả. Nay công lớn đã xong, biên giới được yên lặng. Họ tuy chỉ là những người chạy vạy ở chỗ màn trướng, không phải có sự khó nhọc đổ mồ hôi, nhưng cầm bút ở chỗ cấm đình, hiệp sức giúp việc quân, cũng đáng khen ngợi. Nay thưởng gia một cấp, dưới tên ở trong quan tịch có ghi phát bổng hay bị phân xử đều miễn cho cả là các đường quan ở Cơ mật viện, bộ Binh và Nội các là Trương Đăng Quế, Nguyễn Kim Bảng, Phan Bá Đạt, Phan Thanh Giản, Nguyễn Trung Mậu, Lê Văn Trung, Hà Tông Quyền, Nguyễn Tri Phương và Hoàng Quýnh.


Vua Minh Mệnh ra tờ dụ viết chữ son rằng:


Ba năm xét công, lọc lựa quan chức, tiến người hiền tài, loại kẻ hèn kém, thực là chính sự hay của người xưa, cho nên ta bắt chước mà làm. Nay ta xét định kỹ càng thì thấy như: Hiệp biện đại học sĩ lĩnh thượng thư bộ Hộ là Nguyễn Khoa Minh chăm chỉ mẫn cán, giữ tròn nhiệm vụ và làm được công việc; thượng thư bộ Binh sung Cơ mật viện đại thần là Trương Đăng Quế bày mưu ở nơi then chốt hiệp sức đồng lòng, đều cho gia hàm Thái tử thiếu bảo”.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 316-318


Cuộc đời Trương Đăng Quế thể hiện tính cách mẫu người Nho sĩ mà ngày xưa gọi là sĩ quân tử, gồm đủ: Nhân, Nghĩa, Trung, Tín. Mạnh Tử bảo đó là tước của trời. Người như vậy, nhất định được thăng tiến trong xã hội phong kiến, xã hội triều Nguyễn.


HOẠN LỘ


Khoa thi đầu tiên của triều Nguyễn, khoa Kỷ Mão, niên hiệu Gia Long thứ 18 (1819), Trương Đăng Quế 27 tuổi, thi đỗ Hương cống (Cử nhân), khoa này chỉ có thi Hương, chưa có thi Hội, thi Đình. Bấy giờ cũng chưa gọi những người thi đỗ là Cử nhân.


Khoa này lấy đỗ 29 người thuộc hai trường Quảng Nam và Gia Định (chỉ mở hai trường thi này) lấy đỗ:


Trường thi Quảng Nam:


Nguyễn Đăng Ngạn, Bùi Bá Trinh, Nguyễn Thành, Phan Nhật Thạnh, Lê Huệ, Thân Văn Duy, Trần Văn Nhiễm, Phạm Đình Học, Trương Đăng Quế, Đinh Doãn Trung, Nguyễn Khắc Biểu, Doãn Văn Xuân, Võ Đỉnh, Nguyễn Xuân Hải, Nguyễn Văn Điển, Ngô Trọng Vỹ, Nguyễn Nhân Lý.


Cộng 17 người


Trường thi Gia Định:


Trương Bảo Hợp, Đặng Văn Nguyên, Đặng Văn Mô, Trương Minh Giảng, Ngô Phúc Hội, Mai Thăng Đường, Nguyễn Công Hoán, Hoàng Văn Tú, Hồ Hựu, Bùi Tăng Huy, Chu Kế Thiện, Trần Vĩnh Lại.


Cộng 12 người.


Đại Nam Thực lục, Tập 1, tr. 993


Sau này, ông có dịp gặp lại hai người Nam Kỳ thi đỗ cùng khoa với mình năm 1819 và ông kể lại chuyện ấy với tình cảm hân hoan đầm ấm trong bài thơ:CÙNG TRƯƠNG QUÝNH XUYÊN, TRƯƠNG LY CHI


Đất Tràng An tháng chạp


Khoa Kỷ Mão, đồng niên


Tuổi thanh xuân phơi phới


Thi hứng, tứ triền miên


Ngoài trời mưa nhè nhẹ


Cầu son, liễu xanh viền


Gọi trẻ châm thêm rượu


Vui say ngày Hạnh viên.


Thơ Trương Đăng Quế, sđd, tr. 437


Trương Đăng Quế được bổ chức Hành tẩu bộ Lễ, một chức quan nhỏ chuyên về văn thư làm việc ở một bộ. Thường thì các cử nhân mới đỗ đều phải trải qua thời kỳ thử việc làm chức Hành tẩu. Thời kỳ tập sự này, Trương Đăng Quế có bài thơ tự tình:


XUÂN THƯ TRAI


Gặp buổi tàn đông lại nhớ nhà


Đón mùa xuân đến mấy câu ca


Rau dưa nhẹ bụng qua ngày tháng


Phòng sách âm thầm nỗi khách xa


Tài kém dám từ quan chức nhỏ


Phận hèn đâu oán tướng môn nha


Rong chơi tùy lúc ta thong thả


Thắng cảnh nơi nào chịu bỏ qua?


Thơ Trương Đăng Quế, sđd, tr. 114


Gia đình Trương Đăng Quế nhiều người làm quan lớn cho triều Tây Sơn, Trương Đăng Đồ cùng vợ là nữ Đô đốc Huỳnh thị Cúc trong ngũ phụng thư của nhà Tây Sơn đã phò tá Nguyễn Quang Thùy chiến đấu quyết liệt với quân Nguyễn Ánh ở Sơn Tây và cả hai đều tử tiết theo nhà Tây Sơn. Sau này, chính Trương Đăng Quế đã ra công truy tìm phần mộ chú thím mình, đưa về cải táng trong nghĩa trang của họ tộc tại Quảng Ngãi.


Thế thì, tại sao Trương Đăng Quế vẫn ra làm quan với triều Nguyễn và lạ hơn nữa là được các vua triều Nguyễn hết sức tin dùng. Khi bộ Lễ đưa vấn đề lý lịch ba đời của ông để lập hồ sơ truy tặng tước hàm cho ông nội ông, trình vua Minh Mệnh, xin phê duyệt, thì triều đình có vẻ bênh vực ông.


Năm 1838, Minh Mệnh năm thứ 19, bộ Lại tâu về việc phong tặng:


“Bộ thần lại nghĩ Hiệp biện đại học sĩ Trương Đăng Quế theo lệ được phong tặng, hai đời ông và cha viên ấy đã nhận tước phong của ngụy, nhưng ông của viên ấy không từng theo ngụy, liệu có được dự phong hay không, tâu rõ chờ Chỉ...”.(1)


Vua Minh Mệnh bảo:


“Ông của Trương Đăng Quế theo lệ đáng được phong, nhưng chỉ vì con theo ngụy (Trương Đăng Phác, Trương Đăng Đồ...) nên che mù cả điều hay, có lẽ chưa hợp. Bộ ngươi nên bàn kỹ với bộ Lễ, tham khảo lệ cổ và thể lệ nhà Minh, nhà Thanh cho thỏa đáng rồi tâu lên”.


Hai bộ tham khảo rồi cùng tâu lên đồng ý phong tặng ông nội của TrươngĐăng Quế. Vua y cho.


Đại Nam thực lục, tập 5, trang 312.


Quang Trung đã có công đặt cơ sở thống nhất đất nước khi đánh bại các tập đoàn phong kiến trong và ngoài nước. Vua Quang Trung từ trần năm 1792, thì năm sau, năm 1793, Trương Đăng Quế ra đời. Kể từ đó, phong trào Tây Sơn bắt đầu suy yếu, để rồi chẳng bao lâu sau, chỉ trong vòng bảy năm, Nguyễn Ánh phản công đánh chiếm thành Qui Nhơn vào năm 1799, rồi thu hồi Phú Xuân vào năm 1801 và lấy Thăng Long và cả nước vào năm 1802.


Diễn biến lịch sử Việt Nam sôi động trong thập kỷ 1790 thì Trương Đăng Quế còn quá nhỏ, đến năm Gia Long lên ngôi vua, ông chưa đến 10 tuổi. Kể từ đó, tình thế đất nước dần dần ổn định, công cuộc xây dựng một quốc gia thống nhất có liên quan đến nhiều lãnh vực, trong đó có việc sử dụng nhân tài.


Gia Long được thừa hưởng thành quả thống nhất đất nước của triều Tây Sơn, khôi phục quyền cai trị của dòng họ mình, cho đến gần 20 năm sau, năm 1919, triều Nguyễn đã thực hiện xong việc ơn đền oán trả, củng cố vững chắc quyền thống trị của mình, và bắt đầu nới lỏng bàn tay sắt. Việc tổ chức khoa thi đầu tiên vào năm Kỷ Mão (1819), khoa thi Trương Đăng Quế tham dự và đỗ Hương cống đã chứng minh điều đó. Trong tình hình như vậy, dù xuất thân trong gia đình vốn thù địch với triều đình đương quyền, các nho sĩ vẫn có thể tiến thân bằng con đường khoa cử.


“Việc nho sĩ thi đậu ra làm quan là bình thường, và tất yếu họ phải tuân theo chế độ mới. Cho nên, dù là con một viên Tri phủ thời Tây Sơn, Trương Đăng Quế vẫn tham gia được vào chính quyền Gia Long, thời mà tân triều còn thiếu quan lại giỏi”. (theo Giáo sư Phan Ngọc Liên, Hội thảo khoa học về Trương Đăng Quế, 1994).


Vả lại, dòng dõi họ Trương Đăng Quảng Ngãi đã từng liên tục nhiều thế hệ làm quan dưới thời các Chúa Nguyễn. Đúng ra, phải nói là giới Nho sĩ bấy giờ đã đồng tình góp tay xây dựng chế độ mới, một chế độ đã bền vững về mặt chính trị và đang trên đà phát triển.


Năm 1820, Minh Mệnh nguyên niên, sau một năm tập sự, vì có tiếng học hạnh, còn được một quan đại thần tiến cử, nên Trương Đăng Quế được bổ làm Đông cung bạn độc, tức cùng học với các hoàng tử. Đó là cách nói khác của công việc dạy các hoàng tử học. Trong thời kỳ này, Trương Đăng Quế may mắn được gần gũi người sau này lên làm vua, tức hoàng tử Miên Tông, vua Thiệu Trị.


Cho đến những năm 1826, 1827, Trương Đăng Quế vẫn chưa có tiếng tăm gì, vì chức quan thì nhỏ, lương thấp, nhà nghèo. Ông có bài thơ gởi bạn đồng khoa cũng thanh bạch như mình, nhưng bàng bạc chút tự hào về sự thanh bạch của mình.


NHẬN HOA CÚC, CHIA TẶNG BẠN LÀM THƠ KỂ LẠI


Nếu gọi văn chương cũng ngọc châu,


Tràng An như tớ có nghèo đâu


Chia ông mấy bụi hoàng hoa cúc


Kỷ Mão đồng khoa bạn với nhau


Đã chín năm trời lưu chánh sắc


Chỉ ba ngõ cách có xa nào!


Nhắc ông đặt chỗ sương nhuần thấm


Đoá đóa tươi xinh rực sắc màu


Thơ Trương Đăng Quế, sđd, tr. 299


Sau đó, ông được bổ chức Thượng bảo Thiếu khanh. Theo quan chế thời bấy giờ với hệ thống mười tám thang bậc từ tòng cửu phẩm đến chánh nhất phẩm thì phẩm cấp này mới là tòng tứ phẩm. Tòng tứ phẩm mới là phẩm trật gần trung bình.


Năm 1830, Minh Mệnh thứ 11, do siêng năng, có khả năng làm việc, và nhờ được tiến cử, ông được bổ chức Tả thị lang bộ Công, làm việc ở Nội các, tức văn phòng của vua. Chức thị lang là chánh tứ phẩm, được làm việc ở Nội các là được gần vua, tham gia cùng với vua bàn bạc đề ra những quyết sách liên quan đến cả đất nước. Cũng trong năm này, Tả thị lang bộ Công Trương Đăng Quế được đổi bổ làm Tả thị lang bộ Lễ, vẫn làm việc ở Nội các. Bộ Lễ có phần quan trọng hơn bộ Công, như thế là dù chánh tứ phẩm, nhưng cũng coi là Trương Đăng Quế được lên chức.


Chỉ một năm sau đó, vào tháng 12 năm 1831, Trương Đăng Quế lại được thăng chức và điều chuyển từ Tả thị lang bộ Lễ sang làm thự (tức ngày nay gọi là quyền) Tả tham tri bộ Hộ. Sau đó lại ông được điều động quyền coi việc ở Võ khố. Võ khố là kho quân sự nhà nước, quản lý phần lớn tài sản nhà nước, vì ngoài Võ khố, còn có Tào chính mà sau này Trương Đăng Quế cũng kiêm chức luôn. Chức tham tri là tòng tam phẩm. Phải là người cẩn thận chu đáo như thế nào mới được nhà vua và triều đình tín nhiệm giao các trọng trách này.


Từ cuối năm 1830, Trương Đăng Quế bắt đầu được giao nhiều trọng trách thêm nữa. Ông làm nhiều việc tại nhiều bộ, như ta đã biết ông từng làm việc ở các bộ Công, bộ Lễ, Nội các, Võ khố (kho quân dụng của cả nước). Từ nay ông còn làm Tả tham tri bộ Hộ, thượng thư bộ Binh, nắm Thương bạc, Đô sát viện, Tào chính, Khâm thiên giám, Cơ mật viện, Văn minh điện Đại học sĩ, rồi lên tột đỉnh phẩm cấp quan lại là Cần chánh điện Đại học sĩ, tước đến Quận công.


Dường như ông cầm đầu đơn vị nào thì đơn vị đó trở nên ngăn nắp, ổn định. Đó là cách làm việc thời bấy giờ mà ngày nay có thể gọi là làm việc có khoa học.


Nhiều việc ông đề ra trở thành lệ, thành khuôn mẫu quản lý có hiệu quả, như sau đây chúng tôi trình bày cụ thể.


Tháng 12 năm 1830, binh thuyền nước Pháp đến đậu ở cửa biển Đà Nẵng, nói là vâng mệnh vua nước họ, muốn được một viên quan ở nhà Thương bạc đến nói chuyện. Vua Minh Mệnh sai sung biện Nội các Thị giảng học sĩ là Nguyễn Tri Phương đến để dò hỏi, thuyền trưởng nhất định không chịu nói. Vua phải sai Tả thị lang Trương Đăng Quế quyền chức quan Thương bạc đến, thì thuyền trưởng nước ấy mới chịu nói.


Mùa xuân năm 1832, Minh Mệnh năm thứ 13, vua lại điều thự Tả tham tri bộ Hộ, quyền làm công việc võ khố Trương Đăng Quế về bộ cung chức và cùng với thự Hữu tham tri bộ Hộ là Bùi Phổ quyền giữ án triện bộ Hộ. Đặng Đức Thiệm thay Trương Đăng Quế coi võ khố, Trương Đăng Quế chính thức là Tả tham tri bộ Hộ. Chức Tham tri chỉ đứng dưới Thượng thư, cũng như ngày nay Thứ trưởng chỉ đứng dưới Bộ trưởng. Như vậy có thể nói ông làm việc của Thượng thư bộ Hộ.


Cũng năm này, Trương Đăng Quế được thăng thự thượng thư bộ Binh kiêm lãnh ấn triện viện Đô sát. Đến mùa đông, Trương Đăng Quế được chính thức làm thượng thư bộ Binh. Chức này là chánh nhị phẩm.


Cũng năm này, vua Minh Mệnh lại sai Trương Đăng Quế kiêm trông coi Tào chính.


Năm 1834, Minh Mệnh năm thứ 15, nhân vì việc quân quốc cơ yếu là việc rất quan trọng, vua Minh Mệnh đặt ra Cơ mật viện cho có trách nhiệm riêng. Các quan đại thần sung chức trong viện ấy thì dùng bốn viên, văn võ quan từ tam phẩm trở lên, phụng chỉ kén dùng. Các đại thần ở Cơ mật viện đeo kim bài để phân biệt với các quan khác. Cơ mật viện là cơ quan tối cao của triều đình gồm năm người do vua chủ trì cùng bốn viên đại thần.


Năm 1835, Cơ mật viện đại thần gồm bốn vị là quan thượng thư bộ Lại Nguyễn Kim Bảng, quan Thượng thư bộ Binh Trương Đăng Quế, quan Tả phó đô ngự sử viện Đô sát Phan Bá Đạt và quan Đại lý tự khanh kiêm công việc bộ Hình Phan Thanh Giản.


Năm 1836, Minh Mệnh năm thứ 17, Trương Đăng Quế được thăng Hiệp biện đại học sĩ, tòng nhất phẩm.


Cũng năm này, Trương Đăng Quế kiêm lãnh công việc bộ Công.


Sau đó, Trương Đăng Quế lại kiêm lãnh công việc bộ Lễ.


Năm 1837, Trương Đăng Quế kiêm quản Khâm thiên giám


Năm 1841, niên hiệu Thiệu Trị thứ nhất, Trương Đăng Quế là cố mệnh đại thần nên được thăng làm Phụ chính đại thần, Văn Minh điện Đại học sĩ, phẩm hàm là chánh nhất phẩm.


Trương Đăng Quế được thăng chức từ chánh tứ phẩm lên chánh nhất phẩm, trong thời gian có mười một năm từ năm 1830 đến năm 1841, được thăng sáu phẩm cấp triều đình như thế là rất nhanh. Nên biết rằng, người làm quan thời bấy giờ nếu không phạm khuyết điểm gì thì bình thường phải làm việc liên tục từ ba đến năm năm mới được thăng một phẩm cấp. Điều đó có thể cho biết Trương Đăng Quế là người khôn khéo, cẩn thận và có thực tài.


Năm 1841, Thiệu Trị năm thứ 1, vua phong Hiệp Biện Đại học sĩ Trương Đăng Quế, gia thêm hàm Thiếu bảo, vẫn lãnh chức Thượng thư bộ Binh, sung làm Cơ mật viện đại thần.


Tháng 12, năm 1841, Thiệu Trị năm thứ nhất, cho Hậu quân Chưởng phủ sự Nguyễn Văn Trọng và Thái bảo Văn Minh điện Đại học sĩ Trương Đăng Quế sung chức Ngự tiền đại thần.


Năm 1844, Thiệu Trị năm thứ 4, Trương Đăng Quế được ban tước Tuy Thanh Tử, con là Trương Đăng Trụ được ban phẩm cấp Hàn lâm viện Thừa chỉ. Ông dâng sớ nói:


“Thần, gặp thời ra làm quan, lạm lên ngôi cao, đức bạc, quan to, đã vượt quá phận. Trương Đăng Trụ còn trẻ tuổi, chưa học mà có quan, không làm việc gì mà ăn lộc, nghĩ thấy quá ưu ái, lấy làm sợ hãi. Khẩn xin đình lại việc ấm thụ và chi lương ”.


 (Đại Nam thực lục, tập 6, tr. 633)


Vua Thiệu Trị cho là điển lệ hay của nhà nước cho bề tôi có công được hưởng tước lộc đời đời.


Con được phong theo điển lệ, không phải là Trương Đăng Quế không biết điển lệ ấy, nhưng ông xin được không nhận.


Thật lạ vì trong thực tế suốt xưa nay chưa thấy ai làm được như vậy, dù theo lý thuyết, đó là lời dặn rất cặn kẽ của Khổng Tử mà sách Luận ngữ ghi lại: “Người hưởng quá tài đức của mình tất có hại về sau.”


Năm 1846, Thiệu Trị năm thứ 6, Trương Đăng Quế được phong tước Tuy Thạnh bá.


Năm 1847, Tự Đức năm thứ nhất, vua Tự Đức cho thăng chức ông làm Cần Chánh điện Đại học sĩ, tấn phong tước Tuy Thạnh Quận công.


Đáng chú ý ở đây là một lúc thăng từ tước bá lên tước công, vượt qua tước hầu, còn phẩm trật Cần Chánh điện Đại học sĩ là tột đỉnh, tức quan đầu triều, chỉ đứng sau vua.


Trong vòng 27 năm từ 1820 đến 1847, từ một nho sĩ con trai một tri phủ phe địch thời Tây Sơn, Trương Đăng Quế đã vươn đến tột đỉnh quan chức triều Nguyễn, một thành tích thật phi thường, nếu không có thực tài và được cả triều đình tín nhiệm thì không thể làm được. Hai lần liên tiếp, Trương Đăng Quế còn được vua ủy thác trọng trách trước lúc lâm chung. Một lần, chỉ riêng một mình ông được vua Minh Mệnh cho đến bên giường bệnh gởi gắm Trường Khánh công, sau này là vua Thiệu Trị. Lần thứ hai, ông cùng với Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp được Thiệu Trị gởi gắm Phúc Tuy công, về sau là vua Tự Đức.


Trong lịch sử nước ta, Tô Hiến Thành thời nhà Lý được vua Lý Anh tông gởi gắm Thái tử Long Cán, về sau trở thành vua Lý Cao Tông, nhưng cũng chỉ một lần hiếm hoi, ngoài ra không thấy có vị quan nào được tín nhiệm như thế. Có lẽ có nhưng trong những trường hợp không nổi bật, nên không được nhắc đến chăng?


Nhất định là Trương Đăng Quế đã có những đóng góp xuất sắc như thế nào đó cho triều đình nhà Nguyễn, triều đại quân chủ sau cùng của nước ta, dù có những hạn chế nhất định nhưng triều Nguyễn cũng đã chứng tỏ nhiều cố gắng hoàn thành và củng cố sự thống nhất đất nước mà nhà Tây Sơn đã tạo tiền đề.


Năm 1862, Trương Đăng Quế thọ 70 tuổi. Vua ban cho bài thơ ngũ ngôn và các phẩm hạng để nuôi tuổi già đọc sách gồm:


Nhung hươu 1 cặp,


Nhân sâm 5 chỉ


Quế thanh 2 phiến


Nghiên đá bằng cẩm thạch chạm chữ Phúc Thọ1 cái,


Bút lông 10 ngòi


Ống cắm bút bằng sứ 1 chiếc


Mực 1 hộp 4 thoi


Giấy viết thơ hạng tốt 100 tờ


Đai vàng 1 chiếc


Gậy đầu cưu 1 chiếc


Bàn chè 1 bộ


Bát sứ 2 chiếc


Chén 7 cái


Đĩa 10 chiếc


Áo chống rét tay rộng, tay vừa, tay chẽn mỗi thứ 1 cái đều lót bông


Chăn 1 chiếc


Đệm nằm, đệm ngồi lót bông mỗi thứ 1 chiếc


Trừu sợi gai màu huyền, trừu hoa màu ngọc lam, trừu dệt mãng cuộn tròn màu bảo lang, trừu non màu đỏ, màu trắng đều mỗi thứ 1 chiếc.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 799


Năm 1863, Tự Đức năm thứ 16, Trương Đăng Quế trí sĩ. Trước đây, Trương Đăng Quế 5 lần dâng sớ xin về hưu, nhưng vua cho Đăng Quế là cố mệnh lương thần của hai triều, cốt để nương nhờ, chưa nỡ tạm rời hai bên tả hữu, cho đình thần họp bàn, các quan đều xin ông ở lại. Nay vì già ốm, ông thiết tha xin về hưu, vua chìu theo ý muốn. Khi về, vua sai đình thần làm lễ đưa tiễn. Sau khi về làng, vua chi cho một nửa lương, quan tỉnh thường xuyên đến thăm hỏi. Vua lại dặn Đăng Quế là sau này có nghe thấy gì và nghĩ tính gì đến những việc lợi hại to có liên quan đến việc nước việc quân thì cho phép gởi tâu lên. Đăng Quế về rồi, vua lại ban cho bài thơ thất ngôn.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 808


Mùa xuân năm 1865, Tự Đức năm thứ 18, cố mệnh lương thần, Thái bảo, Cần Chánh điện Đại học sĩ, sung Cơ mật viện đại thần, Kinh diên giảng quan, Tuy Thạnh quận công, trí sĩ Trương Đăng Quế qua đời. Tháng trước, vua nghe tin Trương Đăng Quế bệnh, sai đưa sâm quế và phái viên thái y đến điều trị. Rồi sai tỉnh thần Quảng Ngãi đến thăm hỏi nếu có muốn nói việc gì lợi ích cho quốc kế thì sao đệ lên.


Đăng Quế thưa rằng:


“Trải thờ mấy triều tới nay, từng đội ơn tri ngộ, duyên phận đến như thế còn có gì hơn nữa. Việc trị nước, đại đoạn giảm bớt quan lại thì năm đầu Tự Đức đã trình bày cả rồi. Lại như việc dùng người, tìm người hiền, cũng đã trình bày những điều cốt yếu, tưởng không còn việc quan yếu nào nữa. Gần đây, lại đem ba việc lớn, bí mật trình bày (chép ở tháng 6 năm trước), không dám có ẩn dấu. Ngày trước có phụng họa bài thơ ngự chế có câu “ Bình sinh bội phục tiên hiền huấn, Phi đạo hà tằng cảm thượng trân”’. Sức học ngày thường của tôi chỉ được đến thế, nếu được thâu lượm để dùng, tưởng cũng không phải là không có chút bổ ích. Nay không dám trình bày điều gì khác thêm nữa”.


Tỉnh thần sao chép lời nói ấy dâng lên. Vua giao cho viện Cơ mật phụng giữ, để làm tài liệu cho sử biên sau này. Nghe tin Đăng Quế qua đời, vua Tự Đức bãi triều 3 ngày, tặng hàm Thái sư, cho tên thụy là Văn Lương, xuống chỉ cấp thêm 2.500 quan tiền tuất và gấm lụa các hạng. Lại sai đem rượu thượng phương - rượu vua dùng - và một bài thơ. Hôm chôn cất, lại sai quan đến tế và dựng bia ở mộ, đợi khi hết trở, sẽ theo lời tiền thánh cho tòng tự ở Thế miếu.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 906


Tên thụy là tên được ban trước khi nhắm mắt. Người ta thường đem tính hạnh của người ấy so sánh rồi đặt tên thụy. Tên thụy của Trương Đăng Quế được vua Tự Đức so sánh với toàn bộ cuộc đời của Trương Đăng Quế và đặt là Văn Lương.


 Vì tên thụy nào cũng bắt đầu bằng chữ Văn, nên ở đây, cần nghiên cứu chữ Lương trong từ Văn Lương. Có phải chăng Tự Đức muốn nói đó là một con người trung lương, một người lương thiện, một con người có lương tri, một con người có lương tâm?


Cũng là chuyện lạ, một viên quan sáu lần viết đơn xin về hưu, lần thứ nhất vào năm ông 58 tuổi và đến lần thứ sáu mới được toại nguyện khi tuổi đã vượt ngưỡng xưa nay hiếm, 73 tuổi, để rồi chưa tới hai năm sau thì qua đời. Sáu lần xin về hưu cách nhau 15 năm. Lý do xin về hưu là tuổi già, không còn đủ sức khỏe và sáng suốt để làm việc, nhưng vua và triều đình chưa cho ông về hưu mỗi lần mỗi lý do khác nhau.


Mùa thu năm 1855, Tự Đức năm thứ 8, Trương Đăng Quế làm tờ tâu xin nghỉ việc, đại ý nói:


“Thần ngày thường tự biết là làm chính sự không bằng Đặng Văn Thiêm, văn học uẩn súc không bằng Phan Thanh Giản, siêng năng không bằng Lâm Duy Thiếp, chất phác không bằng Tôn Thất Thường, chỉ có ra vào chầu hầu cố gắng làm việc, lâu ngày nên công. Gần đây ngày càng suy yếu không lợi gì cho việc chính sự...”.


Vua một mực ủy dụ không cho về, nói rằng:


“Ở đời những người làm quan, cố nhiên có người tự biết đủ (tri túc), biết yên nghỉ để không bị nhục, không bị nghi. Nhưng cũng có người lại cố gắng làm việc, không dám kêu khó nhọc, vì phải tùy thời mà tiến, lùi chưa từng cố định được. Nay theo như đức và vị của khanh, mà muốn xin nghỉ để được rảnh mình thì có 5 điều không nên...Trẫm đương tuổi nhỏ, kiến thức còn ít, mọi việc chưa quen, nên muốn dùng người cũ để giúp trẫm những điều trẫm không nghĩ đến được. Từ trước đến nay, phàm khanh có dâng điều hay, can điều trái, không điều gì mà trẫm không nghe theo, khanh còn ngại ngùng gì mà nỡ phụ lòng trẫm...”.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 405-406


Tháng 9 năm 1855, chuẩn cho Trương Đăng Quế thôi việc ở bộ Binh, vẫn sung chức Cơ mật viện đại thần, Trước đó, Trương Đăng Quế dâng sớ xin sở viện về hưu. Vua phê vào tập tâu:


“Nay gặp lúc nước nhà gặp tai nạn, dù tuổi đã già yếu như Trần Văn Trung còn chưa nỡ bỏ, huống chi là phận nghĩa khí thức của một viên Đại học sĩ, lại muốn vin lệ nghỉ việc thì có nên không? Hãy đợi giúp ta giữ nước ”.


Trương Đăng Quế lại viết sớ tâu xin lần nữa. Vua lại nói rằng trong nước có người tài, thì nước mới vững vàng, sao nỡ khiết nhiên, làm trái ý ta lần nữa. Đình thần đều tâu là viên đại thần ấy là bậc lão thành, rất quen công việc, trí lự còn rất tinh tường, còn có thể mưu bàn việc lớn, giúp ích được nhiều.


Tháng 9, năm 1860, Tự Đức năm thứ 13, Trương Đăng Quế lúc này 68 tuổi, lại dâng sớ xin miễn chức về quê. Đại ý nói rằng:


“Từ khi Tây dương đến đây đã ba năm nay, mà ngồi trơ mặt ở triều ban, không vạch ra được một mưu chước gì để đánh lại được giặc Tây dương, tội ấy chối sao được. Lại bóng chiều đã xế, bệnh tật luôn luôn, gần tới cõi chết mà cố giữ địa vị, thực đáng hổ thẹn. Vậy xin cho về quê để nhường chỗ cho lớp trẻ”.


Vua giao cho đình thần xét nghĩ. Đình thần đều nói xin lưu Đăng Quế lại để tính toán giúp đỡ. Vua an ủi Trương Đăng Quế, bảo rằng đang có việc giặc Tây dương, nên hết sức làm việc, nếu một phút nào còn sống cũng phải nên cố gắng để báo đền ơn nước.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 678


Tâm sự về hưu của ông qua mấy bài thơ:


CẢM XÚC NGÀY XUÂN


Đất khách vui được mấy


Một mình, thoảng gió xuân


Sáng sớm đi thong thả


Xem sinh hoạt nhân dân


Lăn xăn người qua lại


Vui vẻ mặt tươi tỉnh


Riêng ta lòng ưu tư


Ngày một thêm chồng chất.


Vườn xưa ven đông nam


Cây cối mọc xanh tốt.


Anh ta còn ở nhà


Đôn đốc việc trồng trọt.


Cháu bé chơi bên cạnh


Hả hê đùa thật thích


Việc chi ta cứ mãi


Ngày đêm ra vào cung


Lụy vì thăng đấu phỏng?


Để hận cái thân danh


Thơ Trương Quế, sđd, tr 24


TẶNG QUAN THƯỢNG THƯ BỘ CÔNG
BÙI ĐOÀN VỀ HƯU


Đường đời từng gánh lắm gian nan


Phải chịu ba lần giáng chức quan


Lên xuống cả đời, đành sống nhún


Nỗi trôi suốt kiếp, chịu cư bần


Mình mang bệnh nặng nên hưu trí


Chức phận lo tròn nhẹ tấm thân


Muốn bước theo ông chưa thể được


Ở, về đâu phải chuyện dễ bàn


Thơ Trương Quế, sđd, tr 293


Trương Đăng Quế cảm thấy nhẹ người khi đã được về hưu qua mấy bài thơ:


HỌA NGUYÊN VẬN HAI BÀI “KIẾN HOÀI” CỦA THƯƠNG SƠN CÔNG


(đồng gởi Triệu Phong công)


*Bài 1


Trăng sáng thu về đêm vắng tanh


Chập chờn nhớ lại thuở làm quan


Lan Đình thắng hội say còn nhớ


Bạch Xã danh thi lão vẫn mong


Nhà mát thơ nhàn theo họ Tạ


Ruộng phì lúa tốt học nơi Phàn


Nhìn lên sắp sáng, xa kinh quá


Chỉ thấy lau già sương vẫn trong


*Bài 2


Về hưu nhà cũ mặc xuề xòa


Lá rụng thu sang chạnh tuổi già


Đã hết quan to bàn chiến lược


Nên gần dân giả kết thông gia


Ruộng kề vui thấy sân đầy lúa


Biển sát buồn nghe sóng dữ qua


Tựa bóng dừa trông về hướng bắc


Mịt mù kinh khuyết khói mây xa


Thơ Trương Quế, sđd, tr. 443


THU CẢM


Từ khi về ở Khúc Giang đông


Mọi thứ phồn hoa chuyện sắc không


Thấm thoắt đã vào thu tháng tám


Lững lờ sáng tỏ một vầng trong


Gió xao cây quế hương thơm nhẹ


Sương thấm rừng phong lá rực hồng


Xong khúc Nghê Thường trăng cũng vắng


Quảng Hàn giá lạnh có buồn không


Thơ Trương Quế, sđd, tr. 116


Những bài này ông làm khi đã về hưu, trở lại sống tại làng Mỹ Khê, Quảng Ngãi, cách kinh thành Huế 240 km về phía nam. Ông nhập thân cuộc sống nơi thôn quê “trăng sáng... đêm vắng tanh”, “mặc xuề xòa”, cái mong ước đơn sơ “ruộng phì, lúa tốt”, vui buồn mang khí vị của người nông dân “sân đầy lúa”, “sóng dữ qua”. Nhưng phảng phất đâu đây nỗi lòng của người già lo lắng chuyện đất nước, làm ta nhớ đến bề tôi nhà Hán là Đại thần Lư Thực thời Tam Quốc khi loạn Thập thường thị nổ ra, đau lòng nhìn kinh đô biến loạn mà bất lực chỉ biết than thở. Trong thời gian ngắn ngủi từ khi được về hưu chưa tới hai năm tuổi già, trước khi qua đời, Trương Đăng Quế để lại ba bài thơ này.


(còn tiếp)


Nguồn: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. NXB Văn học. 1-2009.







(1) Theo chế độ các triều đại phong kiến, có tục truy tặng cho cha, ông nội của các quan. Thời Tây Sơn, Trương Đăng Phác làm chức Tri phủ nên cha là Trương Đăng Lượng được phong tặng tước hàm dù không làm quan cho nhà Tây Sơn ngày nào. Đến khi Trương Đăng Quế làm quan cho triều Nguyễn, thì Trương Đăng Phác đương nhiên là không được xét, song Trương Đăng Lượng được phong.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc người Việt - người Mường: Nước Xích Quỷ - Tạ Đức 21.05.2017
Nói có sách (1) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (6) - Vũ Bằng 18.05.2017
Những cây cười tiền chiến (5) - Vũ Bằng 18.05.2017
OIJ chấm dứt hoạt động, sự nghiệp OIJ trường tồn - Phan Quang 17.05.2017
Ký ức tháng Tư - Trần Đăng Khoa 02.05.2017
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
xem thêm »