tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18413161
04.12.2008
Nhiều tác giả
Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp (3)

II. Các phong trào chống đối triều Nguyễn.


Sau chiến thắng lẫy lừng, đánh tan 20 vạn quân Thanh năm 1789, vãn hồi trật tự toàn miền Trung, miền Bắc, vua Quang Trung đang bắt tay vào việc chiếm lại Nam Bộ thì đột ngột qua đơi năm 1792. Thiếu người đủ tài năng hướng sức mạnh vào việc ổn định và phát triển, thì những bất đồng nội bộ có cơ hội nảy sinh, nhà Tây Sơn bắt đầu suy yếu. Để rồi chưa đầy 9 năm sau khi Quang Trung qua đời, nhà Tây Sơn bị sụp đổ hoàn toàn.


Nhà Tây Sơn có một số chương trình cải cách, hấp dẫn nhiều người, trong đó có giới sĩ phu, những người ưu thời mẫn thế, nhất là giới trẻ, nhưng khi Trương Đăng Quế đến tuổi trưởng thành thì cái chế độ lý tưởng ấy đã trở thành quá khứ mất rồi, chỉ tồn tại qua lời kể của các bậc cha anh, qua những câu chuyện như cổ tích. Ai nghe cũng thích, nhưng chẳng thấy một ai giương ngọn cờ cách tân. Hóa ra bậc anh hùng cái thế chỉ mỗi một Quang Trung. Thiếu bậc anh hùng ấy, thì ai nấy như gà mắc tóc, tan hàng rã ngũ, lo chạy tháo thân dưới sự truy đuổi tàn sát của Nguyễn Ánh.


Nói nhà Tây Sơn cách tân, tức là nói vua Quang Trung phán truyền các chỉ thị mang tính cách tân, chứ chẳng phải có lý luận, có chương trình, kế sách cụ thể như ngày nay. Vua kế nghiệp bất tài thì sự nghiệp cải cách khó lòng duy trì và cỗ máy phong kiến nặng nề vẫn cứ lăn bánh theo lối mòn của cả ngàn năm tồn tại. Nhà Tây Sơn lóe sáng qua hình ảnh một anh tài cái thế Quang Trung. Sau hai trăm năm phân tranh loạn lạc, đã hun đúc cho đất nước một nhân tài cứu dân rực sáng. Bất hạnh thay cái hình ảnh vĩ đại là niềm hy vọng của dân tộc, đã tắt đi nhanh quá. Thật sự, những người kế thừa vua Quang Trung đã không gây được chút ấn tượng nào về việc duy trì và phát triển một chương trình cải cách sáng suốt, đi trước thời đại của người lãnh đạo văn võ toàn tài. Suốt thời nhà Nguyễn, có nhiều cuộc nổi dậy chống lại triều đình, nhưng trong đó không nổi rõ vai trò lãnh đạo của nhà Tây Sơn. Hoặc là nhà Tây Sơn quá ngắn ngủi, chưa tạo được chỗ đứng trong lòng giới sĩ phu phong kiến và trong nhân dân, hoặc là những lãnh tụ khởi binh chống triều đình không có chương trình cải cách nào hợp với nhân tâm, nên dễ dàng bị quân triều đình tiêu diệt khi vừa mới dấy lên. Các phong trào chống đối triều đình đã không thể hiện điều gì mới mẻ hơn triều Nguyễn, mà loanh quanh ở mấy chiêu bài phò Lê, chống quan lại địa phương nhũng nhiễu.


Thực ra cả thời nhà Nguyễn không bao giờ yên ổn, nhất là từ thời Minh Mạng. Minh Mạng mới lên ngôi, xảy ra cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành (1821), và Vũ Đức Cát vùng Sơn Nam (Nam Định), thanh thế lan đến Hải Dương. Sáu năm sau, Nguyễn Công Trứ dẹp yên. Lê Duy Lương lấy danh nghĩa nhà Lê, thừa lúc nhân tâm bất mãn, liên kết với các tù trưởng Mường ở Hòa Bình nổi lên năm 1831, đến năm 1833 thì tan. Lê Văn Khôi được sự ủng hộ của nông dân nghèo và bị một số cha cố Thiên Chúa giáo lợi dụng, nổi lên năm 1833, khiến cho quân Xiêm thừa cơ phá phách Hà Tiên, Châu Đốc, đến năm 1835 thì sự biến Lê Văn Khôi bị thất bại hoàn toàn. Trong đời Tự Đức, có giặc châu chấu là lớn nhất. Năm 1854, vùng Sơn Tây, Bắc Ninh, châu chấu phá hại mùa màng, nhân dân đói khổ, nhà nho Cao Bá Quát, thừa cơ hội, phù Lê Duy Cự nổi lên chống triều đình, dân nghèo đói theo rất đông. Đến năm 1855 thì Cao Bá Quát bị bắt, cuộc nổi dậy cũng chấm dứt.


“Tạ Văn Phụng là con chiên đạo Thiên chúa được đào tạo ở Malaysia, liên kết với lực lượng phương Tây qua các tu sĩ Thiên Chúa giáo, lợi dụng tình trạng đói khổ của nhân dân để chiêu mộ tín đồ, quấy rối miền Bắc mà yểm hộ cho cuộc xâm lược ở miền Nam”.(1)


 Tạ Văn Phụng hứa sẽ biến cả nước ta thành nước Thiên Chúa giáo, nếu giúp cho Phụng chiến thắng. Đó là một thủ đoạn tìm kiếm sự liên minh với một lực lượng có vũ khí mạnh, tuyệt không thể hiện điều nào mang tính tư tưởng. Các phong trào chống đối triều Nguyễn không thể sánh được phong trào do người anh hùng kiệt xuất Quang Trung lãnh đạo. Các nhà tư tưởng lỗi lạc về đổi mới thời bấy giờ như Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện, đều trình bày chương trình đổi mới đất nước với triều Nguyễn, dù không được triều đình nghe theo. Nhìn theo chiều nào thì đều phải công nhận rằng giới sĩ phu thời nhà Nguyễn, về mặt chính danh, chữ trung đặt vào cái triều đình chính thống là triều Nguyễn.


III. Thuyết Chính danh và đạo lý xuất, xử


“Các nhà khoa bảng của ta, được nhồi nắn theo lý lẽ của Khổng Tử, biết đặt mình vào vị trí của tác giả để hiểu (cứ cho rằng các ông ấy có đủ khả năng để hiểu, thực ra nhiều người trong số họ không hiểu). Các nhà Nho của ta lại muốn Khổng hóa tất cả những gì rơi vào tay họ, họ muốn biến mọi thứ theo tư duy hẹp hòi”(1).


Cuối thế kỷ 19 là thời kỳ hắc ám nhất trong lịch sử cách mạng vũ trang chống Pháp của ta, các cuộc khởi nghĩa nối nhau tan rã gần hết. Năm 1887, Mai Xuân Thưởng bị bắt. Năm 1895, Phan Đình Phùng bị bệnh lị và mất ở Hà Tĩnh, phong trào cũng tan rã sau đó không lâu. Năm 1897, Nguyễn Thiện Thuật phải chạy trốn qua Trung Hoa nương thân nhà Lưu Vĩnh Phúc, phong trào Bãi Sậy cũng im tiếng. Đề Thám còn lực lượng, nhưng phải tạm giảng hòa với Pháp, cố thủ chiến khu Nhã Nam.


Nhưng sáu năm sau, năm 1897, một cuộc vận động khởi nghĩa qui mô khá lớn đã manh nha, do cụ Phan Bội Châu chủ mưu. Chủ trương khởi nghĩa lần này hơi khác các nhà cách mạng trước, không tự lực hoạt động trong một khu vực mà muốn thống nhất các hoạt động rời rạc, gây phong trào bao trùm khắp cả nước, tạo sự hưởng ứng trong toàn dân và sự viện trợ của nước ngoài, lúc đó là Nhật Bản. Cụ soạn sách “Lưu Cầu huyết lệ tân thơ ” (khoảng năm 1903-1904) để tả cái nhục mất nước và tuyên bố phải “mở mang dân khí làm nền tảng cứu quốc”. Liền sau đó, ba cụ Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp vào khuấy động trường thi Hương ở Bình Định với hai dự thi, bài phú “Danh ngọc lương sơn” và bài thơ “Chí thành thông thánh” đả phá kịch liệt cái học và thi theo kiểu cũ, kích thích duy tân, tiếp cận cái học cái hành mới. Ba cụ tổ chức những cuộc nói chuyện, các lớp tân học để đả đảo khoa cử, bài trừ hủ tục, hô hào cắt tóc ngắn... Các cụ còn tiến tới việc mở công ty kinh doanh.


Nhưng, phải đợi đến khi Đông Kinh Nghĩa thục ra đời năm 1907 thì mới thật sự áp dụng lối học mới. Lối dạy cốt đào tạo những người có sáng kiến, có óc thực tế, ngược hẳn với lối huấn hỗ, lối “Tử viết, Thi vân”, lối bảo thủ của nhà Nho(1).


Một bài nghị luận viết năm 1904 về “Văn minh tân học sách”(2):


“ Tưởng nên đón thầy giỏi, chọn người khéo tay, nhanh trí khôn để cho vào học, rồi triều đình thường săn sóc mà dạy dỗ họ. Lại hạ lệnh khắp nước hễ ai học được kiểu mới, chế được đồ mới thì cũng theo lối Âu châu cấp cho bằng khen làm lưu chiểu, thưởng cho phẩm hàm để ngợi khen họ, cấp lương bổng để khen thưởng họ, cho giữ quyền sáng tạo để hậu đãi họ. Những ai giỏi về khoa học cách trí, cơ khí học, hóa học thì làm cho họ được vẻ vang sang trọng hơn những người đỗ đại khoa...”.


“ Cho phép học trò bàn bạc tha hồ, đối đáp tự do, không phải nề hà, không cần thể cách nào hết. Rồi thêm vào đó, mấy bài về toán pháp, về chữ Quốc ngữ, để cho cái mà học sinh học và thi không trái với công việc thực tế họ phải làm, như thế thì cũng là tàm tạm đúng vậy ” (3).


Cái học và thi cũ thật quá lỗi thời trước thế giới thay đổi, trước sức bành trướng mãnh liệt của văn minh và sức mạnh vật chất phương Tây. Cụ Dương Bá Trạc nổi tiếng học giỏi, 17 tuổi thi đậu Cử nhân Hán học, nhưng nhận thấy cái hủ bại của cổ học, nên hô hào cái học thực nghiệp để cứu quốc. Gặp bạn nào còn ham tập văn khoa cử, cụ bảo: “Anh còn muốn cái cử nhân ư? Này, tôi bán cho anh, một xu thôi” (1).


Chữ hiếu, chữ trung là nội dung chủ yếu của các sách ấy, được các thầy đồ bồi dưỡng cho học trò rất kỹ. Hiếu với cha mẹ, ông bà, tổ tiên thì rõ rồi, nhưng trung là trung như thế nào đây? Nhà Nho bảo trung với vua là trung với nước.


Tất cả 29 tỉnh đều trực tiếp với triều đình, với vua. Ở vùng núi, triều đình còn giao chức tri châu cho các tù trưởng, nhưng chế độ “lưu quan” kiểm soát các tri châu rất chặc chẽ. Cả bộ máy nhà nước tập trung vào một mối. Điều này thực tế là một bước tiến về mặt quốc gia.


Sự tập trung cao độ về quyền hành cai trị này không phải không có liên quan gì với sự “thống nhất ý thức” bằng Nho giáo được tôn làm quốc giáo, quốc giáo độc tôn, tuyên dương Nhân trị, Đức trị(2).


TÍNH CÁCH CON NGƯỜI TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ


Người xưa bảo “Cái quan định luận”, khi đã đậy nắp quan tài thì mới có thể nhận xét đúng sai, công tội của người ấy. Trương Đăng Quế đã yên nghỉ từ năm 1865, hơn một trăm năm rồi, biết bao nhiêu nhận xét, người khen thì nhiều, nhưng lời chê cũng có, mà lời chê đa số là của người nước ngoài, của phe xâm lược.


Các cha cố theo phe Lê Văn Khôi và phe Hồng Bảo, nhất định phải nặng lời với Trương Đăng Quế, vị quan cố mệnh lương thần một lòng trung trinh với Minh Mệnh và Tự Đức. Lê Văn Khôi gây nên sự biến ở Nam Kỳ, vận động mọi lực lượng chống lại triều đình, trong đó có việc tranh thủ và hứa hẹn với lực lượng Thiên Chúa giáo. Khôi đã được họ hưởng ứng đi theo để mong lập một quốc gia tự trị Nam Kỳ, được tự do truyền đạo. Hồng Bảo cũng vậy, ông muốn giành lại ngôi vua mà ông cho đáng lẽ là của ông, nên ông đã nhắm vào lực lượng Thiên Chúa giáo đang bị cấm ngặt, cũng âm thầm chống đối triều đình quyết liệt.


Những người Thiên Chúa giáo bấy giờ nghe theo Lê Văn Khôi và Hồng Bảo là những người trí lự hạn chế, chính cha Pellerin đã sáng suốt cấm họ nhúng tay vào chuyện chính trị nội bộ của triều đình, nên nhận định khen chê của họ cũng chỉ hạn hẹp trong những việc linh tinh, nhỏ lẻ.


 Đô đốc Bonard, kẻ cầm đầu cuộc đàn áp nghĩa quân Trương Định thì làm sao ưa được Trương Đăng Quế, kẻ đối đầu nặng ký nhất trong triều đình mà Bonard cho là đang ám trợ Trương Định trong mưu đồ không công nhận hòa ước Nhâm Tuất 1862. Vì thế, Bornard đã hằn học gán cho Trương Đăng Quế cái tội là khắc nghiệt với người nước ngoài theo quan điểm của một tên thực dân võ biền. Gần đây, sử gia người Nhật trẻ tuổi Tsuboi viết luận án tiến sĩ đề tài về Việt Nam mà chủ yếu kê cứu tài liệu của phái Thiên Chúa giáo lúc bấy giờ đang bị triều đình đàn áp và tài liệu của chính quân xâm lược Pháp, nên không thoát được cách nghĩ của họ, để rồi đưa ra những nhận định thiếu công bằng.


Còn bên khen Trương Đăng Quế, quan trọng nhất là những người cùng thời với ông. Các quan đại thần Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản... kể cả các vua Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức và các quan đại thần các bộ. Còn những học giả Tây học về sau này, không có điều kiện nắm được vấn đề một cách toàn diện, cụ thể là họ không thông thạo Hán Nôm, nên lời khen cũng không thể mang tính xác thực cao. Đến như người được đào tạo chính qui tại Pháp, đậu Cử nhân Văn chương như Nguyễn Thiệu Lâu thấy Trương Đăng Quế được thờ ở Thế miếu, mà cất công truy tìm ở ngay kinh đô Huế không thấy tài liệu về công trạng của ông. Thế miếu là ngôi nhà thờ ở trong thành nội Huế, có chín cái đỉnh trước sân được đúc năm 1835 (Minh Mệnh năm thứ 16) để ghi công và thờ tự những vị đã có công to với triều Nguyễn.


Ngày nay, nhiều tư liệu lịch sử đã được các bậc tiền nhân dịch các tài liệu Hán Nôm, tiếng Pháp, ra chữ Quốc ngữ cũng như nhiều bài viết có giá trị khoa học về nhân vật lịch sử Trương Đăng Quế, có thể tạm cho là đủ để nói lên tiếng nói công bằng, hướng đến tính khách quan Lịch sử mà thường tình trong những giai đoạn nhất định người ta chưa chú ý đến. Trong đó quan trọng nhất là bộ Đại Nam thực lục 10 tập đồ sộ của nhà xuất bản Giáo Dục, và gần đây, tập “Thơ Trương Đăng Quế” của nhà xuất bản Phương Đông, dịch lại toàn tập Trương Quảng Khê tiên sinh tập, một di cảo hiếm hoi của Trương Đăng Quế do Tùng Thiện vương Miên Thẩm biên tập cho khắc in năm 1858.


Sau đây là một số nhận định về tính cách con người Trương Đăng Quế đã được nhiều người đề cập:


1. TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ LÀ NGƯỜI TRUNG THÀNH VỚI TRIỀU NGUYỄN.


Hai lần ông được vua lúc lâm chung gởi gắm việc quan trọng nhất của triều đình là việc người nối ngôi lên làm vua.


Vua Minh Mệnh cầm tay con là Trường Khánh Công (sau này là vua Thiệu Trị) trối trăn:


“ Trương Đăng Quế thờ ta đến nay là 21 năm, trọn đạo làm tôi, một lòng công trung, bày mưu dưới trướng, ra sức giúp việc ngoài biên, thực là một người công thần kỳ cựu của Triều đình...”.


Đại Nam thực lục, tập 5, tr. 889


Vua Thiệu Trị thì nói với Hồng Nhậm:


“ Vả lại, ngự ban cho cố mệnh lương thần, Thái bảo, Tuy Thạnh bá Trương Đăng Quế, trước kia vâng cố mệnh của tiên đế khi gần thăng hà để lại, cùng ta trù tính việc biên cương, rồi thành tựu được võ công, giúp rập đức tốt, thực không phụ ơn tri ngộ. Vậy cho khắc vào vàng cỗ súng thứ nhất”.


Đại Nam thực lục, tập 6, tr. 1040-1041


Vua Tự Đức tâm sự với Trương Đăng Quế khi ông xin về hưu lần thứ tư:


“ Trẫm đương tuổi nhỏ, kiến thức còn ít, mọi việc chưa quen, nên muốn dùng người cũ để giúp trẫm những điều trẫm không nghĩ tới được. Từ trước đến nay, phàm khanh có dâng điều hay, can điều trái, không điều gì mà trẫm không nghe theo, khanh còn ngại ngùng gì mà nỡ phụ lòng trẫm...”.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 405-406


Các vua Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức lên ngôi thì chuyện Tây Sơn đã lùi xa rồi.


Nước ta thời đó lại được mở rộng hơn lúc nào hết, Cao Miên đã thành Trấn Tây thành, tuy có vua Chân Lạp trị vì.


Vùng đất Lào tây Thanh Hóa đã thành tỉnh Trấn Ninh thuộc Việt Nam năm 1827. Lại có đất Chiêm Động và Lạc Phàn cũng xin thuộc về Việt Nam. Triều đình chia những đất ấy ra làm Trấn Tĩnh phủ và Lạc Biên phủ.


Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, tr. 496


Kể từ triều Minh Mạng, trải qua triều Thiệu Trị cho đến những năm đầu triều Tự Đức, nhà nước Việt Nam trong thế đi lên, trở thành một quốc gia hùng cường trên bán đảo Đông Dương.


Đó cũng là thời kỳ Trương Đăng Quế trưởng thành và được tham chính ngày càng sâu vào cái triều đình hùng mạnh ấy. Thử hỏi, một người đã gắn bó với triều đình, ngày càng được trọng dụng thăng quan tiến chức thì lẽ nào người ấy lại không dốc lòng vun đắp cho cái triều đình đã coi trọng mình. Mặt khác, trong thời của mình, Trương Đăng Quế chứng kiến một triều đình ngày càng tỏ ra có hiệu quả, có những ông vua có học thức cao, tự tay ra đề thi và chấm quyển thi Đình, lại được đông đảo nhân tài trong nước ủng hộ, thì lẽ nào ông không một lòng một dạ phò tá cái triều đình lý tưởng theo mô hình Nho giáo mà ông đã được đào tạo và tôn thờ.


Trong tập thơ Trương Quảng Khê tiên sinh tập, Trương Đăng Quế thể hiện sự tôn thờ lý tưởng nhà Nho của mình:


TẾ THU VĂN MIẾU


Đức giáo lưu thiên cổ


Tượng đài suốt xưa nay(1)


Quan trường dường nguội lạnh


Miếu mạo càng thâm uyên


Thành tâm dâng cỗ cúng,


Kính cẩn lễ ơn thầy


Phò vua lo trị nước,


Lòng son, kẻ mọn nầy.


Thơ Trương Đăng Quế, sđd, tr. 335


ĐƯỢC PHÉP VỀ QUÊ


Vua tôi tình nghiã cũng là lâu


Già yếu xin về, dám phụ đâu!


Báo quốc một lòng soi bóng nguyệt


Ưu dân bao nỗi bạc thêm đầu


Ơn vua suốt kiếp thân nhuần gội


Lộc nước bảy đời tộc thấm sâu


Bắt chước ngày xưa lời chúc tụng


“Tam Đa” phong nhã thuộc làu làu.


Thơ Trương Đăng Quế, sđd, tr.100


CẦU ĐƯỢC MÙA


*Bài 1


Trăm nghĩ ngàn lo luôn trước dân


Mong cho đồng ruộng cỏ đừng lan


Sâu rầy diệt hết mùa tươi tốt


Lúa má sinh sôi ngút mắt xanh


Vẫn muốn ban lành ân thánh chúa


Còn mong cứu hạn Phó Nham thần


Hoa màu chăn thả thêm chài lưới


Đại hữu năm nầy lại tiếp năm.


*Bài 2


Hạ chiếu hàng năm đến tỉnh thành


Trời mưa trời tạnh cũng lo toan


Kịp thời cứu trợ dân khi đói


Mãi mãi siêng năng chuyện tưới tiêu


Hãy nhớ tiên ưu gương xán lạn


Đừng quên hậu lạc phú gia ngư


Thẹn vì chẳng xứng lời khen tặng


Ân sủng ban riêng đã quá nhiều


Thơ Trương Đăng Quế, sđd, tr. 331-333


 


THU CẢM


Sáu năm lữ thứ quá long đong


Vạn mối sầu đan lại rối bong


Trăng sáng thu về ôm khóm lá


Hồn quê thao thức dậy trong lòng


Tâm tình xin gởi cho thi phú


Thân thể lo đền nợ núi sông


Những mối thâm tri đâu bỏ được


Bên hồ sen muộn một bầu không


Thơ Trương Đăng Quế, sđd, tr. 116


Thế thì, không thể đòi hỏi một Trương Đăng Quế phải ra tay khôi phục nhà Tây Sơn, thậm chí không thể đòi hỏi một Trương Đăng Quế phải hành động như Cao Bá Quát. Nhà Tây Sơn đã trở thành quá khứ và như là thứ trái cấm, chỉ nhắc đến đã có thể bị mất đầu. Họ Trương Đăng từng theo Chúa Nguyễn vào lập nghiệp ở Quảng Ngãi, tình gắn bó hàng trăm năm đồng cam cộng khổ khai phá hình thành thôn làng người Việt từ Huế vào Nam Kỳ lục tỉnh với triều Nguyễn, nên không nặng tình với vua Lê chúa Trịnh của người miền ngoài như Cao Bá Quát. Cũng không thể đòi hỏi một ông nhà Nho Trương Đăng Quế đi liên minh với lực lượng Thiên Chúa giáo và quân Pháp để đổi mới đất nước.


Vì thế, cũng dễ hiểu và hết sức logic việc Trương Đăng Quế đã chứng tỏ là một người trung thành với triều Nguyễn.


2. TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ LÀ NGƯỜI SẮC SẢO, THẬN TRỌNG VÀ CÓ ÓC THỰC TẾ.


Đây chính là tính cách giúp Trương Đăng Quế được tín nhiệm trong công việc, giúp ông được thăng quan tiến chức nhanh.


Năm 1831, Minh Mệnh thứ 12, sai Hữu thị lang bộ Lễ, sung công việc Nội các là Trương Đăng Quế quyền trông coi công việc bộ Công. Từ đây, ông tỏ rõ tài quán xuyến công việc qua bản tâu của bộ Công do ông quyền trông coi:


“Từ trước đến nay, những vật liệu cần dùng vào mọi công việc, chưa có thể thức lưu hành nhất định. Ở kinh đô thì lấy những việc đã làm làm lệ, còn các thành trấn ở ngoài thì chỉ tùy việc, liệu chừng mà làm, không khỏi có chỗ hơn kém, khác nhau về vật liệu. Đến khi số chi dùng vật liệu gởi đến bộ, bộ tư giao cho võ khố xét lại, nhất luật lấy lệ ở kinh đô mà tính, nhiều thì chi bội lên, ít thì là kém lệ, đến nỗi xin bác bỏ, xin bồi thêm, giấy má phiền phức mà các thành trấn cũng vẫn chưa biết lệ định như thế nào. Vậy xin các kho võ khố chiếu theo lệ ở kinh đô, suy tính cho rõ thêm, như các số ngói gạch, đá, vôi, mật, giấy, rơm cần dùng vào việc làm nhà cửa, kho tàng, đình miếu, thì lấy chiều dài một thước, chiều ngang một thước làm tiêu chuẩn. Các số gạch, đá, vôi, mật, giấy, rơm cần dùng vào việc xây thành, tường vách, bờ hào, cầu cống thì lấy bề cao một trượng, bề rộng một trượng làm tiêu chuẩn. Cho tới những thứ đinh sắt đóng ván gỗ, đồng, thau làm khí giới, than gỗ để rèn đồ sắt cùng những số thành khí và số hao hụt là bao nhiêu nhất thiết các vật liệu cần dùng đến mọi công việc (xây dựng, chế tạo) đều chiếu từng khoản mà châm chước, liệu lượng, lập thành quy thức nhất định, tâu xin khâm định rồi sao gởi cho trong kinh đô ngoài thành trấn tuân hành.


Vua nghe theo lời tâu ấy, ra Dụ cho Nội các hạ lệnh sai bộ Công thông tri cho các nha môn từ nay phàm đường sá và các thứ gỗ lạt, nên đo bằng trượng, tính toán thì có biên ghi là trượng và thước, không được dùng chữ “tầm” như trước nữa”.


Đại Nam thực lục, tập 3, tr. 171


Có lần, quan thự thượng thư bộ Lại là Lê Đăng Doanh dâng sớ đề cử người học trò là Nguyễn Văn Anh có thể làm chức huấn đạo (quan coi việc học của một huyện) đến lúc sát hạch chỉ đậu hạng thứ. Vua Minh Mệnh nói:


“Chức huấn đạo dù nhỏ, nhưng quan hệ đến phong hóa. Nguyễn Văn Anh học vấn tầm thường như thế đảm đương chức ấy sao nổi”.


Bèn không cho. Nhân bảo mọi người:


“Trẫm tự lúc lên ngôi đến nay, vẫn chấn hưng văn giáo, mà sao nhân tài ít ỏi thế?”.


Thị lang bộ Lại Phan Bá Đạt tâu rằng:


“Hoàng thượng lưu ý đào tạo nhân tài, ai chẳng phấn khởi. Nhưng giáo chức đều do đề cử, học vấn thấp kém không đủ làm mô phạm. Nếu lấy khoa mục mà dùng thì nhân tài sẽ ngày càng thịnh”.


Tả thị lang bộ Công Trương Đăng Quế tâu rằng:


“Nhân viên bị truất cách, có người nào là khoa mục, nên cho khởi phục làm giáo chức, thì sẽ không thiếu người”.


Vua Minh Mệnh nói:


“Trẫm cũng muốn làm như thế. Nhưng suy đi nghĩ lại, bọn ấy có tội vừa bị truất, lại vội dùng ngay, sẽ làm gương xấu cho người khác, vì thấy có đường phục chức sẽ thi nhau làm bậy không sợ hãi gì, thì làm sao gạn lọc được quan trường”.


Đại Nam thực lục, tập 3, tr. 19-20


Nhưng 4 năm sau, năm 1834, các địa phương khuyết nhiều chức giáo thụ và huấn đạo. Vua sai bộ Lại bàn xét bổ dùng những người do cử nhân xuất thân trước đã có lỗi. Điều này chứng tỏ Trương Đăng Quế là người có óc thực tế và có tầm nhìn xa.


Thời gian xảy ra sự biến Lê Văn Khôi ở Gia Định, suốt ba năm vẫn chưa lấy lại được thành Gia Định, vua hỏi:


“Giặc Khôi liều chết để giữ cô thành, bọn ngươi tính xem mưu kế của chúng sẽ ra sao?”.


Trương Đăng Quế nhận định:


“Thần cho rằng bọn chúng tự liệu hết đường chạy trốn, nên cố bám vào cái cô thành ấy để tạm thời kéo cái sống từng ngày thôi”.


Vua cho là phải.


Năm 1837, vua Minh Mệnh xem sổ tổng cộng thuế lệ năm trước do bộ Hộ dâng lên, thấy tiền thuế sáu tỉnh Nam Kỳ sau khi được bọn Trương Đăng Quế làm Kinh lược sứ cùng với bọn Trương Minh Giảng đạc điền lập địa bạ ở Nam Kỳ, chia đặt cửa quan, bến đò, đến nay so với 13 năm trước tăng đến gấp ba lần. Vua sắc phong Trương Đăng Quế là Tuy Thạnh nam. Tước nam là tước thấp nhất trong hệ thống phẩm tước công, hầu, bá, tử, nam của triều đình nhà Nguyễn.


 


3. TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ LÀ NGƯỜI CÔNG MINH, LIÊM CHÍNH


Có lần, vua bảo bọn Hà Tông Quyền và Trương Đăng Quế rằng:


“Nội các là chỗ cơ quan trọng yếu, bọn khanh nên xét kỹ các thuộc hạ, ai giỏi thì cho tiến lên, ai kém thì cho lui, đừng có thiên tư, để cho người bậy được cầu may mà dung thân, không ích gì cho công việc”.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 930


Do đó Hà Tông Quyền, Trương Đăng Quế làm sớ đề bạt những người cần cán hơn mười người, trong đó có những vị như Trương Văn Uyển, Trần Ngọc Giao, Nguyễn Đức Hoạt, Lâm Duy Nghĩa. Đồng thời, họ đề nghị điều chuyển công tác bọn người kém cỏi, học thức tầm thường Tôn Thất Du và Nguyễn Duy Tường. Vua nghe theo.


Kinh lược sứ là bọn Trương Minh Giảng, Trương Đăng Quế đề nghị bắt về hưu phó lãnh binh tỉnh Gia Định Nguyễn Văn Hội vì đã lớn tuổi, sức đã yếu làm việc chậm chạp và đề nghị thay vào đó phó vệ úy Hậu bảo Nguyễn Văn Tiến còn trẻ, nhanh nhẹn, giỏi giang lại có chiến công, và đề nghị thay vào chỗ của Nguyễn Văn Tiến là Cai đội Trần Văn Quản. Vua Minh Mệnh cho là phải và ban dụ khen là công bằng trung thực vì nước. Lại có tên nhũng lại ở Định Tường là Tống Hữu Tài, nhân việc đạc điền mà sách nhiễu lấy tiền của dân. Việc phát giác, bọn Kinh lược sứ liền đem chém để làm gương răn. Việc tâu lên, vua Minh Mệnh khen phải.


Đại Nam thực lục, tập 4, tr. 934


Vua cho rằng thi Hội là điển lễ long trọng, trước đây các giám sinh ở trường Quốc Tử Giám đều do quan ở nhà Giám sát hạch, rồi cho vào thi, như thế sợ chưa được kỹ. Vua bèn sai thượng thư Lê Đăng Doanh và Phan Huy Thực, sung làm chánh chủ khảo, các quan tham tri Bùi Phổ và Trương Đăng Quế sung làm phó chủ khảo. Các chức Lang trung hoặc Viên ngoại lang các bộ mỗi bộ một người sung làm phân khảo. Theo danh sách các quan nhà giám dâng lên gọi họ họp lại, sát hạch lại một lần nữa cho kỹ, chia ra từng hạng, đóng thành bản danh sách đâng lên vua để đợi Chỉ. Khi danh sách đã dâng lên rồi thì người nào được điểm ưu, bình sẽ được chuẩn cho vào thi với các cử nhân, hạng thứ ở lại nhà Giám tiếp tục học tập, còn hạng liệt thì bổ đi làm thư lại ở các bộ. Từ đó, mỗi khi mở khoa thi Hội, lại mở kỳ khảo hạch như thế thành lệ.


Quan thự binh mã sứ ty là Trương Viết Súy được giao nhiệm vụ dẫn quân đến nguồn Ô Lâu làm xe “Thủy hòa ký tế” để tán thuốc súng. Hơn một tháng Trương Viết Súy cho đắp đập, đào khe, dời đổi chỗ này, di dịch chỗ khác, không nhất định, đến nỗi chậm trễ lỡ việc, nên bị hặc tội, bị bắt xiềng lại, giao đình thần nghị tội. Lại cử đề đốc Kinh thành Lê Văn Quý đến thay, ra lệnh cho Tham tri bộ Công Hà Duy Phiên đến xem công việc. Sau đó cũng bị phái viên là Ngự sử Phan Đăng Đệ hặc tâu vì làm việc không đúng. Vua sai Cơ mật viện đại thần Trương Đăng Quế và Phan Bá Đạt đến tận nơi để xét nghiệm. Khi về họ làm biểu tâu:


“Chỗ ấy, sức nước chảy chậm và yếu, tất phải đắp đập dẫn nước chảy rót vào. Công việc làm đã khó, mà ngọn nước xói vào, đê đập cũng khó giữ vững được. Nếu cứ mãi làm chỉ uổng công nhọc sức”.


Việc mới bãi đi.


Định lệ tuyển bổ các thông phán, kinh lịch ở các tỉnh. Trước đó Lê Văn Đức, Trương Đăng Quế đã tâu nói:


“Từ trước đến nay, bộ Lại tuyển bổ thông phán, kinh lịch vào chỗ thiếu, nhưng chỉ lấy những người kêu van chạy vạy, chứ không hề tư báo cho đường quan các bộ biết, đối với người trong bộ mình thì bổ cho chỗ tốt, người các bộ khác thì bổ đi nơi xa xôi, e có sự mở đường cho hạng người cầu cạnh”.


Năm 1840, Minh Mệnh năm thứ 21, vua sai bọn Phủ thừa là Nguyễn Thịnh, Giám thành là Nguyễn Công Tiến đến đường núi Hải Vân khám xét mở đường mới ít hiểm trở hơn. Bọn ấy đến nơi thuê 100 người, làm hơn một tháng gần xong, tốn đến 1.000 lượng bạc. Thị vệ Bùi Bá Bằng nhân đi việc công về tâu lên rằng đường mới không bằng đường cũ. Vua bèn sai Lang Trung bộ Công là Thang Huy Thận, Ngự sử là Vũ Viện đi khám, lại báo là đường mới tiện hơn. Vua thấy mỗi bên giữ một thuyết, nên sai Đại học sĩ Trương Đăng Quế, Thống chế Bùi Công Huyên, Thị lang Nguyễn Tri Phương đi kiểm tra lần nữa. Họ về tâu rằng:


“Đường cũ có ba đoạn cao, trong đó có một đoạn hiểm cao mà thế hơi thoai thoải, đi cũng không phải khó nhọc lắm, hai bên đường lại có nhiều cây, khách đi đường có chỗ nghỉ mát khi trời nắng nóng.


Đường mới ngoài vài đoạn nhỏ hơi bằng phẳng, xuôi thoải, còn thì nghiêng lệch khó đi, lại không có cây to bóng mát bên đường.


Đã hai ba lần so sánh, đường mới không bằng đường cũ rõ ràng lắm”.


Đại Nam thực lục, tập 5, tr. 682


Vua cho bãi việc làm đường, giao bộ Hình luận tội.


Khi con trai đầu lòng là Trương Quang Trụ được tước phong thì Trương Đăng Quế lại xin không nhận vì con mình chưa làm nên công trạng gì. Khi già yếu, Trương Đăng Quế lại dâng sớ xin giáng chức mình làm hàm Thượng thư, tước bỏ tước công đã phong trước đây. Vua Tự Đức không cho, ông lại xin trừ phân nửa lương, vua bèn miễn cưỡng nghe theo.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 793-794


4. TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ LÀ NGƯỜI BIẾT LẤY DÂN LÀM GỐC.


Trương Đăng Quế nhận thấy được sự cực khổ của người dân nơi vùng có chiến sự, ông còn thấy rõ mặt tiêu cực của chế độ thổ ty thổ tù trong các nhóm người ít học Mường -Thái, ông đã đề ra các quyết sách mang tính đổi mới. Bản tâu của Trương Đăng Quế cách nay trên 160 năm mà cứ tưởng như báo cáo của chế độ ta hiện nay.


Trương Đăng Quế viết:


“Dân thổ từ trước đến nay chỉ làm đầy tớ cho thổ tù, phàm con em thổ tù mới được đón thầy học tập, còn đều bị ngăn cấm, nên thổ dân phần nhiều ngu dốt mê lầm. Nay xin cho các viên huyện châu chọn con em thổ dân, những cháu hơi sáng suốt, dạy cho học chữ để làm biến đổi phong tục của họ.


Hai huyện Thạch Thành, Quảng Địa đã bị tàn phá, dân ở đây lại theo quan quân đi đánh giặc, đài tải lương thực, cùng các huyện châu Cẩm Thủy, Quan Hóa, Lương Chánh, Thường Xuân tình hình hao hụt thật là đáng thương, về thuế lệ phải nộp năm nay cùng số để thiếu năm trước, xin tha giảm để cho dân ở đây bớt đói túng”.


Đại Nam thực lục, tập 5, tr. 77


Ba cơ An man ở Trấn Tây thành, có người Chăm Đồ Bà ở nhờ từ lâu, mỗi khi có việc phần nhiều họ đều ra sức giúp triều đình. Vua Minh Mệnh muốn cấp áo quần và tiền bạc để cho họ phấn khởi, nhưng ngại thổ binh các cơ cho là có chỗ phân biệt. Hiệp biện đại học sĩ Trương Đăng Quế tâu nói:


“Trấn Tây thành là đất mới phụ thuộc, việc phải sửa sang còn nhiều. Ân cách của Triều đình để vỗ về gây sự cảm kích, ai dám xen vào”.


Đại Nam thực lục, tập 5, tr. 410


Vua Tự Đức băn khoăn cho là người Bắc Kỳ khó yên ủi vỗ về, hỏi quan địa phương ai là người tốt, ai là người không tốt. Trương Đăng Quế nói:


“Binh và dân là trách nhiệm của quan địa phương, dù binh lính, dù lương ăn cho dân, lo đủ là người chăn dân tốt, không lo đủ để thiếu thốn là người không làm nổi chức vụ”.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 171


Tháng 8, năm này, bọn Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản, Ngụy Khắc Tuần trình bày 4 việc:


“- Phàm các thứ của vua dùng và ban cấp, hết tháng này xin giảm bớt.


 - Phàm các bề tôi cũ khi còn ở tiềm để (nơi vua còn là thái tử), các người nơi giáng trướng (chỗ học), các thân thuộc nhà Tôn thất, xin đừng cho chức vụ.


- Xin bãi lệ khoa đạo chuyên bổ chức lang trung, mà chỉ đặt chức chưởng ấn 6 khoa và ngự sử 6 đạo.


- Phàm các nha môn Nội vụ, Võ khố, Thương trường, nguyên trước phái 4 nha (Cơ mật, Đô sát, bộ Hộ, bộ Công) hội đồng với khoa đạo cùng xét làm đều xin đình chỉ”.


Đây là vì bọn Trương Đăng Quế thấy hiện nay quan trường chưa được trong sạch đều do ở theo lệ thăng bổ một loạt không phân biệt người hay kẻ dở, nên mới kiến nghị tâu bày. Vua Tự Đức bảo rằng:


“Sự thể cũng khó đấy, nhưng các điều khoản tâu bày minh bạch, chắc có thể làm được”.


Bèn chuẩn cho làm.


Có lần, vua Tự Đức hỏi Thọ Xuân công và các đại thần:


Việc đào sông mới Phổ Lợi, thì làm ruộng có tiện hơn không? Nay dân tình cùng lòng xin đắp con bối nhỏ (con đập) chắn ngang để ngăn nước mặn, bọn khanh hội khám thế nào?.


Trương Đăng Quế, Đặng Văn Thiêm đều tâu là nước mặn làm hại việc làm ruộng, nếu dân địa phương ấy tự nghĩ ra mưu kế, xuất lực mà đắp con bối để ngăn, tưởng cũng bảo đảm được sự làm ruộng.


Miên Định cho biết khi tổ chức đào sông thì dân chúng ven sông cũ khẩn khoản xin đình công. Nhưng vì chỗ đó thông đến cửa Thuận An được hơi gần, nên vua trước hạ lệnh cho đào.


Trương Đăng Quế tâu:


- Hình thế Kinh thành, sông nước vòng quanh, từ khi khai sông mới, thì sông cũ mất thế hiểm.


Vua bảo nước lấy dân làm gốc, dân tình nguyện xin đắp con bối thì cho làm. Việc đường thủy xa gần không kể đến”.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 347


Năm 1845, Thiệu Trị năm thứ 5, Đại học sĩ Trương Đăng Quế tâu lên:


“Lúc bắt đầu mở đất ở Hà Tiên, Mạc Thiên Tứ có công tốt, nên xét đến con cháu người ấy.


Vua cho tìm con cháu Mạc Thiên Tứ, người nào có tài có thể dùng được, cứ thực tâu lên. Sau đó Lĩnh phủ Hà Tiên Nguyễn Lương Nhàn chọn được dòng dõi chính là Mạc Văn Phong, vua phong cho ấm thụ Chánh thất phẩm Chánh đội trưởng, cho làm việc ở Hà Tiên”.


Đại Nam thực lục, tập 6, tr. 717


Mùa thu năm 1855, Tự Đức năm thứ 8, bọn Trương Đăng Quế, Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, Tôn Thất Cáp tâu bày công việc nên làm ở Nam Kỳ. Xin làm 4 việc:


“Xin: Các thuyền ở Nam Kỳ, chiếu theo ngạch lính hiện đã giảm bớt, chỉ để cho đủ ngôi thôi.


Xin: Khai đào dòng sông ở hai huyện Long Xuyên, Kiên Giang để giúp cho việc chẹn chỗ hiểm yếu.


Xin: Ở các tỉnh Gia Định, Vĩnh Long, Định Tường thuộc Nam Kỳ thì thóc lúa dồi dào mà kho tàng của tất cả Nam trực, Tả kỳ thì còn trống rỗng, xin cho thuê thuyền buôn vận tải để chứa sẵn.


Xin: Nhân dân hai tỉnh Bình Thuận, Khánh Hòa ở gần rìa rừng, thường gặp nạn hổ bắt, dân không yên sống, nên giúp đỡ để dân được yên. Đến việc giao hiếu với nước Xiêm La, thì ý họ vẫn muốn đến giảng hòa với ta, nhưng chưa có manh mối gì xác thực. Xin đợi có cơ hội sẽ làm sớ tâu lên thi hành”.


Vua đều y cho.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 512-513


Mùa xuân, năm 1858, Tự Đức năm thứ 11, Trương Đăng Quế tâu:


“Việc hà đê ở Bắc Kỳ không đâu xung yếu cho bằng Hà Nội. Thần trước đã đi khám, thì những đê ở Hà Nội và Hưng Yên thường bị vỡ. Vì là địa thế thấp trũng, nước chảy xói mạnh nên đê hay bị vỡ như thế. Nhưng cũng còn lý do đê điều chưa được chắc cho lắm, chứ không phải chỉ tại nước chảy mạnh. Công việc hiện nay, nên lấy việc đắp đê làm cần kíp. Xét cái lẽ thừa trừ của trời đất thì năm nay mưa ít mà nắng nhiều. Nếu đem việc đắp đê Hà Nội, Hưng Yên làm trước, lấy công thuê người làm thay cho phát chẩn, sửa đắp vững bền thì còn có thể giữ được cái lợi vài năm, rồi sau tính đến việc khơi con sông khác để làm cái kế lâu dài trăm năm, mới thật hoàn hảo. Nếu đương lúc kho tàng thiếu thốn này mà các việc đào sông đắp đê khởi công làm cả một lúc, chi phí đến vài trăm vạn quan tiền, phương gạo mà chỉ mong chờ đến chuyện đi quyên thì chưa nên làm. Còn như dòng sông Thiên Đức cũ phải nên khai thêm, nhưng cũng phải tùy theo địa thế đào cửa sông khác, để dẫn nước chảy về phương đông, mới có thể giữ được cái lợi vô cùng. Nếu chỉ cứ sửa đào sông Thiên Đức, e chưa đủ để tiêu bớt được nước dòng đại hà như sông Hồng. Còn như sông Thanh Hương cố nhiên nên khơi thông, nhưng chỉ giảm được chút ít mà thôi. Duy có ở Ninh Bình thì nên đào con sông Vạc để tiêu tiết nước sông Hát, là thỏa đáng nên làm


Vua cho là phải sai sao lục gởi cho quan đê chính để thi hành”.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 544


Người Chăm, người Chà Và (bọn Ốc Nha tên là Ốc Bồn Nha, tên là Hiên và binh dân hơn 1.000 người) từ Cao Miên trở về quy thuận. Vua hỏi viện Cơ Mật, Trương Đăng Quế, Lưu Lượng tâu:


“Họ đem vợ con về với ta, vì sự bạo ngược của vua Cao Miên. Ta đã nhận cho họ về mà nay từ chối sợ lại sinh việc và phụ lòng trong mong của dân. Họ thật thà, cũng có thể chắc là không gây trở ngại gì. Nhân lúc họ mới vừa đến mà ta vỗ về, cho họ ở tản ra các phủ Thất Sơn, Ba Xuyên, Lạc Hóa là những vùng đất thưa dân hẻo lánh cho họ làm ăn sinh sống. Rồi tùy theo tình lý từng lúc mà ứng đối với nước Cao Miên”.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 639


Trương Đăng Quế nói về dân với một tấm lòng thương cảm, lời lẽ bênh vực, chăm lo mà không phân biệt họ là người kinh, người Mường – Thái, người Chăm, người Chân Lạp, người Mã Lai đa đảo.


(còn tiếp)


Nguồn: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. NXB Văn học. 1-2009.







(1) Trần Văn Giàu: Chống xâm lăng. NXB TP. Hồ Chí Minh. 2001. Tr. 45-46




(1) Nguyễn An Ninh: Lý tưởng của thanh niên An Nam. Sách Nguyễn An Ninh. NXB Trẻ. 1996. Tr. 79.




(1) Nguyễn Hiến Lê: Đông Kinh nghĩa thục. NXB Văn Hóa Thông tin, 2002.Tr. 58.




(2) (3) Nguyễn Hiến Lê: Sđd, Tr. 58- Tr.60




 




(1) Nguyễn Hiến Lê: Sđd, Tr. 60




(2) Trần Văn Giàu, Hệ ý thức phong kiến, Tr. 19




(1) Ch Khng T



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
Những đám khói - Võ Phiến 23.03.2017
Khó, dễ Nguyễn Tuân - Đào Nguyên 22.03.2017
Ở nơi “con chim bay bạc đầu chưa tới” - Ngô Vĩnh Bình 22.03.2017
Lê Văn Thảo, người lữ hành lặng lẽ - Nguyễn Xuân Hưng 21.03.2017
Hoa của đất: Nhà toán học lỗi lạc của quê hương Gò Nổi - Kỳ Lam - Hàm Châu 19.03.2017
Không khóc ở Mỹ Sơn - Inrasara Phú Trạm 16.03.2017
Mười ngày rung chuyển thế giới (11- tiếp và hết) - John "Jack" Silas Reed 15.03.2017
Hoàng Đạo Thúy với những trang viết về Hà Nội - Hoài Anh 13.03.2017
xem thêm »