tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20782920
Tiểu thuyết
19.02.2013
Hoài Anh
Chim gọi nắng

Đang nghĩ ngợi thì chị em trong khám đã ùa vào hỏi han săn sóc.


Một chị vừa lấy hộp dầu bóp chân cho Minh Khai vừa hỏi:


- Tụi nó tra tấn chị có đau lắm không?


Minh Khai mỉm cười:


- Ăn thua gì. Hồi tôi bị bắt ở Hồng Kông, tụi mật thám Anh còn làm dữ dội hơn thế này nhiều...


Một chị sửng sốt:


- Chị đã từng bị bắt ở Hồng Kông à? Nghe nói ông Nguyễn Ái Quốc sau khi bị bắt ở Hồng Kông, ông đã qua đời rồi phải không, chị?


Minh Khai trang nghiêm:


- Không! Đồng chí Nguyễn Ái Quốc vẫn sống!


Ba chữ “Nguyễn Ái Quốc” như lướt nhẹ trên cặp môi mọi người. Những đôi mắt dại đờ vì bị đày đọa lâu ngày trong tù, bỗng lấp lánh những tia sáng...


Ba Đạm ở Bà Điểm về thì hai em nhỏ khóc báo tin chị Năm Bắc đã bị bắt rồi. Cô sửng sốt rồi òa khóc. Khóc chán, đã mệt, lại hết cơm, đói thao thức hoài không ngủ được. Cô lấy tài liệu ra xem. Xem một lúc, vừa đem cất thì thấy bên ngoài có ánh đèn pin chiếu sáng rực chung quanh nhà , rồi có tiếng kêu mở cửa. Cô kéo chân hai em nhỏ đang ngủ bên ngoài. Tiếng kêu cửa thúc giục kèm theo những tiếng chửi. Cô biết động rồi, nhưng không mở không được. Vừa mở cửa ra, bọn lính kín rọi đèn thẳng vào mặt cô hỏi Quang:


- Có phải con này không?


Thấy Quang đáp phải, tên lính kín ấn vai cô ngồi xuống tại chỗ với Quang, anh ta lấy ngón tay viết lên bàn chân cô: “Chị Năm bị bắt rồi”.


Trong lúc ấn cô ngồi xuống chỗ Quang, chúng tung lính vào xét nhà. Chúng vác cái cà ròn đựng tài liệu và dụng cụ in, một cái rương lớn đựng tài liệu vừa in xong. Cô suy nghĩ, đồng chí mình bị tra tấn nhiều quá chịu không nổi nên đã dẫn giặc về bắt số đồng chí quan trọng khác, cơ quan bị xét có đủ tài liệu thế nào mình cũng bị tử hình. Thà chết trước để khỏi bị tra tấn, rủi mình không chịu nổi khai báo càng thêm tội lỗi. Nghĩ vậy, cô định khi lên xe, nhân lúc xe đang chạy sẽ nhào xuống đường tự tử. Nào ngờ, chúng như đã biết ý định của cô, chúng không chở trên xe thường mà đưa lên chiếc xe của thằng cò Ba-danh, đóng cửa bịt bùng. Ba-danh ngồi sẵn trong xe, lần đầu tiên cô thấy mặt nó, dù đã nghe tiếng từ lâu, nó là tên thù cộng sản có tiếng và là tên đồ tể ở bót Ca-ti-na.


Khi cô Ba Đạm được giải vào phòng hỏi cung thì thấy tên cò Ba-danh còng chị Minh Khai hai tay tréo ra sau lưng dính vào cây sắt đứng, chân xiềng vào cây sắt lớn, miệng cắn cây mây. Anh Tiến cũng bị còng như chị Minh Khai. Chúng đánh anh ghê lắm. Máu miệng anh còn đang chảy ra nhuộm chiếc áo trắng trên mình anh thành máu đỏ thẫm. Mặt anh sưng to, thoạt nhìn không còn biết là anh nữa.


Bọn mật thám đẩy cô lại bàn hỏi cung. Nó hỏi cô:


- Tên họ gì?


- Chiêm Thị Ngó.


- Làm nghề gì?


- Ở mướn cho bà Năm, đi chợ nấu ăn.


- Nói láo! Bọn bây toàn nói láo!


Nó nạt lớn tiếng, rồi nó bụm lỗ tai cô phía bên này, và vào lỗ tai phía bên kia mấy cái rồi tống xuống xà lim ở tạm với một chị lớn tuổi khác. Chị hỏi cô:


- Có phải cô bị bắt chung với chị Năm không?


Cô lắc đầu, vì chưa biết chị là ai. Cả đêm cô không chợp mắt, tự tử nhưng không được, chịu tra tấn đến chết thì đành rồi, nhưng phải khai làm sao cho đỡ tổn thương. Chớ như Quang thì tổn thất co Đảng biết ngần nào.


Chị ở chung kể cho cô nghe quang cảnh của bót Catina từ lúc nó bắt được chị Năm tới giờ. Chị cho cô biết chị cũng ở Sài Gòn, bị lộ nên ra Đà Lạt may mướn để đổi địa phương, nhưng chúng nó tìm ra bắt về cho người khai nhận mặt. Chị còn nói cho cô nghe những kinh nghiệm, khi khai thác chúng đánh trận đầu ghê lắm. Nếu chịu nổi thì các trận sau sẽ lơi đi rồi thời gian gần kết thúc nó cho một trận quyết liệt hơn, nếu không khai thì nó kết thúc. Còn nếu khai thì nó sẽ đánh hoài để khai thác thêm.


Sáng hôm sau nó bắt đầu hỏi cung cô. Cô cứ một mực khai là tôi ở mướn nấu cơm cho gia đình chị Năm và hai đứa em đó ăn thôi. Hai cậu thì khai mới ở tỉnh lên để nhờ xin việc làm kế bị bắt. Cô còn bị một số đồng chí ở Thủ Dầu Một bị bắt trước khai nên nó đem về cho nhìn mặt. Nó đòi cả ba cô lên xem có phải con ông không. Nếu ông nhận là con thì khỏi bị buộc tội là hoạt động lâu trên này, nhưng lại lòi vụ cô bị bắt ở Cần Thơ. Hỏi riết cũng không được gì, nên nó bắt đầu tra tấn cô. Tra tấn một cách dã man.


Nó lột hết quần áo cô, bắt đứng thẳng vào tường rồi kêu bè lũ đầu trâu mặt ngựa của chúng vào xem thân thể cô. Vừa xem vừa bình phẩm này nọ, cốt làm mình mắc cỡ mà khai. Xong nó dí điện vào hai đầu vú, rồi quay ma nhê tô bao giờ chết giấc mới gỡ ra. Tỉnh lại nó trói ngược hai tay treo lên xà nhà, rút lên, rút lên mãi đến lúc chỉ còn hai ngón chân cái đụng đất. Mình như lơ lửng giữa không trung, nghẹt thở, mắt hoa lên. Vậy mà lũ chúng nó xúm lại vừa đánh bằng cây mây vừa kêu cô nói:


- Mày xem chúng tao hàng chục đứa chuyên môn chỉ ăn rồi đánh và rút kinh nghiệm đánh thế nào cho thật đau, còn thân đàn bà con gái như mày chịu sao nổi. Đánh hôm nay không khai thì ngày mai đánh tiếp, không khai nữa thì cứ đánh hoài chịu không nổi đâu em. Thôi, khai sớm để còn sống mà có ngày về, nếu không thì chỉ còn con đường tử địa...


Khi cô chết giấc thì nó thả dây xuống bỏ nằm bẹp dưới đất. Đợi lúc tỉnh dậy, nó lôi bỏ vào xà lim. Cô nghĩ đến kinh nghiệm các anh chị cho biết nên cứ thế mà khai. Tuy nó đánh, tuy không tin, nhưng riết rồi nó cũng phải chịu chớ nếu mình hở ra chút gì thì nó sẽ nắm đó mà phăng tới là tổn thương đến các đồng chí khác. Và nếu nó đánh mình chết luôn thì càng hay.


Cô nghĩ, đây là cuộc thử thách cao nhất lòng trung thành đối với Đảng.


Nằm trong xà lim cô thấy trên tường có ghi mấy chữ:


Đừng nhận mà cũng đừng khai


Khai, nhận đều giúp quân thù!


Hai câu này không biết của ai viết, và viết từ lúc nào, nhưng rõ ràng nó đã tiếp sức cho cô vững vàng trong chịu đựng.


Một hôm, chúng đánh cô đủ các cực hình, đến lúc cô chết không biết gì nữa. Khi tỉnh lại, cô thấy mình mặc quần áo, nằm trên băng. Chúng đi đâu mất hết, chỉ còn thằng cò “Cát-xe” (tên này người Việt dân Tây) đứng đó. Thấy cô, tỉnh lại, nó kéo ghế bảo cô ngồi trước mặt nó, nói:


- Không có “qua”, chúng nó bỏ em nằm dưới đất thì chết luôn rồi. Thôi, khai đi, “qua” ăn kết nhẹ cho. Không khai thì cũng phải nhận, vì người ta khai cho em, đưa người về nhận mặt em rồi, không nhận thì làm sao ăn kết được.


Cô nói:


- Ông thương tôi nhờ, ông không thương tôi chịu. Người ta khai oan cho tôi. Tôi bị bắt, bị đánh đập chết lên chết xuống như vậy sau này họ phải chịu quả báo. Tôi không khai oan cho ai hết. Gia đình tôi sợ làm điều ác lắm.


Nó nhìn cô hồi lâu, rồi hỏi:


- Năm nay mấy tuổi?


- Dạ, hai mươi mốt:


- Con gái nhà quê, mới có hai mươi mốt tuổi mà dám làm những việc tày trời...


Nó kêu hai thằng lính đến xốc nách cô đè xuống xà lim, vì dưới gan hai bàn chân cô đã bị nó đánh nứt nẻ như trái dưa gang chín, các đầu ngón chân đều bị sứt móng. Thời gian ở bót Ca-ti-na không lúc nào cô đi được.


Đến ngày kết thúc cuộc tra khảo là đúng một tháng mười tám ngày. Chúng đưa cô qua Khám lớn. Qua đây có lần cô thấy mặt hai cậu nhỏ, nhưng chị Minh Khai và anh Tiến thì thì chẳng thấy đâu. Thì ra chị Minh Khai đã bị Pháp chuyển về khám Phú Mỹ.


Khám Phú Mỹ trước kia là một chuồng ngựa, nên có người gọi là khám Chuồng ngựa. Nằm trên phần đất rộng, bên bờ sông Thị Nghè, chung quanh có tường cao bao bọc, đối diện với Sở thú... Thực dân Pháp đã cho xây tường thêm và rào kiên cố lại để giam người. Khám chỉ có một cửa duy nhất, tường bịt từ trên xuống dưới không có cửa sổ hoặc lỗ thông hơi. Trên lợp tôn, vào mùa nắng ở trong khám như ở trong một lò nung, không đủ không khí để thở.


Khi Minh Khai vào, chị đã lãnh đạo chị em đấu tranh đòi làm cửa sổ để có không khí thở. Cuộc đấu tranh thật gay go, chị em phải tuyệt thực bốn ngày đêm. Sau cùng, chúng nhượng bộ, làm thêm mấy lỗ thông hơi trên cao, có che mành mành bằng sắt.


Chị đã tổ chức ở đây một nền nếp sinh hoạt có tổ chức, từ cách ăn, cách ở, mở ba lớp học, một lớp vỡ lòng, một lớp nâng cao và một lớp bồi dưỡng chính trị cho chị em.


Khi có chị em nào mới vào tù, chị hỏi thăm gia đình, nơi công tác, sức khỏe, đòn bộng. Chị cọ rửa cho chị em từng vết xây xát vì tra tấn, tắm gội cho chị em kể cả những người là nông dân, cách ăn cách mặc nền nếp sinh hoạt có phần tệ hơn những người khác. Chị an ủi, khích lệ và gây niềm tin sâu sắc trong chị em về con đường mình đang đi, dạy dỗ, chỉ bảo mọi điều mọi lẽ. Chị dặn dò những điều cần thiết đối với một người cộng sản khi phải sa vào tay giặc nhất là khí tiết cách mạng phải thể hiện như thế nào trước quân thù.


Trong một cuộc đấu tranh với giặc đòi cải thiện chế độ lao tù, giặc khám xét phòng giam, bắt được Bài ca nội chiến, kêu gọi binh biến, kêu gọi binh lính quay súng bắn lại quân thù. Chúng liền đem chị biệt giam, tách rời khu Phú Mỹ.


 


Ngày 27-8-1940, Pháp đưa những đồng chí bị bắt ra xử tại tòa án tiểu hình Sài Gòn. Sau đó một tuần ngày 3-9-1940 mới kết án 17 người, trong số đó đồng chí Nguyễn Văn Cừ, 5 năm tù, 10 năm quản thúc; Hà Huy Tập, 5 năm tù, 10 năm quản thúc; Lê Hồng Phong, 5 năm tù, 10 năm quản thúc; Lê Duẩn, 5 năm tù, 10 năm quản thúc. Các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy Tập... bị giam ở khám Lớn, còn Lê Hồng Phong, Lê Duẩn bị đưa ra Côn Đảo.


Trong cuộc họp cán bộ phổ biến nghị quyết hội nghị Xứ ủy tại ấp Xuân Thới Đông, chị Hai Sóc được đồng chí Giáo Hạnh, bí thư Thành ủy mới cho biết tình hình: Khi Nhật xúi giục Xiêm đánh lấn biên giới Lào - Miên, Pháp chuẩn bị đưa quân đi đánh Xiêm thì trong binh lính có phong trào chống lại lệnh chỉ huy bằng cách giả điên, tuyệt thực, lẻ tẻ nổ ra những cuộc binh biến, có một số đã bỏ chạy về hậu phương. Bọn Pháp đối phó bằng cách thi hành lệnh giới nghiêm, khóa chặt khí giới trong kho, áp dụng kỷ luật nhà binh thời chiến gắt gao làm cho tinh thần binh lính người Việt rất căng thẳng. Chúng còn thuyên chuyển, xáo trộn các đơn vị binh lính người Việt để làm rối loạn liên lạc của cơ sở ta trong đó, nhằm phá vỡ kế hoạch của ta. Trước tình hình đó, có một số đồng chí trong trại Ô Ma đưa tin ra yêu cầu phản chiến.


Cũng thời gian này, phong trào đấu tranh của quần chúng đang lên cao. Chỉ trong một tháng đã có công nhân mười hai xí nghiệp ở Sài Gòn bãi công. Hơn một ngàn nông dân, binh sĩ yêu nước kéo đến dinh Thống đốc Nam Kỳ đấu tranh buộc bọn thực dân Pháp phải tuyên bố thái độ của chúng là hòa hoãn hay chống phát xít. Ở nông thôn, những cuộc biểu tình chống bắt lính liên tiếp nổ ra. Có nơi bà con còn cướp súng lính địch, đánh tề làng, rượt đánh cò Tây, đuổi lính kín giải vây cho cán bộ chạy thoát...


Ngày 22-9-1940, phát xít Nhật cho quân vượt biên giới Việt Trung đánh vào Lang Sơn, đồng thời cho sáu ngàn quân theo đường biển đổ bộ lên Đồ Sơn. Sau vài trận thử sức, quân Pháp mau chóng đầu hàng Nhật. Ngày 27-9-1940, cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra.


Được cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn cổ vũ và thấy cần phải mau lẹ nắm lấy thời cơ, hội nghị Xứ ủy quyết định khởi nghĩa, chủ trương tích cực chuẩn bị mọi mặt và trao cho Thường vụ Xứ ủy quyền ban bố lịnh khởi nghĩa.


Chị Hai Sóc vội họp đội du kích xã Tân Thới Nhất để phân công nhiệm vụ. Nam được bầu làm đội trưởng và Sáu làm đội phó. Anh Ba lo vận động lò rèn đánh thêm giáo mác, gươm dao. Còn chị Ba được cử làm đội trưởng đội cứu thương và tiếp tế. Không khí chuẩn bị khởi nghĩa sôi sục, lò rèn đỏ lửa suốt ngày đêm. Lưỡi mác, cây giáo vừa đánh xong, bà con đã chặt tre đẽo gỗ còn tươi để tra cán. Vừa lúc ấy, cấp trên cũng cấp thêm cho được mấy khẩu súng mút, súng lửa. Thiếu khí giới nhiều người phải chặt tre làm gậy tầm vông. Lúc này mọi người mới nhớ đến câu hát ông bà truyền lại: “Thù này nhớ để còn lâu. Trồng tre làm gậy gặp đâu đánh què”, quả là chí lý.


Chuyện một số đồng chí lãnh đạo cao cấp bị bắt càng làm cho mọi người đau xót. Như lửa đổ thêm dầu, đội du kích chỉ chờ tới phút vùng lên giết hết giặc Pháp để trả thù cho những đồng chí, đồng bào sa vào tay giặc.


Và trong đêm vắng, đôi mắt già nhòa vì lệ của bà má Sáu chăm chú theo dõi từng mũi kim đính ngôi sao vàng trên nền vải đỏ, cũng cặm cụi như ngày nào má thức may vá quần áo giùm cô Năm Bắc. Giọt nước mắt rơi xuống mặt vải dầu loang rộng, nhưng lại khiến cho màu vải dường như tươi lên...


Chín giờ tối ngày 22-11-1910, đoàn du kích do Nam và Sáu dẫn đầu tiến về phía quận lỵ Hóc Môn. Gần năm chục người phần lớn là thanh niên, chỉ có năm súng mút và bảy súng lửa còn giáo mác, gậy gộc. Anh Ba ngoài cây rựa quéo còn cầm theo một ống loa làm bằng sắt thủng để kêu gọi binh lính địch. Chị Ba thì quảy quang gánh trong đựng vải bông băng, thuốc cầm máu còn đầu kia thì đựng cơm nắm, cá khô.


Cả đoàn cứ thẳng đường cái mà đi. Lúa mùa lên đã hơi cao, lá lúa phe phẩy như vẫy giục đoàn quân đi đi cướp đồn lấy quận. Phía trước mặt có ánh đèn pha rọi rồi một chiếc xe hơi tới kiểu Xi-tơ-rô-en màu trắng sữa, mui vải, giống con cóc chạy. Thằng Tây ngồi trên xe trông thấy đoàn người vũ trang biết có chuyện chẳng lành vội rút súng sáu bắn. Nhưng nó chưa kịp bóp cò, Nam đã nhào vô đánh văng khẩu súng đi. Một du kích dùng giáo đâm thằng Tây gục xuống. Anh em trèo lên xe khám xét thấy người tài xế ngồi nép vào thành xe mặt tái như gà cắt tiết, Nam giải thích:


- Chúng tôi là quân khởi nghĩa, chỉ diệt bọn thực dân đế quốc và phong kiến tay sai, không giết oan người vô tội... Anh cứ việc lái xe chở thằng Tây về trao trả cho gia đình nó và nói rằng vì nó chống chúng tôi nên chúng tôi phải xử tội.


Lục soát trên xe thấy một bao bạc, Nam nói:


- Bao bạc này cũng là của mồ hôi nước mắt của dân ta bị nó vơ vét, nhưng chúng tôi không thèm lấy, anh cứ mang về trả cho vợ con nó để vợ con nó hiểu rõ chánh nghĩa của quân cách mệnh.


Người tài xế lúc này mới hoàn hồn:


- Xin đội ơn các ông... Các ông tốt quá! Nếu phải người khác thì...


Nam vẫy tay cho chiếc xe đi rồi cả đoàn người lại tiến. Anh Ba làu bàu:


- Cứ tịch thâu số bạc chia cho dân nghèo có hơn không?


Nam nghiêm trang:


- Nếu lấy bó bạc tụi nó có thể vu cho ta là giết người để cướp của như vậy có ảnh hưởng không tốt. Ta làm cách mệnh là để đòi lại cả đất nước này bị tụi nó ăn cướp chớ một bó bạc thì có nhằm nhè gì...


Anh Ba nghe ra, gật gù:


- Chú mày nhỏ tuổi mà sắc nước đấy! Khá thiệt!


Đến Cầu Bông, thấy có bọn lính gác đứng lớ ngớ trên cầu, anh em xông vào cướp súng của chúng rồi đi thẳng xuống Hóc Môn. Cũng lúc đó, trước dinh quận đã đông nghịt những người toàn là du kích các xã bạn đã mượn cớ xem hát để tụ tập sẵn đó, bất thình lình xông thẳng vào đồn. Đồn Hóc Môn là một đồn lính có một trung đội lính khố xanh, tường gạch, nhà lầu. Vừa nghe báo động, tên phủ Thọ([1]) và một số lính rút vội lên tầng trên đóng cửa thang. Quân du kích vào đến trong đồn không làm sao lên tầng để bắt sống được phủ Thọ. Trong đoàn có đồng chí Dậy nghĩ cách leo bằng đường ống máng lên lầu. Bọn địch trên tầng lầu phát hiện ra bèn nổ súng. Đồng chí bị trúng đạn vào bụng rớt xuống. Bọn địch từ trên lầu được thể, liền xả súng vào đoàn người. Trận đánh xảy ra hết sức quyết liệt.


Đoàn của Nam tới gần dinh quận thì gặp toán lính đồn kéo về hướng Thạnh Phú. Thì ra bọn này trúng kế nghi binh của ta do một nữ đồng chí ở xã Tân Phú chạy vào đồn báo tin có cướp nên vội đi ứng cứu. Đoàn du kích liền xông vào giựt súng của bọn chúng. Tiếng hô: Xung phong! Xung phong! vang lên dậy đất.


Lúc đoàn vào tới dinh quận thì thấy đồng chí Dậy vừa từ trên ống máng rớt xuống đất. Chị Ba cùng một số chị em vội nâng đồng chí dậy băng bó vết thương nhưng máu ra nhiều quá, đồng chí đã tắt thở. Thấy đồng chí mình thiệt mạng, Nam chịu không nổi lại tiếp tục leo lên ống máng trèo lên đồn. Quần chúng ở ngoài cũng ào ào tiến vào, hàng vạn người hò la, đuốc đốt sáng rần rật. Tiếng trống mõ vang lên dồn dập. Trống đánh theo lối trống xuất quân giục quân, mõ đánh theo lối mõ máu, mõ lửa báo có án mạng có đám cháy. Anh Ba giơ ống loa lên gào to:


- Bớ phủ Thọ cùng binh lính trong đồn mau ra hàng thì khỏi chết!


Có người bàn:


- Hay ta chất rơm đốt lửa tất phủ Thọ phải ra.


Sáu gạt đi:


- Không được. Nếu đốt thì có khi cả anh Nam cũng chết cháy mất...


Từ lúc trước, phủ Thọ đã gọi được điện cho đồn Thủ Dầu Một và Bà Chiểu kéo tới ứng cứu. Lúc Nam trèo lên gần tới tầng lầu thì quân tiếp viện ở Bà Chiểu đã kịp tới. Bọn lính trong đồn cũng được thể chống trả lại. Nam bị kẹt giữa hai gọng kìm, anh vẫn xông vào chiến đấu đến phút cuối cùng mới chịu rút lui. Trước khi trèo xuống khỏi tầng lầu, anh còn kịp cắm được lá cờ đỏ sao vàng trên tháp cao ở nóc đồn.


Vào lúc bốn giờ sáng, quần chúng rút khỏi thị trấn phân tán về các xã còn quân khởi nghĩa thì rút lên Truông Mít.


Lá cờ đỏ sao vàng bay trên nóc đồn như một vầng mặt trời mọc sớm.


Đoàn du kích vừa đi vừa dùng giáo mác chặt đứt hết dây thép để cắt đường thông tin liên lạc của địch. Đi được một quãng thì bọn địch từ Thủ Dầu Một vừa kéo tới, đuổi theo. Chị Ba đi sau cùng quang gánh cồng kềnh nên bị chúng đuổi kịp. Chúng bao vây lấy chị. Chị đặt gánh xuống dùng đòn gánh phang tới tấp, bọn địch phải giạt ra không dám xông vào bắt sống chị. Cuối cùng chúng phải đưa dây thừng giăng ngang dọc dưới chân, bọn khác ùa tới đánh bổ phía trước khiến chị buộc phải đỡ rồi vướng chân bị té. Chúng bắt chị trói lại rồi giải đi. Chị hiên ngang đi giữa bọn lính Tây súng ống lăm lăm, không chút nào sợ hãi.


Trong Khám lớn Sài Gòn có một khám phụ nữ giam lẫn tù chính trị với tù thường. Khám dài ước ba mươi thước, ngang khoảng mười lăm thước. Ở giữa có hai hàng song sắt chạy theo bề dọc, cách nhau độ hai thước. Khoảng hẹp ấy là đường từ cửa ngoài vào. Hai bên là hai cái khám, trong mỗi khám có hai cái sập nghiêng chạy theo bề dọc dựa tường, dưới nền tráng át-pha-te (thứ nhựa tráng đường), song sắt có cửa sắt khóa bằng sợi dây xiềng sắt và ống khóa to. Tường, dưới chân sơn đen lên đến ngang đầu, trên cao mút có trổ nhiều cửa sổ, nhốt trong song sắt và mành mành sắt. Những lúc trời nóng nực, cửa sổ ấy không đủ thoáng không khí. Những lúc trời u ám cửa sổ ấy không đủ lọt ánh sáng mặt trời.


Phía trước có lỗ cửa, vuông mỗi bề độ hai tấc, có mành mành sắt bịt, rồi lại có dóng sắt, đặt tréo theo đường bằng góc, chặn mành mành. Lỗ cửa này để cho lính coi ngục dòm trong khám canh chừng tù, sợ đánh lộn hoặc phá khám.


Bên ngoài có lu nước, dựa hai bên song sắt cho tù nhân uống. Cầu tiêu làm lọt vào trong vách tường, nhưng vẫn lên mùi hôi thối nồng nặc.


Minh Khai cùng các chị em tù ngồi từng hàng trên mặt sàn xi măng ẩm thấp. Đang giờ học Quốc ngữ do Tù nhân hội tổ chức. Minh Khai đọc rõ từng chữ một:


- V... i... ê...t... Viết... nặng... Việt...


Chị em tù nắn nót viết từng chữ một. Que là bút, nước xà bông là mực, nền khám là giấy. Viết xong, từng cặp mắt ngước lên chờ đợi. Minh Khai nói tiếp:


- Các chị ghép chữ Việt với chữ Nam học bữa trước coi...


Chị em lại cắm cúi viết. Những chữ Việt Nam hiện dần trên nền nhà lao tối tăm lạnh lẽo.


Mấy đứa trẻ con của một số chị em mang theo vào trong tù đang chạy lon ton dọc theo hai hàng song sắt, đứa nào đứa ấy gầy còm, nhem nhuốc. Chúng áp mặt vào song sắt nhìn ra rặng đu đủ ở đằng xa xà lim. Những cái mũi non nớt bẹp gí đi. Chúng nuốt nước bọt nhìn những con chim sẻ rỉa đu đủ chín ăn.


Minh Khai nhìn theo các cháu đầy vẻ thương cảm:


- Tội nghiệp! Chúng nó không có tội gì mà đã phải ở tù. Các chị à, còn đế quốc thì không những đời mình đã khổ mà đời con đời cháu mình cũng không hòng mở mặt được.


Một chị hỏi:


- Chị Năm đã có cháu chưa?


Minh Khai lặng đi một lát mới nói được:


- Có rồi chị ạ.


- Sao chị không mang vô đây luôn cho vui...


Minh Khai thấm nước mắt:


- Tôi đã đem gởi cháu đi từ khi cháu mới sanh kia chị à...


Một chị trầm trồ:


- Các chị tù quốc sự gan thiệt đó! Tụi tôi có con cứ phải mang theo bên mình, không thể nào mà rời ra được...


Minh Khai giọng thấm thía, nhìn về phía các cháu:


- Tôi gởi cháu đi làm cách mệnh để cho cái cảnh thương tâm kia không bao giờ còn diễn ra nữa các chị à...


Một lính gác khám xách tai một đứa nhỏ lôi xềnh xệch vào. Đứa nhỏ khóc, Minh Khai vội ôm lấy nó, rồi hỏi người lính gác:


- Sao ông nỡ hành hạ một đứa nhỏ như vậy?


Người lính lúng túng:


- Tôi sợ ông cò la tụi nó chạy nhảy huyên náo, làm mất trật tự...


- Ở nhà ông đã có cháu chưa?


Người lính gác bị bất ngờ, ấp úng:


- Tôi cũng có một thằng nhỏ bốn tuổi...


Minh Khai giọng tình cảm:


- Nếu như con ông thèm ăn đu đủ mà không được ăn, ông có thấy đau lòng không? Ông cứ nhìn mà coi, trẻ con thèm đu đủ mà không được ăn, trong khi đó thì chim tha hồ rỉa. Lẽ ra các ông cũng nên đuổi chim đi lấy đu đủ cho trẻ ăn mới phải chớ...


- Vâng... bà nói đúng lắm...


- Ông có thấy cảnh đời cũng không khác gì cảnh vừa diễn ra trước mắt hay không? Kẻ ăn không hết người lần chẳng ra... Ở nhà ông có đủ ruộng cày cấy không?


- Tôi hả? Nhà tôi phải mướn ruộng mần, cực khổ quanh năm mà vẫn không đủ lúa nộp tô chủ ruộng, cực chẳng đã mới phải đăng lính đó chớ!


- Đó ông coi, tụi chủ ruộng nó có biết thương dân nghèo tụi mình đâu. Các ông có đi thưa thì nó kêu làng lính tới bắt các ông nhốt vô tù. Có phải nếu các ông chống lại tụi nó thì cũng vào hoàn cảnh như chúng tôi không? Cùng cảnh nghèo sao không biết thương nhau mà còn tiếp tay cho tụi nó hiếp đáp bà con. Không hiểu bụng dạ các ông thế nào mà lại vụng suy nghĩ như vậy.


Người lính gác xúc động trước những lời lẽ vừa đúng vừa đầy tình cảm của Minh Khai. Anh ta lau mồ hôi trán:


- Bà nói đúng. Trước đây tôi không hiểu vì sao bà lại có gan chịu đòn. Bây giờ tôi mới hiểu vì nghĩ đến cảnh khổ của người khác nên bà mới có thể quên mình như vậy... Bữa nay mắt tôi đã sáng ra nhiều... Cám ơn bà...


Minh Khai nhẹ nhàng:


- Ông không phải cám ơn tôi... Vì tôi cũng từng được người khác mở mắt cho, ông ạ.


Lúc này những đứa trẻ đã ngồi nép vào lòng mẹ chúng. Chúng tròn mắt ngạc nhiên trước nét mặt thay đổi của người lính gác trước đó hung dữ mà giờ đầy vẻ ăn năn...


(còn tiếp)


Nguồn: Chim gọi nắng. Quyển 16 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info







([1]) Còn gi là qun Do vì chân nó đi do d.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
xem thêm »