tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21079730
Tiểu thuyết
20.02.2013
Hà Văn Thùy
Nguyễn Thị Lộ

Cả buổi sáng hôm sau nàng ở trong thư phòng của chồng. Nàng nhận ra, ngoài việc lên núi ngắm cảnh thì những lúc Nguyễn Trãi vắng nhà, đây là nơi ẩn trốn an toàn của mình. Nàng đọc sách, suy nghĩ tự do bộc lộ tâm trạng mà không sợ con mắt nhìn tọc mạch nào nhòm ngó. Đọc hết tập thơ Quốc âm, nàng như thấy hiện lên tấm lòng của chồng, một tấm lòng trung quân ái quốc đau đáu nhưng đó cũng là nỗi đau nỗi buồn sâu thẳm của con người hữu tài mà chí không thỏa. Thấm nỗi đau của chồng, nàng càng thương chồng lại càng ân hận về tội lỗi của mình. Tuy vậy, những bài thơ cũng gợi lên trong lòng nàng nỗi buồn riêng: không một ý thơ nào của người nhắc đến nàng! Phải chăng nàng không hề có vị trí trong suy nghĩ của chàng? Bao nhà thơ kim cổ viết thơ về vợ họ, những hoài nội, ký nội… vậy mà trong mấy trăm bài thơ của chàng không một dòng một chữ nói về con người từng đầu gối tay ấp từng những ngày gối đất nằm sương… Một thoáng buồn se thắt lòng nàng. Nàng thầm trách chàng vô tâm!


    Đến chiều thì nàng không còn lòng dạ nào để đọc sách nữa, ruột nóng như lửa, nàng ra dạo vơ vẩn trong vườn, ngắm cây trái, ao cá, nhìn đàn cá tung tăng dưới làn nước trong veo. Tuy vẩn vơ ngắm cảnh nhưng nàng thỉnh thoảng lại liếc nhìn ra ngõ. Nguyễn Trãi về muộn. Khi chiếc cáng quen thuộc hiện ra, nàng rảo bước đi tới. Chiếc cáng dừng lại ở giữa sân. Từ trên cáng bước xuống, Nguyễn Trãi loạng choạng trong bước đi đầu tiên. Nàng tiến lại gần, đỡ tay chồng, cầm lấy chiếc tráp rồi cùng chàng vào nhà.


    Đêm xuống. Như đêm trước, Nguyễn Trãi lại chong đèn trước án thư. Nàng lại một mình vò võ đơn côi trong phòng. Trằn trọc mãi không sao ngủ được, trở dậy, thật nhẹ nhàng, nàng bước chân không trên nền gạch lạnh, đi về phía thư phòng. Tới cửa, nàng đứng nhìn chồng ngồi lặng lẽ, chòm râu im phăng phắc trước án thư, nét mặt đăm chiêu. Nhẹ nhàng như một con mèo, nàng bước tới gần, quỳ xuống. Không biết nàng đến, Nguyễn Trãi vẫn mê mải đọc, chỉ lâu lâu tiếng lật sách kêu sột soạt. “Tướng công!” Nàng lên tiếng. Chòm râu cước của Ức Trai rung động. Giật mình, thấy nàng đang qùy dưới chân, ông sửng sốt lêu lên: “Nàng! Sao lại thế này? Đứng dậy đi!” “Tướng công! Thiếp có tội với chàng. Xin người giáng tội!” “Sao nàng lại nói vậy? Thì nàng đứng dậy đã” “Xin tướng công giáng tội cho thiếp!” Không còn cách nào khác, Nguyễn Trãi cúi xuống, nâng vợ dậy. Nàng không chịu đứng lên, khăng khăng nói: “Xin tướng công giáng tội cho thiếp!” Ong đành nghiêm giọng: “Có gì thì nàng hãy đứng dậy rồi nói. Đừng làm vậy khó cho ta!” Vừa nói ông vừa nâng người nàng đứng lên. Đặt ngồi phía đối diện.


“Thiếp đã phụ chàng!” Nàng nói rồi bật khóc. “Thiếp đã phụ chàng. Xin chàng trị tội thiếp! Chàng đánh thiếp, giết thiếp cũng được. Xin chàng đừng ghét bỏ thiếp!”  Nguyễn Trãi vô cùng bối rối. Ong không ngờ một cơ sự thế này. Ong càng không chịu được nước mắt. Đưa chiếc khăn cho vợ, ông nói: Nàng hãy nín đi! Nhìn vợ lau nước mắt trong tiếng nấc, ông nói nhỏ và chậm như tự nói với mình:


    - Khi chuyện xẩy ra, ta vô cùng đau khổ vì người yêu thương nhất đã phản bội ta. Ta trách nhà vua đã xúc phạm ta. Quả thực lúc đó ta thù hận nàng… Nhưng rồi, khi uống cạn nỗi đau, ta hiểu ra, nàng không phản bội ta mà nàng chỉ theo tiếng gọi của lòng nàng. Nàng yêu ta khi còn quá trẻ, những năm tháng bên ta, tình yêu của nàng đã khuôn theo tình cảm của ta. Nay khi gặp một người như Nguyên Long, những tình cảm từ lâu bị kìm nén trong lòng bừng tỉnh, thúc giục nàng tìm những cái mà nàng vì ta đã để mất. Ta hiểu việc nàng làm. Ta già rồi không thể cho nàng những cái nàng có quyền được hưởng. Lẽ nào ta lại cấm đoán niềm vui, cấm đoán hạnh phúc của nàng? Thiên hạ chê những ông vua ngày xưa khi chết bắt thê thiếp chết theo. Nhưng nếu cấm đoán nàng, thì ta có khác gì một bạo chúa bắt nàng chôn vùi tuổi trẻ… Chính vì vậy, ta từ lâu đã thông cảm với nàng…


   - Tướng công tha thứ cho thiếp ? Thị Lộ nói trong tíếng nấc tức tưởi.


   - Ta nói ta thông cảm. Ta có quyền gì mà tha thứ với không tha thứ? Đó là quyền của nàng!


   - Nhưng tướng công đã không gần gũi thiếp, đã không coi thiếp là vợ nữa!


    Trầm ngâm một lúc, Nguyễn Trãi nói:


   - Nàng tha thứ cho ta. Từ ngày đó, ta vẫn thương nàng, vẫn trọng nàng, vẫn yêu nàng. Đấy là tình yêu hơn hai mươi năm của chúng ta. Hai mươi năm chung tình, không vẩn đục, sáng trong như băng tuyết. Hai mươi năm còn một chút này!  Tình yêu ấy không cho phép ta… 


   - Vậy là chàng khinh rẻ thiếp, không coi thiếp là vợ chàng? Nàng kêu lên thảng thốt bằng giọng kêu van của kẻ tội đồ bị đem ra hành hình.


    - Không! Nàng vẫn là vợ ta. Ta không hề coi rẻ nàng. Nhưng ta không thể…


      Uất ức và thất vọng, nàng vội dứng lên, chạy vụt ra ngoài. Nguyễn Trãi cập rập bước theo nàng. Dưới ánh trăng mờ, ông thấy nàng chạy tới bờ ao, đến bên gốc sung, như người muốn gieo mình xuống nước. Chạy vội tới, ông nắm lấy tay nàng. An ủi vỗ về cho nàng nguôi ngoai rồi ông nắm tay dắt nàng về phòng của nàng. Nhìn nàng nằm quay mặt vào phía trong, ông lặng lẽ trở lại thư phòng.


 


                                     *


     Với Thị Lộ, những ngày còn lại ở Côn Sơn là những ngày buồn thảm. Những ngày dài vô tận. Nguyễn Trãi chầu hầu bên nhà vua có nhiều đêm không về. Những đêm ấy nàng nhớ nàng mong trong cảm giác trống vắng đến xót xa. Những đêm ông về thì cùng một nhà mà cách xa vời vợi. Hai người như ở hai phương trời xa lắc. Cái mất mát càng gần gũi hơn, càng cụ thể hơn, tái tê, nhức buốt. Sự tuyệt vọng càng ghê gớm hơn. Tất cả nói lên một điều như bản án tử hình: nàng mãi mãi mất ông! Mất ngủ, dằn vặt, khổ đau khiến người nàng mệt mỏi rã rời như tan ra thành nước… Tuy vậy, bất hạnh thay, nàng không có quyền buông thả, không có quyền mệt mỏi, không có quyền làm như ý mình. Vẫn phải vui trước gia nhân, trước nàng Cẩm Vân, trước những người khách của chồng… Nàng còn việc lớn phải làm là đôn đốc gia nhân sửa sang thu dọn nhà cửa để đón nhà vua đến thăm.


   Ngày cuối của kỳ duyệt trận, Nguyễn Trãi ở nhà, cùng nàng đón quan Lễ bộ thượng thư Đào Công Soạn, quan Trung thừa Bùi Cầm Hổ cùng viên quan của nội cung kiểm tra những việc cuối cùng trước khi tiếp giá. Cả quan thượng thư, cả quan trung thừa vốn rất nể Nguyễn Trãi. Trong công việc nghênh giá này, họ càng nể bà Lộ. Vì vậy, những việc gì vừa mắt bà, họ cũng thuận lòng mà không bắt bẻ. Tới chùa Côn Sơn, sư trụ trì Thiện Trai dẫn khách đi vòng một lượt trong chùa, lắng nghe những điều khách góp ý.  Nguyễn Trãi nói với sư trụ trì:


     - Bạch sư cụ, như đã nói trước với cụ, ngày mai vào giờ Tỵ, hoàng thượng sẽ tới. Sau khi thăm tệ xá, hoàng thượng sẽ vãn cảnh chùa. Trưa, người cùng đoàn hộ giá sẽ dùng cơm chay ở chùa. Chiều, sau khi nghỉ ngơi, hoàng thượng sẽ thưởng lãm thắng cảnh Côn Sơn. Sau khi dùng cơm tối, hoàng thượng cùng các quan sẽ nghe sư cụ thuyết giáo về phật pháp cùng lịch sử Tư Phúc tự. Rất mong nhà chùa lo chu tất.


     - Việc nghênh giá là đại sự quốc gia mà cũng là vinh dự của bản chùa, bần tăng sẽ chu toàn, xin chư vị yên lòng!


   Thấy việc chuẩn bị tiếp giá được như ý, các quan triều trở về hành cung.


                                


                                   *


                              


     Gần tháng trời, vừa đi đường xa vừa thức khuya dậy sớm gội nắng phơi sương theo dõi cuộc tập trận nên Thái tông hơi mệt. Thấy sắc mặt nhà vua kém tươi, Thiếu úy Lê Khả nói: “Tâu hoàng thượng, hay là ta không đi Côn Sơn nữa mà trở về cung ngay để hoàng thượng được nghỉ ngơi, cho long thể thư nhàn. Người đã làm việc quá vất vả?” Lời nói của viên quan đầu triều chỉ đúng một phần tâm trạng nhà vua. Thực tình ngài thấy hơi bải hoải. Nếu không phải đi đâu nữa mà được hồi cung nghỉ ngơi thì hay biết mấy. Nhưng không thể không đi Côn Sơn! Nhà vua nói: “Đúng là trẫm hơi mỏi người nhưng không thể không đến Côn Sơn vì đã hứa với quan Hành khiển!” Lê Khả không hiểu được điều sâu kín trong lòng chủ. Nếu chỉ đi Côn Sơn, nếu chỉ thăm Nguyễn Trãi hay bất kỳ việc gì khác, nhà vua có thể không làm. Nhưng đây lại là ý đồ của ngài ngay từ khi hoạch định chuyến đi. Ngài đã hẹn với Thị Lộ: “Chuyến đi này nàng không thể cùng đi với ta. Vậy nàng hãy về nhà với Nguyễn Trãi. Xong việc, ta sẽ rẽ vào thăm thắng cảnh Côn Sơn, nhân thể đón nàng về.” Trong thâm tâm, ngài thật nhớ nàng, nỗi nhớ bâng khuâng day dứt. Không đêm nào ngài không nghĩ đến nàng. Nhớ dáng đi, nhớ lời nói, nhớ cơ thể trắng ngần đầy đặn, thơm tho, những cái vuốt ve, cái cách âu yếm của nàng mà không bà phi hay cung nữ nào có được. Những ngày qua nhà vua sống trong trạng thái lửng lơ như người bị hút mất hồn, chàng như người tương tư… Chàng mong cho xong công việc. Bây giờ công việc đã xong, những mệt nhọc như cũng tan đi, lòng vui hớn hở như con trẻ, chàng lên đường.


   Đầu giờ Tỵ đoàn thuyền ngự đến Côn Sơn. Thái tông cho hạ trại dưới chân núi, chỉ đem hơn hai chục người cùng ngài lên thăm nhà quan Hành khiển Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi, Thị Lộ cùng nàng Cẩm Vân quỳ trước cổng tiếp giá. Từ trên xe bước xuống, nhà vua nét mặt tươi cười nói lớn: “Trẫm miễn lễ, các khanh bình thân.” Khi Thị Lộ từ từ đứng lên, gặp ánh nhìn của Nguyên Long, nàng cúi vội xuống tránh né như người ta nhắm mắt lại trước tia chớp chói chang. Toàn thân nàng run rẩy… Chàng yêu ta đến vậy sao? Nàng thầm nghĩ. Chỉ một thoáng thôi, ánh mắt chàng nói lên tất cả. Một trời yêu thương, một trời khao khát! Chỉ xa mình chưa đầy một tháng mà chàng đã nhớ đến vậy? Nàng cảm thấy nóng bừng nơi má. Nàng e lệ nhìn quanh, bàng hoàng sung sướng. Việc này cũng xảy ra nhanh như một tia chớp. Nguyễn Trãi rước nhà vua vào nhà trong khi nàng thưa cùng các quan viên: “Đa tạ chư vị tới thăm tệ xá. Nhưng vì nhà cửa chật chội, cảm phiền chư vị ngồi ngoài rạp này, xơi cùng chúng tôi chén nước chè nhạt.” Gia nhân cùng với người của nội cung tiếp nước các vị khách. Nhà vua ngồi trên chiếc ghế cổ mặt đá hoa, khảm trai. Quan hầu đặt khay nước lên chiếc bàn cổ chân quỳ, mặt đá, chạm lộng giàn nho cùng những con sóc. Nguyễn Trãi lom khom đứng bên vua, thưa:


    - Tâu thánh thượng, đội ơn thánh thượng tới thăm lão thần. Tiếc là nhà cửa chật chội, không nghênh tiếp được như ý, xin thánh thượng miễn tội.


    - Đừng khách khí, Thái tông nói ôn tồn. Chính vì vậy trẫm đến thăm khanh để bày tỏ lòng quý trọng đối với một trong những đại công thần của trẫm. Khanh có biết khi bước vào sân, nhìn cơ nghiệp của khanh, trẫm nghĩ sao không?


  - Dạ bẩm, thần muốn được nghe ạ.


  - Trẫm vừa vui vừa không vui. Vui vì sao, không vui vì sao khanh biết không?


  - Thưa, thần muốn được biết ạ.


     - Không vui vì thấy một đại công thần thờ hai triều vua mà cảnh nhà sơ sài quá. Trẫm biết đó là tội của trẫm đã không cho khanh được cuộc sống như ý muốn! Trẫm buồn vì vậy. Trẫm lại vui vì một đại công thần thờ hai triều vua mà vui vẻ sống trong cảnh thanh bần. Điều này chứng tỏ tâm khanh sáng, lòng trung của khanh vằng vặc. Hết lòng vì việc nước mà không cầu cuộc sống hơn những gì vua có thể ban cho, đó là tấm gương của khanh treo giữa triều đình!


   - Đa tạ thánh thượng quá khen. Nhưng thưa, đó là nếp nhà của thần. Thần học từ cha thần là Nguyễn Phi Khanh và cũng học từ ông ngoại Trần Nguyên Đán. Cơ ngơi này cũng là của ông ngoại mà thần thừa hưởng…


   - Trẫm biết. Tới đây trẫm hiểu vì sao khanh gắn bó với nơi này. Phong cảnh hữu tình. Sau lưng là núi, trước mặt là cánh đồng cùng sông nước. Chính cái đẹp này là kho của vô tận.


   Theo sự điều khiển của bà Lộ, người nhà cùng quân hầu bưng ra những đĩa hồng xiêm, bưởi hồng đào, cam đường, chuối tiêu chín trứng cuốc mời nhà vua cùng mọi người thưởng thức… Ăn trái cây, uống chén chè ướp sen, nhà vua nói, cho trẫm thăm cơ ngơi của khanh…


    Nguyễn Trãi mời nhà vua thăm khoảng vườn rộng trồng nhiều loại cây quý. Ở cuối vườn là cái ao lớn, cầu ao xây bậc tam cấp, bên bờ là cái đình thưởng nguyệt và câu cá. Đến gần bụi chuối tiêu sum suê cây chuối uốn cong mang buồng quả mẩy da chớm vàng sắp chín, bà Lộ nói:


     - Bẩm hoàng thượng, quan Hành khiển ưa sống ở đây còn vì một lẽ, người rất muốn gần cây cỏ, người hiểu cuộc sống của cây cỏ để rồi làm thơ. Thần xin đọc bài thơ Cây chuối của Ức Trai kính hoàng thượng thưởng lãm. 


  - Khanh đọc đi, nhà vua khuyến khích.


  Cất giọng ấm áp nàng đọc:


      Tự bén hơi xuân tốt lại thêm


      Đầy buồng lạ, màu thâu đêm.


      Tình thư một bức phong còn kín.


      Gió nơi đâu gượng mở xem.


    Nhìn bụi chuối, ngước lên bầu trời xanh chói nắng lơ thơ những đám mây bông, nhà vua quay lại, chỉ tân khoa trạng nguyên Nguyễn Trực đứng cạnh ao, nói:


 - Quan Trạng, bình bài thơ giúp trẫm…


    Đến gần nhà vua, Nguyễn Trực thưa:


   - Bẩm bệ hạ, đây là bài thơ trong loại Môn hoa mộc. Ý quan lớn Hành khiển muốn nói rằng mùa xuân đem lại sức sống cho muôn vật mà ở đây là cây chuối. Một bụi chuối cây mẹ mang buồng, mấy cây chị dậy thì có nõn còn phong như bức tình thư đợi mở. Gió xuân đến nhẹ nhàng tình tứ muốn mở phong thư nhưng thật e lệ từ tốn nên mở một cách gượng nhẹ. Nhà thơ đưa biết bao tình người vào một thực vật vô tri vô giác là cây chuối!


   - Trẫm tuổi nhỏ sống ngoài dân dã nên quen thuộc với cây chuối nhưng chưa bao giờ nghĩ đến cái nõn chuối tầm thường lại là bức tình thư… Quả là Ưc Trai vừa tinh tế lại có tâm hồn trẻ nên đã thổi tình người vào cây cỏ vô tri như quan trạng vừa nói. Nhìn Thị Lộ, nhà vua tiếp: Quan lễ nghi học sĩ, khanh thấy thế nào?


   - Cảm ơn thoàng thượng quá khen nhưng thần xin thưa, cái tình thư nõn chuối ấy chẳng phải là của Ưc Trai phu quân thiếp nghĩ ra mà vì trong dân gian vốn đã có câu “thư lai tiêu diệp văn do lục”, có nghĩa là thư gửi đến viết trên lá chuối văn còn xanh…


   - Xin quan Lễ nghi học sĩ chớ quá khiêm nhường, Nguyễn Trực nói, thiếu gì những điều vẫn tồn tại trong dân gian nhưng khi đưa được vào thơ, đó lại là công của thi nhân, cái công lưu giữ những tinh hoa của cuộc sống cũng là công làm hay làm đẹp cho văn chương.


  - Chính hợp ý trẫm, nhà vua cười vui, hỏi Nguyễn Trãi vẫn im lặng đứng bên cạnh, khanh thấy sao?


  - Dạ, muôn tâu, thần cảm ơn bệ hạ cùng quan trạng ưu ái vần thơ quê mùa của thần. Đó là những vần thơ giúp thần di dưỡng tinh thần.


      Theo đường đi vừa được mở rộng, đoàn hộ giá men bờ suối, qua chiếc cầu mới bắc lên chùa. Trước cổng chùa là tấm bia đá lớn khắc ba chữ “Thanh Hư Động”. Nguyễn Trãi nói:


    - Tâu hoàng thượng, trước khi hồi hưu về kinh dinh ngôi cổ tự này, ngoại tổ của thần sửa sang tòa động, đặt tên là Động Thanh Hư làm chỗ lui nghỉ. Ba chữ Thanh Hư Động khắc ở mặt bia là bút tích của vua Duệ tông nhà Trần. Bài minh khắc vào lưng bia là ngự chế của vua Nghệ tông.


    Dẫn đầu đoàn người, nhà vua xem xét kỹ nét bút của vua Duệ tông sau đó cúi đọc bài minh, nét mặt trở nên tư lự. Không nói không rằng, người bước lên trước về phía ngôi chùa cổ. Đứng trước cửa tam quan, hòa thượng trụ trì Thiện Trai cùng mấy vị cao tăng mặc áo cà sa vàng ra nghênh giá. Đứng giữa sân chùa, dưới bóng mát cây đa cổ thụ, Nguyễn Trãi nói:


    - Muôn tâu, cảnh chùa này là một  danh thắng và cũng là một di tích lịch sử của Đại Việt ta. Tên chữ gọi là chùa Côn Sơn nhưng dân gian gọi nôm na là chùa Hun. Chùa được dựng từ thời Lý. Thời Trần các vua thường đến dâng hương. Đức Nhân tông sau khi xuất gia có đến đây nhập định. Kế tục người, thiền sư Pháp Loa trụ trì ở đây, xây am Hồ Thiên và Chân Lạp. Tiếp đó thiền sư Huyền Quang từ chùa Vân Yên đến trụ trì. Chùa được coi là một tổ đình của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Ngày hăm hai tháng Giêng ngài tịch, vua Minh tông tặng mười lạng vàng xây tháp thờ xá lỵ ngài ở lưng chừng núi. Ngày đó được lấy làm ngày Hội xuân Côn Sơn…Từ ngày được hoàng thượng giao chức Đề cử Côn Sơn tự, thần hết lòng cùng hòa thượng trụ trì và chư tăng phật tử lo chỉnh trang tu bổ cho cảnh chùa ngày một khang trang.


     - Nhìn cảnh chùa uy nghiêm đẹp đẽ như vầy, trẫm biết mình đã chọn đúng người để giao việc. Trẫm càng thấy việc khanh xin ở lại đây để trông coi hai đạo Đông Bắc là phải.


  Hòa thượng chủ trì dẫn nhà vua cùng đoàn tùy tùng vào thắp hương trong Phật đường. Cầm nén nhang do hòa thượng Thiện Trai dâng, Thái tông cắm trước bàn thờ Phật Di Đà Tam tôn, người cúi đầu lầm rầm khấn những gì không ai nghe rõ.


   Dâng hương xong đã sang giờ Ngọ, Đại đức Thiện Trai mời nhà vua cùng các vị đại quan dùng cơm chay. Bữa cơm chay đãi nhà vua cùng các quan triều hôm nay cũng là công trình của bà Lộ. Quả là khó cho nhà chùa khi phải khoản đãi những vị khách sang trọng này. Hòa thượng Thiện Trai băn khoăn lắm. Nhà chùa vốn là nơi kinh lịch nhưng trải nhiều năm loạn lạc, ở chốn sơn khê này không quen với những bữa tiệc đón khách quyền quý. Biết cái khó của nhà chùa, bà Lộ từ mấy hôm trước đã đề xuất một thực đơn sao cho thật giản dị gồm những món dân dã nhưng lại đẹp mắt và làm cho khách ngon miệng. Sau chặng đường dài rồi đi bộ mấy ngọn đồi, mọi người đều đói, gặp những món ăn lạ miệng ai cũng thấy thú vị và ăn ngon lành. Trong khi dùng trà, Thái tông nói với hòa thượng trụ trì:


      - Bạch hòa thượng, cơm chay của nhà chùa ăn ngon lắm. Quả nhân cũng muốn có lúc được thư nhàn như Đức Nhân tông xưa, giao việc nước lại rồi lên ẩn mình nơi cửa Phật, được ăn cơm chay như hôm nay…


      - Muôn tâu, tu hành tại miền sơn địa này, chúng tăng vốn sống giản dị, bữa thường rau dưa. Nay nhờ có quan Lễ nghi học sĩ chỉ bảo cho mới biết nấu những món hợp khẩu vị hoàng thượng cùng chư vị đại quan. Thấy hoàng thượng ăn ngon miệng lại ban lời khen, chúng tăng lấy làm cảm kích.


     Nghỉ trưa tại chùa sau đó nhà vua cùng đoàn hộ giá thăm cảnh chùa, đến nhà tổ thắp nhang trước tượng ba vị tổ dòng thiền Trúc Lâm cùng tượng Trần Nguyên Đán. Chiều, Nguyễn Trãi mời nhà vua cùng các quan lên thăm rừng tùng. Ngồi nghỉ chân bên bàn cờ tiên trên đỉnh núi, dưới bóng tùng rợp mát nhìn xuống dòng sông cùng làng mạc đồng ruộng xanh tươi như hoa như gấm mở ra trước mặt, trạng nguyên Nguyễn Trực thưa:


   - Tâu hoàng thượng, lần đầu được theo xa giá tới Côn Sơn, ngắm cảnh thanh u ở đây, vi thần chợt cảm khái nhớ tới bài thơ Côn Sơn ca tuyệt tác của quan Hành khiển, thần xin đọc hầu hoàng thượng cùng chư vị quan lớn thưởng thức. Nhà vua gật đầu:


    - Hay lắm, khanh đọc đi, gì bằng tận mắt nhìn cảnh đẹp lại được nghe thơ vịnh cảnh để thưởng thức tài thơ của thi nhân.


   Thấy nhà vua hào hứng, các quan vui vẻ tán đồng, quan tân trạng nguyên hắng giọng hào hứng đọc vang vang:


Côn Sơn có khe,


Tiếng nước chảy rì rầm,


Ta lấy làm đàn cầm.


Côn Sơn có đá,


Mưa xối rêu xanh đậm


Ta lấy làm chiếu thảm.


Trong núi có thông,


Muôn dặm rờn rờn biếc một vùng.


Ta tha hồ ngơi nghỉ  ở trong.


Trong rừng có trúc,


Nghìn mẫu in biếc lục.


Ta tha hồ ngâm nga bên gốc.


Ngươi sao còn chửa về đi!


Nửa đời bụi bậm hoài lăn lóc!


Muôn chung chín đỉnh có làm gì!


Nước lã cơm rau miễn tri túc,       


Ngươi chẳng thấy Đổng Trác ngọc vàng chất đầy  nhà?


Nguyên Tải hồ tiêu tám trăm hộc?


Lại chẳng thấy Bá Di với ThúcTề,


Thú Dương chết đói không ăn thóc?


Hiền ngu dù chẳng giống nhau đâu,


Cũng đều muốn thỏa lòng sở dục.


            Người đời trong trăm năm,


Rốt cuộc như thảo mộc.


Vui buồn lo sướng đổi thay nhau,


Một tươi một héo vẫn tương tục.


Cồn hoang lầu đẹp cũng ngẫu nhiên,


Chết rồi ai vinh với ai nhục?


Nhân gian nếu có bọn Sào Do,


Khuyên hãy nghe ta ca một khúc!


    Nghe Nguyễn Trực đọc xong, nhà vua nói:


    - Khanh đọc hay lắm. Nhưng thơ hay còn do người bình, phiền khanh hãy bình bài thơ ngay tại đây để trẫm cùng các quan thưởng thức.


    - Thần xin tuân chỉ. Bẩm hoàng thượng, người xưa thường nói: thơ không dễ lột tả được cảnh vật, còn người bình chưa dễ hiểu hết được ý nhà thơ. Nhìn Nguyễn Trãi bằng ánh mắt kính cẩn, Nguyễn Trực tiếp, tuy nông vụng nhưng thần cũng xin mạn phép Ức Trai bình bài thơ của tiên sinh. Nếu có điều gì chưa phải, xin tiên sinh chỉ giáo. Mười hai câu đầu, nhà thơ tả bốn cảnh Côn Sơn là suối là đá là tùng là trúc. Bốn cảnh đang bày ra trước mắt ta đây: suối chảy như tiếng đàn cầm, thạch bàn sau mưa sạch bong hóa thành chiếu nằm, bóng mát của tùng, màu xanh lục của trúc… Cảnh u nhã nơi quê nhà luôn gọi nhà thơ trở về. Phải là người hiểu và yêu lắm mới lột tả được thần thái của cảnh đến vậy. Đoạn sau là những suy nghĩ những dằn vặt của nhà thơ giữa ở và về, giữa xuất và xử. Dù biết tới tận cùng cái lý của được mất, giàu nghèo, vinh nhục thì toàn bài thơ vẫn toát lên tâm ý day dứt lo cho đời, chưa đành lòng về ở ẩn…


   - Đúng vậy, nhà vua nói lớn. Bài thơ là cả tấm lòng Ức Trai. Tuy có những gập ghềnh bất trắc trên đường đời, nhưng tấm lòng ưu thời mẫn thế lo cho dân cho nước vẫn canh cánh, không đành trí sĩ vui với cảnh sơn khê, nên khi trẫm vời, tuy tuổi đã cao nhưng vẫn hăng hái đảm nhận trọng trách, và như các khanh đã thấy, quan Hành khiển đã làm tốt chức phận. Tấm lòng như vậy thật quý, đáng trọng!


     Nguyễn Trãi thưa:


    - Đa tạ thánh thượng quá khen, vi thần thật chưa xứng với lòng ưu ái của thánh thượng.


 Sau một lúc trầm ngâm ngắm cảnh, nhà vua quay lại nói với mọi người:


-          Nhà Trần trong vòng một trăm bảy nhăm năm năm đã xây dựng Đại Việt thành quốc gia văn hiến. Nhà Lê ta, Tiên hoàng lấy nước từ trên yên ngựa, võ công thì lớn nhưng văn trị chưa nhiều. Biết rằng điều mấu chốt cho sự thịnh trị là đào tạo nhân tài, quả nhân đã ổn định khoa thi, cho lập bia tiến sĩ ở Văn Miếu… Mong rằng các khanh cùng trẫm chung tay xây dựng cơ đồ Đại Việt sao cho rực rỡ hơn cả triều đại Đông A!


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Thị Lộ. Tiểu thuyết lịch sử của Hà Văn Thùy. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
xem thêm »