tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18498047
17.02.2013
Tư liệu
Công chúa Ngọc Bình - Chính cung của hai triều đại đối địch

Cuộc chiến của triều Tây Sơn và triều Nguyễn đã được lịch sử nói đến nhiều. Trong cuộc chiến khốc liệt ấy, phần thắng đã thuộc về nhà Nguyễn, để rồi Nguyễn Ánh thống nhất được giang sơn và lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu Gia Long, lập ra một vương triều thống nhất (triều Nguyễn). Tuy nhiên, trong cuộc chiến khốc liệt với anh em Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã thu được một chiến lợi phẩm để rồi mở ra một sự kiện chưa bao giờ có trong lịch sử phong kiến Việt Nam.


 


Chiến lợi phẩm trở thành một thứ phi.


Kinh đô Phú Xuân, nơi đã từng ghi lại nhiều sự kiện trong cuộc chiến giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn. Khi vua Quang Trung băng hà, Quang Toản lên nối ngôi. Đó cũng là lúc Nguyễn Ánh ở trong Nam dần lấy lại thanh thế. Nguyễn Ánh sau nhiều năm bôn ba nếm mật nằm gai tưởng như có lúc không thể vượt qua được sự truy đuổi của quân Tây Sơn; cuối cùng, được sự giúp đỡ của những người thân cận và phương Tây, Nguyễn Ánh đã phản công. Trận chiến cuối cùng tại Phú Xuân (kinh đô Huế ngày nay) đã đánh dấu một sự kiện mới trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam: Nhà Tây Sơn sụp đổ và vương triều Nguyễn thống nhất thiên hạ.


Trong trận chiến Phú Xuân, Nguyễn Ánh thu được rất nhiều chiến lợi phẩm, trong đó có một chiến lợi phẩm giá trị là công chúa Ngọc Bình (vợ của vua Quang Toản). Lịch sử đã cho thấy, Nguyễn Ánh (vua Gia Long) đã trả thù rất tàn bạo nhà Tây Sơn, nhưng với công chúa Ngọc Bình là một trường hợp ngoại lệ. Người đời vẫn thường có câu: “Quân tử không vượt qua được ải mỹ nhân”. Điều này đã đúng khi Gia Long gặp công chúa Ngọc Bình.


Công chúa Ngọc Bình là con út của vua Lê Hiến Tông và Chiêu nghi Nguyễn Thị Điều, đồng thời cũng là em gái cùng cha khác mẹ với công chúa Ngọc Hân (vợ vua Quang Trung). Có nhiều nguồn tài liệu khác nhau nói về năm sinh của công chúa Ngọc Bình, có tài liệu chép bà sinh năm 1783, có tài liệu lại nói bà sinh năm 1775. Về nhan sắc, công chúa Ngọc Bình nổi tiếng đẹp sắc nước hương trời. Dân gian còn lưu truyền cơ thể nàng có một mùi hương thơm rất lạ, có sức cuốn hút vô cùng.


Dù đã trải qua nhiều mỹ nữ nhưng vua Gia Long cũng bị vẻ đẹp của Ngọc Bình làm mê mẩn. Kinh đô Phú Xuân rơi vào tay Nguyễn Ánh, công chúa Ngọc bình ngồi trầm ngâm trong nỗi sợ hãi khi Nguyễn Ánh xuất hiện. Vị vua đầu tiên của vương triều Nguyễn không thể bỏ qua một người đẹp như vậy nên đã trấn an tinh thần Ngọc Bình bằng những lời nói không giống như tính cách mạnh mẽ của một con người từng trải: “Bà là một hoàng hậu tuyệt vời! Mặc dầu có những đổi thay trong lịch sử. Xin bà hãy khuây khỏa, dẹp sợ hãi, ưu phiền. Cung điện lâu đài này vẫn thuộc về bà!”. Biết không thể nào ngăn được ước muốn của Nguyễn Vương, bà Ngọc Bình đành phải xuôi theo số phận. Năm 1802, Nguyễn Vương lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long. Dù có nhiều người can ngăn nhưng vua Gia Long vẫn quyết định kết duyên cùng bà. Ngọc Bình được phong là thứ phi (đệ tam cung - sau Thừa thiên Cao hoàng hậu là mẹ của hoàng tử Cảnh, Thuận thiên Cao hoàng hậu là mẹ của vua Minh Mạng).


 


Số đâu có số lạ lùng.


Cuộc hôn nhân giữa vua Gia Long và công chúa Ngọc Bình là một cuộc hôn nhân đặc biệt trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Điều thú vị là Ngọc Bình là một người con của một ông vua nhưng số phận đã đưa đẩy bà kết duyên cùng hai ông vua của hai triều đại khác nhau. Vua Gia Long đã bỏ qua những lời can ngăn để đến với bà mà ông thừa biết đó là thứ phi của vua Cảnh Thịnh (Quang Toản) triều Tây Sơn, một triều đại có mối thù thâm sâu với triều đại mà Gia Long đang đứng trên tất cả để cai trị thiên hạ. Vua Gia Long đã bỏ qua tất cả lịch sử đối địch của hai triều đại để đến với Ngọc Bình. Một cuộc hôn nhân đã để lại nhiều mối hoài nghi trong suốt quá trình tồn tại vương triều Nguyễn.


Lịch sử đã ghi lại những cuộc chiến không khoan nhượng giữa triều Tây Sơn và triều Nguyễn. Một cuộc chiến kéo dài trong nhiều năm với nhiều tình thế thay đổi liên tục, cuối cùng Nguyễn Ánh thống nhất được thiên hạ và trả thù nhà Tây Sơn một cách dã man mà lịch sử đã ghi. Hầu hết, những nhân vật và tướng lĩnh của triều Tây Sơn đều phải nếm lòng thù hận của Nguyễn Ánh. Tuy nhiên, Ngọc Bình lại khác, cho dù là thứ phi của triều đại đối địch nhưng bà vẫn được Nguyễn Ánh gia ân và đưa vào làm thứ phi. Trong thời kỳ làm thứ phi của Gia Long, Ngọc Bình được nhà vua sủng ái. Điều đó thể hiện ở việc bà và vua Gia Long đã có với nhau bốn người con. Theo các sách chính sử triều Nguyễn, bốn người con đó là Quảng Oai công Nguyễn Phúc Quân, Thường Tín công Nguyễn Phúc Cự, hai công chúa là Mỹ Khê Ngọc Khuê và An Nghĩa Ngọc Ngôn. Nhưng nghịch lý ở chỗ, Ngọc Bình là em của công chúa Ngọc Hân (vợ Quang Trung) mà Nguyễn Ánh lại kết hôn với Ngọc Bình. Giữa Nguyễn Ánh và Quang Trung có mối thù lớn không đội trời chung, nên cuộc hôn nhân của Nguyễn Ánh với Ngọc Bình đã vô tình đưa Quang Trung và vua Gia Long trở thành anh em trong nhà. Cả hai đều trở thành con rể của vua Lê Hiến Tông, có nghĩa, xét về mối quan hệ thì Quang Trung và Gia Long là anh em “cột chèo” nhưng lại là kẻ thù của nhau. Điều đó làm cho cuộc hôn nhân giữa Nguyễn Ánh và Ngọc Bình trở nên đặc biệt và công chúa Ngọc Bình chính là nhân vật trung tâm. Đến nay, dân gian vẫn còn lưu truyền sự kiện công chúa Ngọc Bình lấy hai vua: “Số đâu có số lạ lùng; con vua lại lấy hai vua làm chồng”.


Ngọc Bình là con của một vị vua nhưng bản thân bà lại liên quan đến ba triều đại khác nhau (Hậu Lê, Tây Sơn, Nguyễn). Bà chính là cầu nối dẫn đến những mối quan hệ chồng chéo nhau trong ba triều đại ấy. Trong suốt thời kỳ chế độ phong kiến Việt Nam, chưa có một người phụ nữ nào lại có một thân phận và vai trò như vậy. Dương Vân Nga cũng là vợ của hai triều vua nhưng giữa nhà Đinh và nhà Tiền Lê không có mối quan hệ thù địch như nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn. Sử sách chép Ngọc Bình mất khi tuổi đời còn khá trẻ. Công chúa Ngọc Bình, người làm thứ phi của hai triều đại đối địch. Bà không để lại nhiều dấu ấn trong sự tồn tại của triều Tây Sơn và triều Nguyễn nhưng bà là một phần lịch sử đặc biệt của hai triều đại này.


 


Lê Khắc Niên


baolamdong.vn


 


Miếu Thất Vị hé lộ dấu tích hài cốt hoàng tộc nhà Tây Sơn?


Bị Vua Gia Long trả thù và hành tội tàn khốc, mộ phần và hài cốt của Quang Trung Hoàng đế và một số nhân vật danh tiếng khác trong hoàng tộc và hàng ngũ cận thần của nhà Tây Sơn từ đó đã mất dấu.


Gần đây, giới khoa học đã tìm ra những trùng hợp thú vị về các nhân vật huyền thoại được dân gian thờ cúng trong miếu Thất vị với những dấu tích lịch sử liên quan đến những con người lẫy lừng của một vương triều.


 


Tín hiệu lịch sử quanh truyền thuyết về Miếu Thất Vị


Miền đất giữa hai sông Vĩnh Điện và Thu Bồn, từng có thủ phủ của Quảng Nam xưa, như Dinh trấn Thanh Chiêm thời chúa Nguyễn (1558 - 1775) và thành tỉnh Quảng Nam thời nhà Nguyễn (1802 - 1945), thương cảng Hội An sầm uất và những làng nghề nổi tiếng như Phước Kiều, Kim Bồng… Đó là vùng có bề dày văn hóa lịch sử rõ nét.


Miếu Thất vị ở làng La Qua (thuộc thôn Trung Phú, xã Điện Minh, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Dân gian từng truyền khẩu nhiều truyền thuyết về các vị thần được thờ ở miếu Thất vị,  hằng năm, dân làng thường tổ chức tế lễ "xuân thu nhị kỳ" trọng thể. Với áo khoác truyền thuyết đậm chất hoang đường... dường như có một cốt lõi lịch sử nào đó, xảy ra vào đầu thế kỷ XIX, mà người xưa muốn gửi lại hậu thế (?).


 


Miếu Thất Vị ở làng La Qua.


Ở Thừa Thiên-Huế cũng có Miếu Thất vị (còn gọi là Bảy Miếu) ở xóm Kim Bồng (nay là làng Hòa An, xã Phú Thanh, huyện Phú Vang), gần làng Qui Lai. Liệu có mối quan hệ giữa Miếu Thất vị làng La Qua ở Quảng Nam và miếu Thất vị xóm Kim Bồng ở Thừa Thiên-Huế hay không? Vén bức màn truyền thuyết thần bí quanh các vị thần được dân gian thờ phụng trong các miếu, dường như nhiều chi tiết khuất tất của lịch sử đã bắt đầu lộ ra?


Các vị bô lão của làng La Qua truyền khẩu rằng, ngày xưa có khi làng bị hạn hán mất mùa ba năm liền, rất thống khổ. Diêm Vương thương tình, bèn sai 7 người con gái của ngài rời địa phủ để lên dương thế cứu dân làng. Đang  giúp dân thoát khỏi nạn đói nghèo thì xảy ra việc binh đao, Diêm Vương sợ 7 ái nữ  không đủ sức chống đỡ nên đưa ngay người con trai thứ tám của ngài lên hỗ trợ, kết quả dân làng thoát khỏi tai ương. Nhớ ơn hộ trì, dân làng La Qua lập Miếu Thất vị để thờ 7 vị nữ thần và lập một am nhỏ trong khuôn viên miếu để thờ vị nam thần.


Có khả năng, qua truyền thuyết, người xưa muốn gửi lại hậu thế những thông tin về các sự kiện lịch sử mà nhà nước phong kiến đương thời nghiêm cấm: dân làng bị đói khổ và điêu linh vì chiến tranh, có các anh hùng lịch sử hộ trì, 7 vị có công trước và về sau có một vị nữa. Và quả thật, ở làng La Qua còn có một truyền ức khác về miếu Thất vị, đậm tính lịch sử chứ không hề hoang đường.


Tác giả An Trường trong bài “Truyền thuyết miếu Thất vị”, đăng trên báo điện tử Đà Nẵng (13/12/2009) đã thuật lại: "Còn theo những vị cao niên thôn Trung Phú, thì tương truyền vào năm 1814, đời Vua Gia Long (1802 - 1820), tại gò Rừng xứ Dương Thần, làng La Qua, huyện Diên Phước (nay là huyện Điện Bàn) dân làng đã phát hiện 7 tảng đá nhỏ, hình nón úp, có dạng hao hao giống mặt người, mọc kế cận nhau. Từ khi 7 hòn đá này xuất hiện, khu rừng xứ Dương Thần đã xảy ra nhiều hiện tượng thần bí và kỳ lạ, nhất là vào lúc giữa trưa và giữa đêm nên dân làng trong vùng rất hoang mang, kiêng sợ. Thế rồi, bỗng một hôm có một người từ hướng Nam đến đây, ứng khẩu xưng rằng: “Ta là vua Mây, chúa Lồi, nữ thần xuất thế để cứu độ chúng sanh". Dưới vỏ che thần thánh, dường như người xưa ở xứ Quảng có mục đích tưởng niệm những nhân vật lịch sử gắn bó với sự kiện lịch sử nào đó.


Trong bài “Dinh Thầy Thím”, tác giả Phan Chính viết về lễ hội Dinh Thầy Thím ở Hàm Tân (Phan Thiết, Bình Thuận), có thuật lại sự tích người được dân gian gọi là Thầy. Điều đáng chú ý là Thầy lại xuất thân từ làng La Qua! Trong bài có đoạn:


"Chuyện xưa kể rằng: Dưới thời Gia Long, tại làng La Qua, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam có một đạo sĩ giàu lòng nhân ái, có nghĩa cử cao đẹp hành đạo giúp đời. Quê làng của đạo sĩ từ nhiều đời đắng cay nghiệt ngã, quanh năm đói ăn thiếu mặc như mắc tội với đất trời. Do đó, nỗi bức xúc của dân làng là làm sao có một mái đình để dâng lời cầu nguyện, rước phép an lành.


Cảm thấu được nỗi mong ước sâu xa đó, đạo sĩ tập họp những kỳ lão, trai tráng trong làng thông báo ý định ra tay giúp việc dựng đình nhưng với điều kiện phải dọn sẵn một nền đất rộng và trong thời gian dựng đình không một ai lai vãng. Mọi người đều bán tín bán nghi nhưng vẫn làm theo đạo sĩ. Trong khi đó ở làng Bát Nhị vừa xây một ngôi đình thật nguy nga nhưng các hương chức cậy giàu, lại có lời xúc phạm, khinh khi dân làng bất hạnh không xây nổi mái đình. Đạo sĩ bình tâm khuyên dân làng nhẫn nhục và chờ đợi. Không bao lâu, sau một đêm mưa to gió lớn, sấm sét đầy trời dân làng được tin vui đã có ngôi đình mới. Ai cũng vui mừng, đến nơi dọn đất trước đây đã thấy sừng sững ngôi đình ngói đỏ. Niềm vui lẫn kinh ngạc của dân làng chưa nguôi thì lại nghe tin dữ bên làng Bát Nhị bị mất đình. Thế là bọn hào lý nổi cơn thịnh nộ, cấp báo lên quan tố cáo đạo sĩ là phù thủy dùng phép ma tà thuật đánh cắp đình làng.


Lúc bấy giờ dưới triều Tự Đức ra lệnh bắt đạo sĩ, khép tội gây rối và mưu bạo loạn. Vua bèn ra hình phạt "Tam ban triều điển" (tức tội hình chết chém, uống độc dược hoặc thắt cổ). Giữa pháp trường, đạo sĩ cùng vợ điềm nhiên và xin cấp một tấm lụa điều, xếp hình chim phượng. Sau khi dùng mực điểm nhãn, dải lụa điều biến thành chim phượng mang cả hai vợ chồng bay về phía Nam".


Sự kiện Thầy dùng phép thần thông di chuyển ngôi đình của làng Bát Nhị sang làng La Qua có màu sắc thần thoại mang âm hưởng "lấy của nhà giàu đem cho người nghèo"… Chính sự kiện vị đạo sĩ bị triều đình nhà Nguyễn ghép tội chết… đã thúc giục giới khoa học tìm cách kiến giải nguồn gốc miếu Thất vị làng La Qua vậy.


 


Xã Phú Thanh (huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế) nguyên là làng Qui Lai, do ngài Phạm Như Nghi, vị  khai sinh ra  họ Phạm Hữu, khai khẩn xây dựng nên vào thế kỷ XVII, thời chúa Nguyễn Hoàng. Ngài Phạm Như Nghi được nhà Nguyễn sắc phong là "Bổn thổ Thành Hoàng khai khẩn nguyên thần Phạm Quý công, trước phong Dực Bảo Trung Hưng linh phò gia tặng Đoan Túc tôn thần".


Phía tây nam làng Qui Lai, cuối làng, ven sông, có xóm Kim Bồng, theo truyền ức là xóm của những lính thợ đóng thuyền bè phục vụ thủy quân triều chúa Nguyễn, triều Tây Sơn và triều vua Nguyễn. Hàng trăm năm trước, xóm này đa phần là dân ngụ cư, gồm những kíp thợ của làng Kim Bồng ở Quảng Nam được vua chúa triều Nguyễn trưng tập để làm việc ở xưởng đóng thuyền. Gần xóm Kim Bồng, nay là làng Hòa An, bên đường làng có miếu Thất vị, dựng hàng ngang bên đường làng, quay về hướng tây nam.


Sư Thích Phước Nghiêm, trụ trì chùa sắc tứ Từ Vân ở Qui Lai cho biết ở cồn làng Qui Lai ngày xưa có ngôi miếu thờ một vị tướng Tây Sơn, từng đóng quân ở cồn và tuẫn tiết ở đó. Có người nghe người xưa truyền khẩu, rằng "Bảy Miếu nguyên trước thờ 7 vị có xương cốt không đầy đủ, nằm trong 7 giỏ mây, trôi dạt vào tấp ở ruộng gần xóm Kim Bồng. Có người phát hiện, đắp nấm, thắp hương, lâu dần làng lập 7 bệ nhỏ để thờ". Xóm Kim Bồng, gần Bảy Miếu, ngày càng đông cư dân nên hình thành làng Hòa An.


 


Phải chăng dấu vết hài cốt hoàng tộc nhà Tây Sơn đã hé lộ?


Miếu Thất vị (hay Bảy Miếu) xóm Kim Bồng không có niên đại cụ thể. Trong khi đó miếu Thất vị làng La Qua dù thần bí hơn nhưng có niên đại là năm Gia Long thứ 14 (1815). Tuy nhiên, 7 vị có xương cốt, nằm trong giỏ mây, "lồi" hay "mọc" từ đất là có điểm tương đồng. Ở La Qua có truyền ức rằng có người nhập đồng, tự xưng là vua "Mây", chúa "Lồi" và sự kiện dân làng Hòa An (xóm Kim Bồng xưa), đã phát hiện xương cốt của 7 vong vị trong 7 giỏ mây… là những cơ sở để hình thành một giả thuyết có thể giải thích được một vài tồn nghi lịch sử:


Xóm Kim Bồng ở Thừa Thiên-Huế ngày trước đa phần là người ngụ cư, có gốc thuộc làng nghề Kim Bồng ở Quảng Nam. Làng mộc Kim Bồng của xứ Quảng nằm ở xã Cẩm Kim, đối diện phố cổ Hội An, bên kia bờ con sông Hoài. Nghề mộc Kim Bồng được hình thành từ thế kỷ XV bởi những người Việt đầu tiên từ đồng bằng Bắc Bộ và vùng Thanh - Nghệ - Tĩnh vào khai khẩn vùng đất Cẩm Kim - Hội An thời bấy giờ. Cuối thế kỷ XVI - đầu thế kỷ XVII nghề mộc Kim Bồng bắt đầu phát triển nhờ thương cảng Hội An phồn thịnh. Đến thế kỷ XVIII, Kim Bồng đã phát triển thành làng nghề với 3 nhóm nghề rõ rệt; mộc xây dựng, mộc dân dụng và đóng tàu thuyền bằng gỗ. Nghệ nhân Kim Bồng từng được vua chúa nhà Nguyễn đưa ra kinh đô xây dựng và tôn tạo các công trình thành quách, lăng tẩm, mộc dân dụng và đặc biệt đóng thuyền.


Sông Hương phía hạ lưu có dòng chảy theo hướng nam - bắc, từ Tiên Nộn đến Lại Ân (Ngã Ba Sình), nhưng từ Lại Ân đến xóm Kim Bồng thì dòng chảy theo hướng tây nam - đông bắc, sau đó vờn trước mặt làng Qui Lai theo hướng tây - đông. Đây là nguyên nhân hình thành cồn đất giữa sông ở trước mặt xóm Kim Bồng và làng Qui Lai.


Tháng 11 năm Nhâm Tuất (1802), Vua Gia Long tổ chức lễ Hiến Phù, hành tội Vua Thái Đức Nguyễn Nhạc, Vua Quang Trung Nguyễn Huệ, Chính cung hoàng hậu của Vua Quang Trung, Vua Cảnh Thịnh, hoàng đệ Nguyễn Quang Duy, nữ tướng Bùi Thị Xuân và con gái của bà… Ba thủ cấp của 3 vua Tây Sơn thì giam vào vò, còn lại xương cốt của 3 vua và 4 tử tội khác thì cho vào giỏ mây, làm ô uế, xong bắn ra sông Hương. Các giỏ có xương cốt chìm nổi, trôi theo dòng, làng nào hai bên sông Hương phát hiện những giỏ xương này thì dùng sào lùa giỏ để chúng trôi tiếp…


Sau một khoảng thời gian trôi dạt, có khả năng khi đến khúc quẹo ở vùng đang bồi tạo ven sông Hương, chặng gần xóm Kim Bồng thì tấp vào bờ, dọc theo con hói nào đó, trở thành trầm tích và bị quên lãng theo thời gian. Dân xóm Kim Bồng, canh tác rau màu trên vùng đất bồi phía tây nam của xóm, có khả năng phát hiện những giỏ mây có cốt và có người biết những giỏ này từng đựng hài cốt của những vua, quan Tây Sơn bị hành hình trong lễ Hiến Phù tại Phú Xuân. Người xóm Kim Bồng đã đắp nấm cho các xương cốt nằm trong giỏ mây, bí mật thắp hương thờ phụng dưới vỏ che 7 mộ cô hồn. Dần dà khi cơn sốt trả thù nhà Tây Sơn hạ nhiệt ở Huế, người xóm Kim Bồng đã dựng 7 bệ nhỏ như bệ thờ cô hồn vậy. Về sau khi xóm Kim Bồng trở thành làng Hòa An, 7 bệ thờ được tôn tạo thành miếu Thất vị (Bảy Miếu), không thờ mỗi miếu mỗi vị mà thờ chung với các thiên thần, nhân thần như các làng khác.


Một vị quan Tây Sơn nào đó được triều Nguyễn tha tội, từng biết bí mật về 7 "giỏ mây có hài cốt của tử tội Tây Sơn" gần xóm Kim Bồng ở Huế, đã lui về ẩn dật ở đồi Dương Thần làng La Qua ở Quảng Nam và đã tạo ra truyền thuyết về bảy hòn đá lồi, có hình mặt người, xuất hiện ở làng La Qua, rồi dựng 7 bệ thờ, thực ra chủ đích là hương khói vọng thờ các vua, hoàng hậu, nữ tướng Tây Sơn.  Tiếng đồn đến tai triều đình nhà Nguyễn, nên vị nho sĩ kiêm đạo sĩ bị ghép tội chết và có khả năng ông ta đã trốn thoát vào Bình Thuận. Hành trạng của vị này là cốt lõi của truyền thuyết và có dinh Thầy Thím ở Hàm Tân (Phan Thiết). Về sau dân làng La Qua bí mật thờ cúng vị đạo sĩ này và tạo ra thần thoại Diêm Vương phái người con thứ tám lên dương thế để trợ giúp 7 bà chị vậy.


Hiện tượng những quan quân Tây Sơn phần lớn được tha, về lại quê nhà, có người âm thầm tưởng nhớ nhà Tây Sơn, tạo ra những hình thức thờ cúng bí mật là một hiện thực lịch sử. Miếu Thất vị ở xóm Kim Bồng (làng Hòa An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên-Huế), miếu Thất vị ở làng La Qua huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam), dinh Thầy Thím ở Hàm Tân (thành phố Phan Thiết) có khả năng có liên quan đến 7 giỏ mây có hài cốt vua quan nhà Tây Sơn trong lễ Hiến Phù vào mùa đông năm Nhâm Tuất (1802), từng được phát hiện ở xóm Kim Bồng ở Thừa Thiên. Đó là một khả năng cần kiểm chứng.


Phải chăng, dấu tích  hài cốt Vua Quang Trung cùng một số thành viên  hoàng tộc, công thần, cận tướng đã có manh mối để kiếm tìm?


 


Trần Viết Điền


anninhthegioi

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyễn Phúc Khoát - Tư liệu 28.03.2017
Việt Nam qua ghi chép người phương Tây: Uy thế của Võ vương - Lê Nguyễn 28.03.2017
Việt Nam qua ghi chép người phương Tây: Phủ Võ vương qua mắt y sĩ phương Tây - Lê Nguyễn 27.03.2017
'Văn Thánh' đất Gia Định xưa giờ ở đâu? - Hồ Tường 27.03.2017
Sài Gòn cà phê chó mèo: 'một cún khác đã nghếch chân tè tiếp' - Tư liệu 26.03.2017
Không vỉa hè, những con đường bắt người Sài Gòn đi bộ 'phải phạm luật giao thông' - Nhiều tác giả 24.03.2017
Tôn Vũ (Tôn Tử) & Binh pháp Tôn Tử - Tư liệu 23.03.2017
Tôn Tẫn, Bàng Quyên - Tư liệu 23.03.2017
Danh nhân Đông Tây kim cổ (3) - Lương Văn Hồng 23.03.2017
Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Chiếc mão trang trí bằng 5 lượng vàng ròng - Lương Chánh Tòng 22.03.2017
xem thêm »