tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21094151
17.02.2013
Tư liệu
Vua Gia Long, nhân kỷ niệm 251 năm sinh và 193 năm mất

(chữ Hán: 嘉隆; 8 tháng 2 năm 1762/ 3 tháng 2 năm 1820) là vị Hoàng đế đã thành lập nhà Nguyễn, vương triều phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Ông tên thật là Nguyễn Phúc Ánh (阮福暎 hoặc 阮福映; thường được gọi tắt là Nguyễn Ánh), trị vì từ năm 1802 đến khi qua đời năm 1820.


 


Là cháu của vị chúa Nguyễn cuối cùng ở Đàng Trong, sau khi gần như toàn bộ gia tộc bị quân Tây Sơn bắt giết năm 1777, Nguyễn Ánh phải trốn chạy và bắt đầu cuộc chiến 25 năm với Tây Sơn để khôi phục lại cơ nghiệp của dòng tộc. Sau nhiều thất bại lớn và phải cầu viện sự giúp đỡ của Xiêm La và Pháp, ông giữ vững được Nam Hà và đến năm 1802 thì đánh bại quân Tây Sơn, lên ngôi hoàng đế, thống nhất Việt Nam sau nhiều thế kỷ nội chiến.


 


Triều đại của ông được đánh dấu bằng việc chính thức sử dụng quốc hiệu Việt Nam với cương thổ rộng lớn nhất cho đến thời đó, kéo dài từ biên giới với Trung Quốc tới vịnh Thái Lan; thay thế các cải cách có xu hướng tự do của triều Tây Sơn bằng nền giáo dục và điều hành xã hội theo Nho giáo khắc nghiệt hơn; định đô tại Phú Xuân. Ngoài ra, ông còn là người mở đường cho các ảnh hưởng của người Pháp ở Việt Nam qua việc mời họ giúp xây dựng các thành trì lớn, huấn luyện quân đội và khoan thứ cho việc truyền đạo Công giáo. Dưới triều đại của ông, Việt Nam trở thành một thế lực quân sự hùng mạnh ở Đông Dương, cùng Xiêm La phân chia ảnh hưởng đối với Chân Lạp.


Nguyễn Ánh sinh vào ngày 15 tháng giêng năm Nhâm Ngọ (tức ngày 8 tháng 2 năm 1762) tại Gia Định, là con trai thứ 3 của Nguyễn Phúc Luân và bà Nguyễn Thị Hoàn[1]. Khi còn nhỏ Nguyễn Ánh còn có tên khác là Nguyễn Phúc Chủng và Noãn. Năm ông 4 tuổi, cha ông bị quyền thần Trương Phúc Loan bắt giam và chết trong ngục. Năm ông 9 tuổi (1771), khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ. Năm ông 13 tuổi (1775), chúa Nguyễn bị chúa Trịnh và quân Tây Sơn đánh kẹp từ hai mặt, ông cùng chúa Nguyễn Phúc Thuần chạy vào Quảng Nam rồi vượt biển vào Gia Định[1].


 


Năm 1777, cả Thái Thượng Vương Nguyễn Phúc Thuần, Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương cùng anh ruột Nguyễn Ánh là Nguyễn Phúc Đồng và một số người trong gia tộc khác bị tướng Tây Sơn là Nguyễn Huệ bắt giết, chỉ có một mình ông thoát nạn ở Long Xuyên[2][3]. Ông chạy ra đảo Thổ Chu[3] và được Bá Đa Lộc (Pigneau de Behaine), một giám mục người Pháp, che chở[4].


Sau chừng một tháng trốn chạy, khi Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ đã về Quy Nhơn thì ông lại xuất hiện ở Long Xuyên, tiến lên Sa Đéc với Đỗ Thanh Nhơn và Lê Văn Quân[3]; ông ra hịch cáo quân và thu nhận được thêm một đội quân cùng các tướng Nguyễn Văn Hoằng, Tống Phước Khuông, Tống Phước Luông và Hồ Văn Lân[3]... Tháng 11 năm 1777, ông tập hợp một đạo quân mặc toàn áo tang bất ngờ tấn công dinh Long Hồ và sau đó nhanh chóng đuổi quan trấn thủ Tây Sơn tại Gia Định là Tổng đốc Chu (hay Tổng đốc Châu), lấy lại thành Sài Côn tháng 12 cùng năm.


 


Năm 1778, khi Nguyễn Ánh được 17 tuổi, các tướng tôn ông làm Đại nguyên súy Nhiếp quốc chính[5]. Ông nhanh chóng tổ chức cai trị, phân chia hành chính[6] đất Gia Định dưới sự cố vấn của Bá Đa Lộc[7], xây dựng chiến lũy phòng thủ và củng cố lực lượng thủy bộ[1][8], đặt quan hệ ngoại giao với Xiêm La và sai binh đi chiếm Chân Lạp, biến quốc gia này thành chư hầu năm 1779[9].


 


Tháng 1 năm 1780, Nguyễn Ánh xưng vương, dùng theo niên hiệu Cảnh Hưng của nhà Lê và lấy ấn "Đại Việt quốc Nguyễn chúa Vĩnh Trấn chi bửu" làm ấn truyền quốc[10], phong cho Đỗ Thanh Nhơn chức Ngoại hữu, Phụ chính, Thượng tướng công[11]. Sau đó ông ra sức củng cố và mở mang Phiên An trấn (vùng Sài Gòn-Gia Định-Long An hiện giờ) với mục đích biến vùng này thành căn cứ địa chống Tây Sơn[12]. Cùng năm, người Chân Lạp lợi dùng tình hình nổi lên chống Nguyễn Ánh, ông sai Đỗ Thanh Nhơn và Dương Công Trừng đi đánh dẹp[13].


 


Đỗ Thanh Nhơn vì có nhiều công lớn nên được Nguyễn Ánh đãi trọng[14], nhưng lại có biểu hiện hung bạo, cậy công lấn lướt quyền hành với Nguyễn Ánh, tạo thêm vây cánh thậm chí muốn giành quyền lực[14][15]. Thấy vậy, tướng Tống Phúc Thiêm bèn bày mưu để giết Đỗ Thanh Nhơn[14]. Tháng 3 năm 1781, Nguyễn Ánh cùng tướng Tống Phúc Thiêm lập mưu giả bệnh, gọi Thanh Nhơn đến rồi sai võ sĩ giết chết[14][15]. Đây là một việc gây nhiều tai hại cho Nguyễn Ánh: sau đó dù ông đã nhanh chóng đưa ra chính sách làm suy yếu quân Đông Sơn của Đỗ Thanh Nhơn, nhưng họ vẫn phản lại Nguyễn Ánh, khiến ông phải đánh dẹp mãi, trong việc đánh dẹp này Thống binh Tống Văn Phước tử trận[9][14].


Quan hệ với Xiêm La


Tháng 10 năm 1781, Xiêm La đưa quân sang đánh Chân Lạp. Nguyễn Ánh cho quân sang cứu. Khi quân Việt và quân Xiêm còn đang đánh nhau thì ở vương quốc Xiêm La, vua Xiêm La là Trịnh Quốc Anh bắt vợ con hai tướng Xiêm chỉ huy rồi sau đó có loạn. Điều đó buộc hai tướng Xiêm là Chất Tri và Sô si phải thỏa hiệp với quân Việt, thề cứu nhau trong lúc hoạn nạn rồi rút về nước dẹp loạn Phan Nha Văn Sản và giết quốc vương Trịnh Quốc Anh. Chất Tri lên ngôi, tức vua Rama I của Xiêm La, mở đầu nhà Chakri[9]. Chính biến ở Xiêm khiến quan hệ giữa Nguyễn Ánh và Xiêm thay đổi: từ chỗ đối kháng trở thành đồng minh.


 


Thất thế trước Tây Sơn


Cũng trong mùa hè năm 1781, quân đội của Nguyễn Ánh lên đến khoảng 3 vạn người với 80 chiến thuyền đi biển, 3 thuyền lớn[16] và 2 tàu Bồ Đào Nha do giám mục Bá Đa Lộc giúp Nguyễn Ánh mời được[14][17]. Ông tổ chức tấn công Tây Sơn đánh tới tận đất Phú Yên nhưng sau cùng phải rút chạy vì gặp bộ binh rất mạnh của Tây Sơn[17]. Tức giận vì tốn kém nhưng không thu được kết quả, quan lại Gia Định để cho một người phụ việc của Bá Đa Lộc là cai cơ Manuel[a] lập mưu giết chết các tay lính đánh thuê Bồ Đào Nha và cướp tàu của họ[17].


 


Tháng 3 năm 1782, Nguyễn Huệ cùng vua Thái Đức mang quân thuỷ bộ Nam tiến. Tây Sơn đụng trận dữ dội ở sông Ngã Bảy, cửa Cần Giờ với quân Nguyễn do chính Nguyễn Ánh chỉ huy. Dù lực lượng thuyền của Tây Sơn yếu hơn, nhưng nhờ lòng can đảm của mình họ đã phá tan quân Nguyễn, buộc Manuel tự sát, tuy vậy cũng thiệt hại khá nhiều binh lực[18]. Nguyễn Ánh bỏ chạy về Ba Giồng, rồi có khi trốn sang tận rừng Romdoul, Chân Lạp[19]. Vua Thái Đức khi chiếm lại Nam bộ gặp phải sự chống đối mạnh của người Hoa ủng hộ Nguyễn Ánh tại đây khiến cho một thân tướng là Đô đốc Phạm Ngạn tử trận, binh lính thương vong nhiều, nên ông rất đau đớn rồi nổi giận ra lệnh tàn sát người Hoa ở Gia Định để trả thù[20][21]. Việc này đã cản chân Tây Sơn trong việc truy bắt Nguyễn Ánh, khiến cho Nguyễn Ánh có cơ hội quay trở về Giồng Lữ, một đô đốc Tây Sơn là Nguyễn Học đem quân đuổi theo Ánh bị quân Nguyễn bắt giết khiến cho Nguyễn Ánh có được 80 thuyền của Tây Sơn. Nguyễn Ánh thấy vậy định kéo về chiếm lại Gia Định nhưng đụng Nguyễn Huệ dàn binh quay lưng ra sông đánh bại khiến Nguyễn Ánh phải chạy về Hậu Giang, Rạch Giá, Hà Tiên rồi theo thuyền nhỏ trốn ra Phú Quốc[22].


 


Thấy Nguyễn Ánh đã hết sức phản kháng, anh em Tây Sơn rút quân về Qui Nhơn, để lại hai hàng tướng của quân Đông Sơn là Đỗ Nhàn Trập và Hộ bộ Lãnh trấn giữ Gia Định[23]. Châu Văn Tiếp, một tướng trước đây từng theo Tây Sơn, cùng Nguyễn Phước Mân lại từ Bình Thuận mang quân vào đánh chiếm được Gia Định và đón Nguyễn Ánh trở về. Nguyễn Ánh tìm cách tổ chức lại Gia Định nhưng quân của ông rất yếu ớt vì các thất bại trước, buộc ông phải sai sứ là Lê Phước Điển và Lê Phước Bình[24] sang Xiêm trước để đề phòng Tây Sơn vào, đồng thời ủy thác cho Bá Đa Lộc chuẩn bị trước thuyền bè để khi Tây Sơn đến có đường mà đi[25]. Tháng 2 năm 1783, Nguyễn Nhạc lại sai Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ mang quân Nam tiến. Dù Nguyễn Ánh đã lập tuyến phòng thủ trước[26][27] nhưng vẫn bị quân Tây Sơn phá tan, tướng của Nguyễn Ánh là Nguyễn Phước Mân bị giết chết, Dương Công Trừng bị bắt. Nguyễn Ánh buộc phải bỏ chạy về Phú Quốc. Nhưng một tháng sau ông lại tụ tập được một đạo quân người Chân Lạp dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huỳnh Đức quay về Đồng Tuyên[24][25]. Nguyễn Huệ đánh phá Đồng Tuyên, bắt hoặc giết hầu như toàn bộ tướng của Nguyễn Ánh[25], buộc ông lại bỏ chạy ra đảo Phú Quốc, ở tại đảo Diệp Thạch (hòn Đá Chồng)[24][28]. Sau trận Đồng Tuyên, quân binh người Hoa trở mặt làm phản, chiếm Hà Tiên, giết chết tướng của Ánh là Nguyễn Kim Phẩm và công chúa Ngọc Hoa. Ở vùng đảo thuộc Vịnh Thái Lan, Nguyễn Ánh thu nạp được một số hải tặc Xiêm La, rồi ông tổ chức các đợt cướp vùng Hà Tiên để kiếm khí giới và lương thực cho binh lính, các hoạt động này khiến cho nơi trú ẩn của Nguyễn Ánh bị lộ[29].


 


Tháng 6 âm lịch năm 1783, một tổng suất của quân Tây Sơn là Phan Tuấn Thuận truy kích, Nguyễn Ánh trốn bằng cách cưỡi trâu lội qua sông rồi đem mẹ và vợ con ra Phú Quốc[10]. Quân Tây Sơn truy tới nơi, nhờ tướng Lê Phước Điển mặc áo ngự đóng giả Nguyễn Ánh khiến Tây Sơn bắt nhầm[10][28][29]; ông chạy thoát chạy ra được đảo Cổ Long, mất hết thuộc tướng[24][29]. Một tháng sau, dò biết được Ánh đang ở Phú Quốc[28], Nguyễn Huệ sai phò mã Trương Văn Đa của Tây Sơn kéo quân vây đánh 3 vòng trùng trùng điệp điệp, nhưng lúc đó có bão biển, các thuyền Tây Sơn phải giãn ra và một số bị đánh đắm[30], Nguyễn Ánh thừa cơ lên thuyền trốn sau 7 ngày đêm lênh đênh trên biển, ông quay ra hòn Cổ Cốt rồi về đảo Phú Quốc[10][31]. Thời gian này, vì thiếu lương thực binh sĩ ông phải đi hái cỏ, đào củ để ăn[31].


 


Nguyễn Ánh vẫn tiếp tục quay lại Gia Định, ông cùng một cai cơ tên Nguyễn Văn Chính quay về Long Xuyên, bắt giết được một vị tướng của Tây Sơn tên là Quản Nguyệt, việc này đã đánh động đến Tây Sơn khiến cho ông suýt bị bắt, lại phải trốn đi trôi dạt qua các đảo Thổ Chu, Cổ Long, Cổ Cốt sống cuộc đời lưu vong "phẫn chí của một viên bại tướng" với vài trăm binh và thân cận[32].


 


Thời gian này, với những khó khăn gặp phải và mối quan hệ của Nguyễn Ánh với Bá Đa Lộc ngày càng thắt chặt, hình ảnh nước Pháp ngày càng lớn dần trong tâm trí của Nguyễn Ánh, kèm theo lời bày của Bá Đa Lộc[33], Nguyễn Ánh nảy sinh ý định cầu viện Pháp.


 


Vào cuối năm 1783, Nguyễn Ánh giao cho Bá Đa Lộc một tờ quốc thư 14 khoản cầu viện Pháp và quốc ấn để vị giám mục này được toàn quyền thay mặt Nguyễn Ánh[33] sang Pháp cầu viện triều đình vua Louis XVI. Đi kèm với Bá Đa Lộc là con cả của Nguyễn Ánh là Nguyễn Phúc Cảnh[33] và các tướng Phạm Văn Nhơn, Nguyễn Văn Liêm[24]. Sinh mạng của cậu bé về sau trở thành hoàng tử trưởng nhà Nguyễn, khi ấy mới lên 4 tuổi bị đưa ra "thế chấp" "làm con tin" trong cuộc cầu viện này[34][35]. Sau đó ông từ biệt gia quyến đi nơi khác[24].


 


Cầu viện Xiêm La


Khi Bá Đa Lộc chưa kịp đi vì trái mùa gió[33] thì Nguyễn Ánh liên tiếp gặp những thất bại trước quân Tây Sơn, do đó ông có ý chuyển sang cầu viện Xiêm La[33]. Nguyên trước đó, khi Nguyễn Ánh còn phải lênh đênh trốn chạy, tướng của ông là Châu Văn Tiếp chạy thẳng qua Xiêm cầu cứu. Đến tháng 2 năm Giáp Thìn (tháng 5 năm 1784), vua Xiêm La là Rama I cho tướng Thạt Xỉ Đa đem thuyền sang Hà Tiên đón[36]. Nguyễn Ánh, trước đó nhận được thư của Châu Văn Tiếp, tới Long Xuyên hội kiến tướng Xiêm rồi cùng 30 viên quan và mấy chục tướng sĩ theo sang Xiêm La hội kiến vua Xiêm tại Vọng Các (Bangkok) vào tháng 3 năm 1784[36] mà không màng việc thân tướng là Nguyễn Văn Thành hết sức can ngăn việc cầu ngoại viện này[37]. Đánh giá hành động này của Nguyễn Ánh, cầu viện quân đội nước ngoài vì lợi ích gia tộc, sử gia Nguyễn Lương Bích và Phạm Ngọc Phụng trước đây gọi là "rước voi về giày mả tổ" và "cõng rắn cắn gà nhà"[38]. Tuy nhiên, ngày nay các nhà sử học Việt Nam đã có cách nhìn khác về việc nhờ cậy Xiêm của Nguyễn Ánh, đơn cử như ý kiến của sử gia Phan Huy Lê như sau: "Trước đây có quan điểm cực đoan gọi đây là hành động "cõng rắn cắn gà nhà", là "bán nước". Đúng là không thể biện hộ cho hành động "không sáng" này, cũng có thể coi là một tì vết trong sự nghiệp của Nguyễn Ánh, nhưng phải nhìn nhận công bằng. Trong những cuộc đấu tranh bên trong quyết liệt, việc nhờ đến ngoại viện là chuyện thường xảy ra trong lịch sử. Nhưng điều quan trọng nhất là người cầu ngoại viện phải giữ được độc lập chủ quyền của dân tộc, đưa lại lợi ích cho đất nước, còn nếu cầu ngoại viện mà bất lực để mất nước thì có tội lớn."[39].


 


Vua Xiêm nhân cũng đang có chiến tranh với Tây Sơn nên đồng ý giúp Nguyễn Ánh để dùng ông phân tán lực lượng Tây Sơn,[40] hai tướng là Chiêu Tăng, Chiêu Sương nhận lệnh đem 2 vạn quân thủy cùng 300 chiến thuyền. Ngoài ra còn có 3 vạn quân bộ tiến sang Chân Lạp với danh nghĩa giúp vua Chân Lạp, thực chất với ý đồ tạo gọng kìm phía Tây, chờ cơ hội tiêu diệt quân Tây Sơn[41]. Quân Xiêm nhanh chóng lấy được Rạch Giá, Ba Thắc, Trà Ôn, Mân Thít, Sa Đéc[42] và làm đủ điều tàn bạo với dân chúng khiến cho Nguyễn Ánh rất thất vọng[36]; riêng Châu Văn Tiếp thì tử trận tại Mân Thít[43]. Tướng Tây Sơn giữ đất Gia Định là phò mã Trương Văn Đa, thấy quân Xiêm thế lực mạnh, bèn cố thủ tại Gia Định và sai người về Quy Nhơn báo. Vua Tây Sơn sai Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ đem quân vào đánh. Tây Sơn đã thắng lẫy lừng trong trận Rạch Gầm - Xoài Mút. Chỉ một trận quyết chiến diễn ra không đầy một ngày đã tiêu diệt gần 2 vạn quân Xiêm, chỉ sót vài nghìn người[44][45] chạy theo đường thượng đạo trốn về nước. Các tướng Chiêu Tăng, Chiêu Sương chạy theo đường bộ về Xiêm; còn Nguyễn Ánh phải bỏ chạy theo đường thủy qua Thổ Chu rồi về Cổ Cốt, sau đó một viên cai cơ tên Trung đem binh Xiêm đến đưa về Vọng Các, Xiêm La[46].


 


Lưu vong ở Xiêm và Hiệp ước với Pháp


Sau một năm chuẩn bị, tháng 12 năm 1784[47] giám mục Bá Đa Lộc cùng Nguyễn Phúc Cảnh và phái đoàn đem quốc thư của Nguyễn Ánh xuống thuyền đi Malacca rồi sang Pondichéry ở Ấn Độ (thuộc Pháp), còn Nguyễn Ánh đưa mẹ và vợ sang trú ở Long Kì (hay Đông Khoai, Vọng Các)[48]. Nguyễn Ánh cũng thu nhận được thêm một số binh tướng từ Đại Việt sang, ông cho tổ chức lại binh tướng trên đất Xiêm, lâu lâu cho quân đột kích về Gia Định[46]. Đồng thời, ông cũng giúp vua Xiêm đánh Miến Điện và Mã Lai, nên Xiêm La rất hậu đãi[49]. Khoảng năm 1787, thực dân Bồ Đào Nha từ Macao sang Xiêm gặp và đặt vấn đề giúp Nguyễn Ánh, Nguyễn Ánh cũng sai sứ đi, nhưng việc không thành vì những đòi hỏi của Bồ Đào Nha cũng như sự không vừa lòng của vua Xiêm[50][51].


Do một số vấn đề rắc rối tại Pondichéry, mãi đến tháng 2 năm 1787 Bá Đa Lộc và Nguyễn Phúc Cảnh mới tới hải cảng Lorient ở Pháp và mất một thời gian vận động, đầu tháng 5 năm 1787 họ mới được gặp vua Louis XVI. Ngày 28 tháng 11 năm 1787[52], tại cung điện Versailles, Bá Đa Lộc với tư cách là đại diện của Nguyễn Ánh đã ký với Thượng thư Bộ Ngoại giao Pháp là Armand Marc, một bản hiệp ước "Tương trợ tấn công và phòng thủ" (thường gọi là Hiệp ước Versailles). Hiệp ước này gồm có 10 khoản, nội dung chính là về việc vua Pháp cam kết cung cấp cho Nguyễn Ánh 4 chiếc tàu chiến loại frégaté cùng 1.200 bộ binh 200 pháo binh và 250 lính Cafres (lính da đen châu Phi)[52] và các phương tiện trang bị vũ khí tương ứng; ngược lại Nguyễn Ánh chấp thuận nhường cửa biển Đà Nẵng và quần đảo Côn Lôn cho Pháp, cho phép người Pháp được quyền tự do buôn bán và kiểm soát thương mại của người nước ngoài ở Việt Nam[53], mỗi năm sẽ đóng trả cho Pháp một chiếc tàu giống với loại tàu Pháp viện trợ đồng thời cung cấp lương thực và quân nhu thiết yếu cho Pháp khi Pháp có chiến tranh với một nước khác ở khu vực Viễn Đông[54].


 


Các sử gia về sau cho rằng tuy là ký kết dưới danh nghĩa Nguyễn Ánh, nhưng người chịu trách nhiệm về việc soạn ra các điều khoản đặc biệt có lợi cho phía Pháp trong hiệp ước này có thể là giám mục Bá Đa Lộc chứ không phải là chính bản thân Nguyễn Ánh; nếu không có lệnh đình chỉ việc thực thi điều ước thì khi trao đổi văn kiện chưa chắc Nguyễn Ánh đã chịu chấp nhận một hiệp ước bất bình đẳng như thế này[55]. Nhưng dù như thế nào, Hiệp ước Versailles năm 1787 không thành hiện thực[56].


 


Củng cố thế lực


Về nước


Sau 3 năm lưu vong ở Xiêm, thấy vua Xiêm ngày càng tỏ ra không vừa lòng vì lực lượng của Nguyễn Ánh trở nên quá mạnh, ông viết thư cảm ơn rồi ban đêm lặng lẽ trở về vùng Gia Định[57][58] vào tháng 8 năm 1787 để tập hợp lực lượng; đóng quân tại Nước Xoáy (Hồi Oa), Sa Đéc thuộc vùng Hậu Giang[28]. Thời gian này ông cũng nhận được sự giúp đỡ mạnh mẽ hơn của người Pháp thông qua giám mục Bá Đa Lộc. Trong lúc Nguyễn Huệ bận đối phó với quân Thanh tại Bắc Hà (1788-1789), vùng Gia Định dưới quyền Tây Sơn cũng không ổn định, quân Tây Sơn bị cô lập trước dân chúng địa phương vốn có nhiều cảm tình với Chúa Nguyễn nói chung và Nguyễn Ánh nói riêng,[59] tướng Tây Sơn giữ Long Xuyên là Chưởng cơ Nguyễn Văn Trương hàng quân Nguyễn và Nguyễn Ánh lại thu nhận được nhiều binh lính địa phương; sau đó ông bắt đầu tổ chức tấn công Tây Sơn[58]. Đông Định vương Nguyễn Lữ nghe tin Nguyễn Ánh trở về vội vã tránh đi nơi khác để Gia Định cho Phạm Văn Tham (hay Phạm Văn Sâm) giữ[60]. Sau đó thế quân Nguyễn Ánh ngày càng mạnh khiến Nguyễn Lữ sợ hãi mang quân bản bộ rút chạy về Quy Nhơn.


 


Mặc dù sau đó Phạm Văn Tham đã nỗ lực chống trả nhưng vì không nhận được viện binh, lại trúng mưu Nguyễn Ánh ly gián với Nguyễn Lữ[58] và cuối cùng là cái chết vì bệnh của Nguyễn Lữ đã làm thế Tây Sơn ở Gia Định ngày càng yếu đi[60]. Phạm Văn Tham vẫn cố đơn độc chiến đấu, nhiều lần đánh lui quân Nguyễn, có lần đã buộc Nguyễn Ánh và thuộc hạ phải chạy tới tận Cù lao Hổ[61]. Nhưng thế Nguyễn Ánh vẫn còn vững do việc ông đã lập tức tìm cách củng cố thế đứng ngay khi chiếm được Mỹ Tho: ông cho thành lập các dinh trấn, cho các tướng quản lý, tổ chức lại quân đội[62].


 


Quân tướng theo Nguyễn Ánh ngày càng đông, Phạm Văn Tham vẫn cố chống cự để chờ viện binh, nhưng lúc đó Thái Đức Hoàng đế chỉ lo phòng bị Bắc Bình vương Nguyễn Huệ ở phía Bắc mà không đoái hoài đến việc cứu phía Nam[63].


 


Quân Tây Sơn ở Gia Định ngày càng thế cùng sức kiệt và không ngừng bị quân Nguyễn Ánh bao vây chia cắt, chiêu hàng tướng sĩ. Đến năm 1788, Võ Tính đem hơn 1 vạn quân theo Nguyễn Ánh[64]. Cùng năm, Nguyễn Ánh tấn công và lấy được Gia Định[65], Phạm Văn Tham rút ra ngoài tiếp tục chống trả. Đầu năm 1789, Phạm Văn Tham bị Nguyễn Ánh vây chặt, lại bịt đường ra biển về Quy Nhơn nên buộc phải đầu hàng. Tây Sơn lại mất Nam Hà[65].


 


Người Pháp giúp đỡ


Ngày 27 tháng 12 năm 1787, Bá Đa Lộc cùng Nguyễn Phúc Cảnh rời Pháp và trở lại Pondichéry để đợi sự chi viện từ phía chính quyền Louis, nhưng ngày 14 tháng 7 năm 1789 giai cấp tư sản Pháp đã làm cuộc cách mạng lật đổ triều đại phong kiến Louis, thiết lập nền cộng hòa tư sản, cộng thêm việc Bá tước nhận trách nhiệm chi viện là De Conway vốn có hiềm khích với Bá Đa Lộc đã tấu sàm, nước Pháp tỏ ra không muốn nhắc đến hiệp ước cũ nữa[66]. Chờ mãi không nhận được sự chi viện từ Bá tước De Conway[66], giám mục Bá Đa Lộc đã tự quyên góp tiền từ các thương gia có ý định đặt cơ sở buôn bán ở Đại Việt cùng với số tiền 15.000 franc Pháp của gia đình mình cho, đem mua súng đạn và tàu chiến. Tháng 7 thì Bá Đa Lộc cùng Nguyễn Phúc Cảnh về đến Gia Định. Các hoạt động quyên góp sau này về tiền hay xây dựng, sửa sang thành Gia Định, Vĩnh Long, Châu Đốc, Hà Tiên, Biên Hòa, Bà Rịa, huấn luyện cơ đội pháo thủ, tổ chức bộ binh và rèn luyện tập binh lính theo lối châu Âu, trung gian mua tàu chiến và vũ khí... đều có sự góp sức của những người Pháp mà do Bá Đa Lộc chiêu mộ, kêu gọi[67]. Việc củng cố Gia Định cộng thêm sự giúp đỡ từ người Pháp đã giúp cho thế lực của Nguyễn Ánh ngày càng mạnh, có thể đối đầu với Tây Sơn[66].


 


Các hoạt động giúp đỡ Nguyễn Ánh về mặt quân sự của giám mục Bá Đa Lộc không phải là sự trợ giúp chính thức của chính phủ Pháp mà chỉ là hành động tự nguyện của một nhóm người theo sự vận động cá nhân của giám mục. Thực tế này đã bị cuộc cách mạng 1789 ở Pháp biến thành một "sự nhập nhằng không rõ ràng" và những biến động liên tục của nước Pháp từ cuộc cách mạng này khiến hơn nửa thế kỷ sau nước Pháp luôn phải hoài nghi và nuôi hy vọng hão huyền về những quyền lợi tại Việt Nam mà họ nghĩ lý ra là họ phải được nhận. Chính phủ Pháp chỉ còn ghi nhớ hiệp ước 1787 về công cuộc trợ giúp của người Pháp đối với Nguyễn Ánh ở Việt Nam, ngoài ra không còn một bằng cớ xác đáng nào về vấn đề đó[56].


 


Ổn định Nam Hà


Quân Tây Sơn vào thời gian này thường xuyên đột kích Gia Định để lấy lương thực vào mùa gặt. Vì vậy, hành động đầu tiên của Nguyễn Ánh sau khi chiếm được thành Gia Định nhờ các sĩ quan Pháp trong quân đội mình xây dựng một tòa thành kiểu châu Âu trên đất Gia Định. Tòa thành này bắt đầu được xây dựng vào năm 1789[68], do hai sĩ quan Pháp là Theodore Lebrun và de Puymanel thiết kế với tổng nhân công xây dựng là 30.000 người.[69] Việc xây dựng này đã buộc quan lại Gia Định phải áp một mức thuế cao, và các nhân công lao động bị buộc phải làm việc tới cực hạn, khiến cho một cuộc nổi loạn xảy ra. Đến năm 1790[68], tòa thành hoàn tất với chu vi khoảng 4176 mét, xây theo theo kiểu Vauban[69], có ba mặt được sông nước che chở[70] có tên là Bát Quái, Nguyễn Ánh cho đặt Phiên An trấn thành Gia Định kinh (kinh thành hay thủ phủ Gia Định)[68]. Việc xây dựng tòa thành này đã khiến cho Tây Sơn không bao giờ tìm cách chiếm lại Gia Định nữa, đem đến cho Nguyễn Ánh một lợi thế nhất định trước kẻ thù chính của ông[71]. Nguyễn Ánh tỏ ra rất thích thú về mảng kỹ thuật xây thành quách của phương Tây, ông yêu cầu các sĩ quan Pháp đi về châu Âu và tìm cho ông các sách và nghiên cứu về chủ đề này[72][73].


 


Cũng trong thời gian này, ông cũng tổ chức lại chính quyền bằng cách lựa các viên tham mưu quân đội chuyển qua các bộ lập thành một triều đình, đồng thời cho tăng cường phát triển giáo dục, mở khoa thi[74], thu dùng các nhân sĩ người Việt và Minh Hương đã theo ông trước đó[62]. Năm 1788, Nguyễn Ánh cho lập kho Bốn Trấn[c] làm kho chung cho các trấn Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, và Định Tường để thu thuế và làm ngân quỹ cấp lương bổng cho quan lại[75]. Đến tháng 6 năm 1789, ông đưa ra chính sách lấy sản xuất nông nghiệp làm trọng trên cơ sở số lớn đất đai phì nhiêu nhưng lại bị bỏ hoang nhiều vì cả lý do cộng đồng di dân chưa định hình lẫn chiến tranh liên miên ở vùng Gia Định[75][76]. Nguyễn Ánh cho đặt nhóm quan điền toán gồm 12 người (một số vị nổi bật là Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tòng Châu, Hoàng Minh Khánh) để đi bốn dinh miền Nam là Phiên Trấn, Trấn Biên, Trấn Vĩnh, Trấn Định để đốc thúc nhân dân làm việc nông nghiệp, phàm ai lười biếng sẽ bị bắt sung quân.[77] Ngoài ra, Nguyễn Ánh còn đề ra chính sách là nếu người hoặc nhóm người làm ruộng đất tốt thu trên 100 thùng lúa, còn ruộng đất xấu thu trên 70 thùng lúa thì sẽ được thưởng như sau: dân thường sẽ được miễn việc xâu (những việc quan lại cần nhân công địa phương làm như đào kênh, đắp thành) một năm; phủ binh thì sẽ được miễn đi đánh nhau một năm.[75] Còn về những người dân lậu (người không ở trong sổ bộ quản lý của địa phương) cũng có thể làm ruộng dưới sự chăm sóc của quan điền toán và được xem như là một người lính; nếu như họ thiếu vốn thì cũng có thể được cho vay trả sau[75]. Từ tháng 10 năm 1790, binh lính cũng được huy động vào việc sản xuất nông nghiệp khi phép Ngụ binh ư nông được thi hành[75][78]. Binh lính được khuyến khích cầy cấy để tận dụng các mảnh đất bị bỏ hoang vì chiến tranh[79]. Nhóm Trung Quân và các nhóm thủy quân được cử đến khai thác vùng Thảo Mộc Câu (sông Vàm Cỏ ngày nay) lập ra trại Đồn Điền dưới sự chỉ huy của chánh cơ Nguyễn Bình. Trại này được nhà nước trợ cấp dụng cụ và giống cây, phần thu hoạch được sẽ sung vào kho công.[80] Các quan địa phương khác cũng phải lập đội đồn điền và nộp thuế theo hạn mức 6 hộc lúa mỗi người trong đội; bất cứ ai tuyển được 10 người trở lên sẽ được làm quan quản trại và trừ tên trong sổ làng (tức là khỏi đi lính).[80] Số lúa gạo thu được từ các đồn điền này được giữ trong một kho gọi là kho Tích Trữ (về sau đổi thành kho Đồn Điền hay Đồn Điền khố theo âm Hán-Việt)[81][82].


 


Để có thêm lúa gạo phục vụ chiến tranh, Nguyễn Ánh cho đặt thêm thuế phụ ngoài thuế ruộng (thuế điền) một năm hai kỳ thu là thuế thị túc và thị nạp. Mức thu như sau[80]:


    Năm 1792, từ một tới năm phương lúa trên một người


    Năm 1799, vùng Bình Định và Phú Yên nộp 17 thăng gạo cho mỗi mẫu ruộng


    Năm 1800, mỗi người ở Gia Định nộp hai phương gạo (riêng người già và tàn tật thì chỉ nộp một nửa). Ruộng mỗi mẫu sẽ nộp 1 phương gạo.


Tới năm 1791, Nguyễn Ánh cho đặt một lệ về việc khẩn hoang rằng ba năm đầu từ ngày khẩn hoang sẽ miễn thuế. Ai muốn khẩn hoang phải nộp đơn trước 20 ngày, sau hạn này ruộng sẽ giao cho binh lính, dân chúng không được quyền tranh chấp nữa[83].


Các chính sách cải cách nông nghiệp này đã khiến việc sản xuất lúa gạo ở vùng Gia Định tăng cao và giúp rất lớn cho việc chiến tranh với Tây Sơn của Nguyễn Ánh. Trong thời gian này, ông có thể nuôi được một đội quân lên đến 30.000 lính và 1.200 thuyền chiến (ước tính năm 1800)[76], cũng như đáp ứng nhu cầu quân nhu các lần ông đi đánh nhau với Tây Sơn ở Diên Khánh (năm 1795 và 1796) và Quy Nhơn (năm 1799) một cách "không hề thiếu thốn"[83]. Một chứng minh khác cho việc dư lúa gạo này là việc năm 1802 có nạn đói lớn ở Gia Định, Nguyễn Ánh lấy kho gạo quân ra phát cho dân và cho giảm thuế ruộng ở Gia Định[83]. Cùng trong thời gian này, khi nghe tin quân Thanh giúp Lê Chiêu Thống sang đánh Tây Sơn, Nguyễn Ánh từng sai Phạm Văn Trọng và Lâm Đồ[57] mang thư và chở 50 vạn cân gạo ra giúp quân Thanh nhưng thuyền đi giữa đường bị đắm hết; cũng đồng thời bên Xiêm La có hạn hán, Nguyễn Ánh cho xuất 8.800 vuông gạo để giúp[84]. Sử gia Tạ Chí Đại Trường nhận xét những việc trên như sau: "... Chính sách đồn điền nhằm vào việc khai phá đất đai làm ruộng bằng cách khiến moi người không dừng được, phải tham gia với sự đôn đốc, kiểm soát, trợ giúp của chính phủ. Đó là một chính sách nông nghiệp cưỡng ép, có từ xưa nhưng bây giờ lại được áp dụng trên một quy mô rộng lớn, khiến vùng Gia Định trở nên phồn thịnh, sản xuất dồi dào quyến rũ được đám dân nghèo đói Bình Thuận, Phú Yên… bỏ xứ chạy vào làm tăng dân số, uy tín nội bộ cho Nguyễn Ánh, để dư gạo giúp Xiêm đói, giúp Thanh đánh Tây Sơn và cuối cùng để đủ binh lương cho quân lính dùng khi tràn ra phía Bắc đánh đám người kiệt hiệt đã làm ông khốn đốn khi xưa"[84]. Đánh giá chung về thành quả khai khẩn mà Nguyễn Ánh đã làm ở miền Nam của Việt Nam, sử gia Trần Trọng Kim có nói "Cách Nguyễn Vương khai khẩn đất Gia Định thật là khôn khéo, khiến cho đất Nam Việt trước là một chỗ đất bỏ hoang, không có người ở, mà sau thành ra một nơi rất đông người và rất trù phú trong nước Nam ta. Ấy cũng là một cái công lớn của ông Nguyễn Phúc Ánh vậy."[82]


 


Ngoài ra, Nguyễn Ánh còn gặp khó khăn với cư dân bản địa của vùng Gia Định là người Khmer vì tính nay đầu mai đánh của họ, ông phải cho hai tướng người Khmer của mình về coi các vùng có số dân Khmer đông để thiết lập các khu vực tự trị, đề ra các chính sách và luật lệ hạn chế xung khắc với người Việt[85], việc tương tự cũng diễn ra ở khu vực Hà Tiên[62]. Đối với người Hoa, ông đưa ra chính sách đối xử với họ cũng giống như người Việt: cũng phải nộp thuế, đi lính; lập chức Tổng phủ người Hoa cai quản hai vùng phức tạp Ba Thắc và Trà Vinh[85]. Ngoài ra, ông cũng cho kiểm tra dân số để tiện việc bắt lính và thu thuế, đưa ra các chính sách chống trộm cướp và gìn giữ an ninh[86]; các hình thức tệ nạn như phù thủy, đổ bác, đồng bóng, hát xướng đều bị cấm[87]. Đồng thời đưa ra chính sách hạn chế việc nấu rượu để tiết kiệm gạo, cho thuộc quan tổ chức các hoạt động mua vui cho dân chúng[86].


 


Để tăng cường quân đội, kinh tế và phòng thủ, từ tháng 10 năm 1788, ông cho người bắt tráng đinh thành lập các phủ binh[88]. Đồng thời, việc mua bán với nước ngoài cũng được khuyến khích và kiểm soát chặt chẽ (nhất là đối với các mặt hàng có liên quan tới quân sự như kẽm, sắt, đồ đồng, diêm, lưu huỳnh[83]), để có thêm nguồn tài chính và binh khí[88]. Hễ thuyền nào có chở các thứ trên thì quan lại ở Gia Định sẽ mua rồi thanh toán lại bằng gạo tùy theo số hàng ít hay nhiều. Đối với vũ khí mà các thuyền buôn của người Châu Âu mang đến, Nguyễn Ánh giao cho các quan chỉ huy quân sự ở Trấn Biên mua lại bằng đường cát.[82]


 


Ở Cần Giờ, Đồng Tranh, Vũng Tàu, ông cho dựng các phong hỏa đài, các Thành Cá Trê, Thành Vàm Cỏ được xây lại, các tướng thân cận chia ra đóng quân và tuần tiễu ở các nơi[88]. Kỷ luật quân đội được Nguyễn Ánh siết chặt và ông thực hiện luân chuyển "binh luôn theo tướng" để đảm bảo khả năng chỉ huy luôn ở mức tốt nhất[89]. Bên cạnh đó, Nguyễn Ánh còn cho lựa ra các quân tinh nhuệ, hăng hái đánh kẻ địch của ông để luyện tập kỹ càng và cấp lương hậu, tạo ra một nhóm quân riêng gọi là quân chiến tâm.[80] Ngoài ra, để cổ vũ tinh thần quân lính, ông rất quan tâm đến việc phong thưởng và đãi ngộ binh sĩ tử trận và có công[78]: lập sở Hoạn dưỡng để chăm sóc thương binh, các đền Hiển Trung, Sinh Trung để thờ cúng binh sĩ tử trận[90].


 


Nhận thấy địa thế Gia Định là sông ngòi và biển nhiều, ông ra sức lập các xưởng đóng thuyền và Thủy Sư cho đóng thuyền với nhiều kiểu, mà quan trọng nhất là chiến thuyền để phát triển hải quân: thuyền hải đạo, đại hiệu dùng đi biển, thuyền chiến với hình thức tàu buôn cải tiến phần mui và kích thước, âu thuyền.. Đến năm 1797 có cho đóng thuyền lớn kiểu Tây Dương[89].


 


Đồng thời với các việc trên là công cuộc giao thiệp với ba nước lớn Xiêm La, Chân Lạp, Vạn Tượng: ông cho quân chiếm đóng Chân Lạp, giữ quan hệ hòa hiếu với Xiêm La để yên ổn với Vạn Tượng (khi này trong tầm khống chế của Xiêm La), ngoài ra còn có quan hệ với một ít quốc gia nhỏ khác[91]. Kết quả là cả ba quốc gia lớn đều có sự giúp đỡ ít nhiều cho Nguyễn Ánh trong cuộc chiến của mình[92].


 


Bắc tiến thắng lợi


Tây Sơn suy yếu


Năm 1790, Nguyễn Ánh sai tướng đem 5000 quân thủy bộ ra đánh chiếm được Phan Rí và Bình Thuận. Đến năm 1792, nương theo gió Nam, ông sai hai tướng Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Thành cùng hai sĩ quan đánh thuê người Pháp là Dayot và Vannier đánh một trận và đốt phá thủy trại Tây Sơn tại Thị Nại rồi rút về[93].


 


Sau khi chiến thắng quân Thanh, vua Quang Trung đang chuẩn bị phối hợp với vua anh đem quân vào Nam đánh Gia Định thì đột ngột qua đời (1792), con là Nguyễn Quang Toản còn nhỏ tuổi lên nối ngôi, hiệu là Cảnh Thịnh. Loạn lạc liền nổ ra ở Bắc Hà: sĩ phu trung thành với nhà Lê nổi lên tôn Lê Duy Cận làm minh chủ, Duy Cận liên lạc với Nguyễn Ánh để cùng đánh Tây Sơn[94], việc này góp phần làm cho nhà Tây Sơn nhanh chóng suy yếu. Nội bộ Tây Sơn xảy ra tranh chấp, quyền hành rơi vào tay ngoại thích Bùi Đắc Tuyên[95]. Từ đó, Nguyễn Ánh ra sức mở các đợt tấn công ra Quy Nhơn theo nguyên tắc đã định trước đó: "Gặp nồm thuật thì tiến, vãn thì về, khi phát thì quân lính đủ mặt, về thì tản ra đồng ruộng"[96]. Ngoài ra, Nguyễn Ánh còn định cho sứ đi ngoại giao với Trung Quốc, lợi dụng mâu thuẫn và thù hằn của quốc gia này với Tây Sơn, và cả sự có mặt của Lê Chiêu Thống bên đó để khiến Trung Quốc giúp mình nhưng việc không thành do khi sứ của Nguyễn Ánh là Ngô Nhơn Tĩnh và Phạm Thận sang đến nơi thì Lê Chiêu Thống đã mất[97].


Cửa tòa thành Diên Khánh, xây bởi Olivier de Puymanel sau khi quân Nguyễn chiếm được vùng này năm 1793.


Năm 1793, Nguyễn Ánh cùng các tướng Võ Duy Nguy, Nguyễn Văn Trương, Võ Tánh, Nguyễn Huỳnh Đức, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Phước Hội, Philippe Vannier, Nguyễn Văn Hòa, Chưởng cơ Cố[98] đem quân đánh Nha Trang, Diên Khánh, Phú Yên rồi tranh thủ đánh tới tận thành Quy Nhơn của Nguyễn Nhạc. Vua Thái Đức cầu cứu Phú Xuân. Cảnh Thịnh sai Ngô Văn Sở, Phạm Công Hưng, đô đốc Hố và Chưởng cơ Thiêm đem 17.000 quân, 80 thớt voi,và 30 chiếc thuyền chia nhiều đường tiến vào cứu, quân Nguyễn Ánh rút lui[99][100], trên đường về ông sai quân đắp thành Diên Khánh để lợi dụng địa thế nơi này làm bàn đạp chống Tây Sơn. Cùng thời gian, quân Phú Xuân của Tây Sơn nhân dịp đánh chiếm luôn đất đai, kho tàng của vua Thái Đức. Lúc đó Nguyễn Nhạc đang bệnh trên giường, nghe tin cơ nghiệp của con mình là Quang Bảo bị chiếm mất uất quá thổ huyết mà qua đời[101][102]. Quang Toản cho an trí Quang Bảo ra huyện Phù Ly và cai quản toàn bộ đất đai của vua bác[101].


 


Từ năm 1794 đến năm 1795, Tây Sơn phản công, họ cho quân nhiều lần vào đánh Phú Yên, vây thành Diên Khánh[95], quân Nguyễn cũng ra sức chống cự, nhiều lần kìm hãm thậm chí là đánh lại được quân Tây Sơn[103]. Tuy nhiên nội bộ Tây Sơn lại mâu thuẫn, các tướng tranh quyền. Vũ Văn Dũng giết Bùi Đắc Tuyên và Ngô Văn Sở, Quang Toản không làm gì được. Trần Quang Diệu đang đi đánh Nguyễn Ánh, nghe tin đành rút quân về, suýt đánh nhau với Vũ Văn Dũng may nhờ có Quang Toản sai quan ra khuyên giải Trần Quang Diệu mới đồng ý hòa. Nhưng sau đó Quang Toản lại nghe lời gièm pha tước mất binh quyền của Trần Quang Diệu, Tây Sơn từ đó cứ lục đục mãi, các quan nghi kị giết hại lẫn nhau tạo điều kiện thuận lợi cho Nguyễn Ánh[104][105].


 


Thống nhất quốc gia


Biến loạn tạm thời dẹp yên nhưng đã làm chính quyền Tây Sơn suy sụp. Một bộ phận tướng lĩnh bất mãn đã bỏ sang theo Nguyễn Ánh. Nguyễn Ánh nhân thời cơ đó ra sức Bắc tiến.


Năm 1797, Nguyễn Ánh cho quân ra đánh Phú Yên, riêng mình thì cùng Nguyễn Phúc Cảnh chỉ huy thủy quân ra tận Quy Nhơn đánh nhau với tướng Tây Sơn là Lê Trung tại Thị Nại thu được nhiều khí giới[106], nhưng khi tới Quy Nhơn thấy thế Tây Sơn thủ mạnh quá đành vòng lên đánh Quảng Nam nhưng được mấy tháng lại rút về[107] vì thuyền chở quân lương từ Gia Định bị ngược gió không lên kịp[106].


 


Nguyễn Ánh chiêu dụ Quang Bảo nhưng việc chưa thành vì Quang Toản ra tay trước, bắt và giết được Quang Bảo[106]. Nhưng Tây Sơn lại rơi vào lục đục, Quang Toản nghi ngờ giết hại nhiều triều thần, võ tướng, khiến cho sức chiến đấu suy giảm, thêm nhiều người sang hàng Nguyễn Ánh[108][109].


 


Năm 1799, Nguyễn Ánh cho sứ yêu cầu vua Xiêm La cho một đạo quân Chân Lạp và Vạn Tượng đi đến sát biên giới Nghệ An để nghi binh và vua Xiêm đồng ý làm theo[110].


 


Cũng trong năm 1799, Nguyễn Ánh tự cầm quân đi đánh thành Quy Nhơn[109], tướng giữ thành của Tây Sơn là Vũ Tuấn đầu hàng dù trước đó Quang Toản đã sai Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đem quân vào cứu[111]. Sau đó, Nguyễn Ánh đổi tên Quy Nhơn thành Bình Định[112], rồi cho quân tới trấn giữ thành. Tây Sơn ngay lập tức tìm cách chiếm lại; tháng 1 năm 1800, hai danh tướng Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng kéo đến vây thành Quy Nhơn. Nguyễn Ánh cho quân ra cứu nhưng bị bộ binh Tây Sơn chặn lại, ông chia quân đi đánh các nơi và thắng nhiều trận, trong đó có một trận lớn ở Thị Nại[113]. Thấy thế Tây Sơn vây Quy Nhơn còn mạnh, Nguyễn Ánh cho người lẻn mang thư đến bảo tướng quân Nguyễn giữ thành là Võ Tánh mở đường máu mà trốn ra nhưng Võ Tánh quyết tử thủ để tạo đều kiện cho Nguyễn Ánh đánh Phú Xuân[113], việc này khiến thời gian hai danh tướng Tây Sơn bị cầm chân lên hơn một năm[114]. Năm 1801, Nguyễn Ánh nhận thấy tinh binh Tây Sơn đều tập trung cả ở chiến trường Quy Nhơn nên mang quân chủ lực vượt biển ra đánh Phú Xuân. Tháng 5 năm 1801, Nguyễn Ánh kéo quân đánh nhau dữ dội với Tây Sơn ở cửa Tư Dung[113]; rồi đụng Quang Toản ở cửa Eo[113], Quang Toản thua trận bỏ chạy ra Bắc[115] và đến 3 tháng 5 Nguyễn Ánh giành được Phú Xuân[113].


 


Cùng thời gian nghe tin Phú Xuân bị đánh, Trần Quang Diệu đang vây Quy Nhơn sai binh về cứu nhưng bị quân Nguyễn chặn đánh nên quân không về được, ông chỉ còn cách cố gắng đốc binh chiếm thành[115]. Đầu năm 1802, Tây Sơn mới chiếm lại thành Quy Nhơn, Võ Tánh tự vẫn để xin tha mạng binh sĩ[116]. Trần Quang Diệu tha cho binh Nguyễn, an táng Võ Tánh và thuộc tướng[116] rồi bỏ thành Quy Nhơn; cùng Vũ Văn Dũng mang quân cứu viện ra Nghệ An, bị quân Nguyễn chặn đường, phải vòng qua đường Vạn Tượng (Lào)[117]. Lúc tới Nghệ An thì thấy thành đã mất, quân sĩ bỏ chạy gần hết, vợ chồng Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân bị bắt[118], Vũ Văn Dũng không rõ số phận [b].


 


Cũng trong thời gian này, sau khi chiến thắng quân Tây Sơn, hoàn toàn chiếm được Phú Xuân, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế ngày 1 tháng 6 (âm lịch) năm Nhâm Tuất (1802)[112][119]. Để tượng trưng sự thống nhất Nam-Bắc lần đầu tiên sau nhiều năm, Nguyễn Ánh chọn niên hiệu là Gia Long, Gia lấy từ Gia Định và Long lấy từ Thăng Long[120]. Sau đó ông cho người đem toàn bộ ấn sách nhà Thanh trao cho Tây Sơn trả lại và xin phong, rồi sai Lê Văn Duyệt kéo quân tiếp ra Bắc Hà diệt hoàn toàn nhà Tây Sơn[118].


 


Trả thù Tây Sơn


Giữa năm 1802, Nguyễn Ánh tiến ra chiếm được Thăng Long, Quang Toản không chống nổi, bỏ chạy và sau đó bị bắt lại[119]. Nguyễn Ánh đã xử gia đình Quang Toản và những người theo Tây Sơn vô cùng tàn bạo:


    Quang Tự, Quang Điện, Nguyễn Văn Trị rồi các con của Nguyễn Nhạc gồm Thanh, Hán, Dũng bị giết ngay sau khi bị bắt, 31 người có quan hệ huyết thống với Nguyễn Huệ đều bị xử lăng trì[121].


    Quang Toản và những người con khác của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ là Quang Duy, Quang Thiệu và Quang Bàn bị 5 voi xé xác[122][123], đầu bị bỏ vào vò và giam trong ngục[122].


    Nữ tướng Bùi Thị Xuân và con gái bị voi giày[123], chồng bà là Trần Quang Diệu do trước đó đã có lần tỏ ra khoan thứ cho quân Nguyễn[123] nên xin được Nguyễn Ánh tha cho mẹ già 80 tuổi trước khi bị xử chết...


    Lăng mộ nhà Tây Sơn như các lăng của vua Thái Đức và vua Quang Trung bị quật lên, hài cốt bị giã nát quăng đi[122], đầu ba vua Tây Sơn (Thái Đức, Quang Trung và Cảnh Thịnh) và bài vị vợ chồng Nguyễn Huệ thì bị giam trong ngục tối[124][125][126].


    Các quan văn khác của Tây Sơn như Ngô Thì Nhậm và Phan Huy Ích ra hàng thì cho đánh đòn và được tha về (riêng Ngô Thì Nhậm thì bị Đặng Trần Thường trước có thù riêng nên cho người đánh chết)[125].


Việc làm này của ông về sau bị sử sách nói nhiều đến mức độ thiên lệch cả về công và tội của Nguyễn Ánh. Theo phân tích của các sử gia, cuộc báo thù này có hai mục đích:


    Trả thù cho những việc Tây Sơn làm với cho gia tộc và bản thân Nguyễn Ánh trước kia: phá lăng mộ các chúa Nguyễn, giết chết người thân và cả những đắng cay trong những ngày tháng lênh đênh trốn chạy[124][127][128].


    Dùng cuộc trả thù để tỏ rõ uy thế, làm khiếp sợ và buộc những người chống đối (ở đây chủ yếu là các cựu thần Lê-Trịnh) phải quy thuận trước vương triều mới[d]. Có lẽ vì vậy, Nguyễn Ánh không hề tìm cách che đậy sự tàn bạo của mình trong việc này. Ông tuyên bố: "Trẫm vì chín đời mà trả thù"[129]; nhưng trong các đánh giá về sau về sự việc này, sử sách cho rằng Nguyễn Ánh thực hiện quá tay và "đôi lúc rất tiểu nhân"[128][129].


 


Cai trị


Các cải cách mang xu hướng mới[130] của nhà Tây Sơn bị Gia Long thay thế bằng kiểu cai trị và một nền giáo dục khắc nghiệt theo phong cách Nho giáo chính thống[131][132].


Tổ chức chính quyền


Cuối đời Tây Sơn chính sự thối nát, phong tục hủy hoại nên việc cai trị rất khó khăn, Gia Long phải sắp đặt từ đầu, sửa sang phong tục[133].


Ông đã xếp đặt lại cơ cấu điều hành quốc gia: Nội cung, không đặt hoàng hậu; quan lại, không đặt chức Tể tướng để tránh lộng quyền[134], tổ chức đại khái theo chế độ nhà Lê: tổ chức triều đình gồm có lục bộ là: Lại, Công, Lễ, Hộ, Binh, Hình do thượng thư (tương đương nhự bộ trưởng ngày nay) đứng đầu và tả hữu thị lang giúp việc[134] đô sát viện do Tả, Hữu đô ngự sử đứng đầu với hoạt động can gián vua và đàn hặc các quan[135]; ấn định quyền hạn các chức tước, lương bổng, văn võ theo các cấp bậc. Ông cũng cho thi hành chế độ tiền dưỡng liêm để phòng trừ tệ nạn tham nhũng trong hàng ngũ quan lại nhà Nguyễn.


Về mặt hành chính, Gia Long phân chia Việt Nam thành 2 tổng trấn: (Bắc Hà, Nam Hà), 2 vùng (miền Trung và Kinh kỳ). Gồm 23 trấn và 4 doanh cụ thể như sau[134][136]:


Tổng trấn Bắc Hà


Nội trấn (5): Hải Dương, Kinh Bắc, Sơn Nam thượng, Sơn Nam hạ, Sơn Tây


Ngoại trấn (6): Cao Bằng, Hưng Hóa, Lạng Sơn, Quảng Yên, Thái Nguyên, Tuyên Quang


    Vùng miền Trung


    Trấn độc lập (7): Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận.


   Vùng Kinh kỳ


    Doanh (4): Trực Lệ Quảng Đức, Quảng Bình, Quảng Nam và Quảng Trị.


Tổng trấn Nam Hà


Trấn (5): Biên Hòa, Hà Tiên, Phiên An, Vĩnh Thanh, Vĩnh Tường


 


Kinh thành được đích thân ông đôn đốc xây dựng mới tại Phú Xuân[137]. Hai vùng tổng trấn Bắc Hà và Nam Hà sẽ do hai quan Tổng trấn đứng đầu cùng với Phó tổng trấn[134], hai vị quan Tống trấn sẽ nắm toàn quyền về luật pháp, kinh tế lẫn quân sự (hệ thống tổ chức này mãi đến đời Minh Mạng mới bị bãi bỏ)[138]. Về các Trấn thì có quan Lưu trấn (gồm Trấn thủ, Cai Bạ và Ký lục). Dưới Trấn là phủ, huyện, châu với các vị quan đứng đầu lần lượt là Tri Phủ, Tri Huyện, Tri Châu[134]. Đây là lần đầu tiên tổ chức hành chính được tổ chức một cách chính quy như thế trên một lãnh thổ thống nhất trong lịch sử Việt Nam[134].


Ngoài ra, Gia Long còn là vị vua đã chính thức xác định chủ quyền của Việt Nam trên khu vực quần đảo Hoàng Sa khi ông chiếm đóng quần đảo này năm 1816[139].


 


Chính sách đối ngoại


Ngay sau khi thắng hoàn toàn Tây Sơn, chiếm cả Bắc Hà, Gia Long liền cho thượng thư Binh bộ là Lê Quang Định đi sứ sang Trung Quốc để cầu phong và xin đổi quốc hiệu là Nam Việt. Vua Thanh là Gia Khánh chấp nhận, nhưng đổi Nam Việt thành Việt Nam để tránh lầm với nước Nam Việt của nhà Triệu[140]. Năm Giáp Tí (1804) nhà Thanh sai quan án sát sứ tỉnh Quảng Tây là Tề Bố Sâm sang tuyên phong, vua Gia Long cho người đem đồ sang cống tạ và lập lệ triều cống 3 năm một lần[140].


 


Với người Pháp, ông vẫn tiếp tục những biểu hiện tỏ ra thân mật với người Pháp. Ông trả công hậu hĩ cho những người đã từng theo giúp mình, một số sĩ quan người Pháp cũng được làm quan trong triều đình Huế với những ưu đãi đặc biệt[141]. Công giáo cũng được khoan thứ vì mối quan hệ của ông với những người Pháp này[142]. Về mặt hình thức vua Gia Long là người có những quan hệ tốt với nước Pháp, đối xử với họ như những ân nhân. Chính những biểu hiện đó khiến người ta thường đánh giá Gia Long trong bản chất Nguyễn Ánh, phê phán Gia Long về những hành động khi ông đang còn là Nguyễn Ánh. Do vậy, hình ảnh Gia Long trở nên không tốt đẹp vì sự tồi tệ mà Nguyễn Ánh đã tạo ra trong lịch sử dân tộc[56]. Gia Long mặc dù rất hậu đãi với người Pháp nhưng ông chỉ cho bổng lộc, chức tước mà không ban quyền hạn, do đó họ không chi phối được chính sự nhà Nguyễn. Nhà vua thường cảnh tỉnh các triều thần về mối đe dọa sự an nguy của quốc gia từ sự thông thương và truyền đạo của Pháp. Nhà vua đã nhiều lần tỏ ra rất hài lòng về việc trước kia không nhận được cứu viện của triều đình Louis XVI[143], có lần khi Pháp đòi ông thực hiện các điều khoản trong hiệp ước trước kia, ông sai quan đáp lại rằng do trước Pháp không thực hiện thì nay bỏ[141]. Ông vẫn giữ gìn nhưng không thắt chặt mối liên lạc chính thức cũng như các cam kết chính trị với chính phủ phương Tây để khỏi sa vào những lỗi lầm dẫn đến số phận như Ấn Độ[144]. Tuy nhiên, việc ông mời các sĩ quan Pháp huấn luyện quân đội và củng cố thành trì cho nhà Nguyễn cũng làm cho ông trở thành người mở đầu cho ảnh hưởng của người Pháp tại Việt Nam[145].


 


Gia Long hầu như không có chính sách giao thiệp chính thức với các quốc gia châu Âu khác ngoài Pháp: đơn cử như năm 1803, nước Anh sai một sứ giả tên là Robert tới xin được mở cửa hàng buôn bán ở Trà Sơn, Quảng Nam, Gia Long từ chối. Sau đó họ còn tiếp tục dâng thư xin hai ba lần nữa nhưng đều bất thành[141].


 


Với hai quốc gia láng giềng là Chân Lạp và Xiêm La, thời kỳ Gia Long cai trị cũng là thời kỳ Việt Nam khẳng định ảnh hưởng của mình: năm Đinh Mão (1807), vua Chân Lạp là Nặc Ông Chân không theo Xiêm La nữa mà xin về thần phục vua Việt Nam là Nguyễn Ánh, lập lệ cống tiến mỗi 3 năm 1 lần[140]. Ba người em của Nặc Ông Chân (Ang Chan II) là Nặc Ông Nguyên (Ang Suguon), Nặc Ông Lem tức Nặc Ông Em (Ang Im), và Nặc Ông Đôn (Ang Duong) muốn tranh quyền của anh mình nên sang Xiêm La cầu cứu. Xiêm La đòi Nặc Ông Chân chia quyền nhưng ông từ chối, Xiêm La liền cho quân sang đánh và buộc Nặc Ông Chân bỏ chạy sang cầu cứu Việt Nam. Vua Gia Long viết thư trách cứ Xiêm La và Xiêm La đáp lại là họ chỉ giúp anh em Nặc Ông Chân giảng hòa chứ không đối kháng với Việt Nam. Gia Long liền cho Lê Văn Duyệt kéo 10.000 quân sang buộc Xiêm La cho Nặc Ông Chân về nước và rút quân hoàn toàn ra khỏi Chân Lạp[146]. Lê Văn Duyệt dâng sớ xin xây thành Nam Vang (Phnom Penh) và thành La-Lêm. Khi xây xong Gia Long cho một tướng tên là Nguyễn Văn Thụy đem 1.000 quân sang trấn giữ và xác lập quyền "bảo hộ" của Việt Nam tại Chân Lạp[147].


Chính sách kinh tế


 


Nhìn chung, Gia Long không quan tâm đến thương mại[148]. Ông đã nhiều lần từ chối người Anh khi họ đến xin được mua bán, ngay cả người Pháp khi đến mua bán cũng không được thuận lợi mấy[141], triều Nguyễn dưới thời ông không khuyến khích cũng như không chào mời các thuyền buôn phương Tây[149]. Triều đình bấy giờ không có ý đóng cửa với phương Tây nhưng theo cách nhìn của hàng ngũ Nho sĩ ở Việt Nam, việc giao thương với phương Tây là không đáng tin cậy; cũng đồng thời với đó là sự lo ngại sự xâm lược bằng quân sự và truyền giáo của họ[150] đã dẫn đến chính sách như trên.


 


Ngoài một số trung tâm thương mại thành thị được phát triển ở các thành phố và cảng biển chính, phần lớn hoạt động mua bán vẫn diễn ra trên các con sông. Triều đình nắm giữ độc quyền thương mại ở các mặt hàng có giá trị cao như ngà voi, sừng nai, bạch đậu khấu, vàng...[151] Mức thuế mua bán cao, việc cấp giấy phép khó khăn trong việc xuất khẩu gạo, muối, và kim loại cũng gây kìm hãm sự phát triển của thương mại[152]. Quan hệ thương mại quan trọng với Trung Quốc nằm trong tay các thương gia người Hoa và quan lại, trong khi các thương gia người Việt thì bị hạn chế ở mảng buôn bán trong nước[151].


 


Về mặt nông nghiệp, ruộng đất cũng được quản lý bằng các điền bạ ghi rõ về tình trạng, vị trí thứ hạng đất ruộng. Mỗi làng làm 3 quyển gửi lên bộ đóng dấu, 1 quyển sẽ lưu lại bộ, 1 quyển lưu lại tỉnh và 1 quyển gửi trả về làng. Ngoài ra, nhà vua còn ra lệnh cấm trao đổi buôn bán ruộng công, nhưng cho phép điển cố[e] tối đa 3 năm[153]. Tình trạng người dân không có đất vẫn còn là một vấn đề[151].


 


Về công nghiệp, triều đình nắm độc quyền trong ngành khai thác khoáng sản[151], họ cho các thương nhân người Hoa khai thác để thu thuế[141]. Các phường đội, thợ thủ công đều chịu sự quản lý của triều đình, hầu hết thợ có kỹ năng và nguyên liệu thô đều được đưa vào các xưởng thủ công của triều đình ở Huế[151].


 


Dưới thời Gia Long, việc thu thuế được tổ chức lại, phân ra nhiều thứ thuế kèm theo các chính sách quản lý và miễn trừ thích hợp[154]. Thứ thuế quan trọng đầu tiên là thuế điền (hay thuế ruộng, thuế tính trên ruộng): ruộng được chia làm 4 hạng chịu 3 mức thuế khác nhau qua hình thức nộp thóc[155]:


Loại ruộng        Thuế (thăng thóc)


Nhất đẳng         20


Nhị đẳng           15


Tam đẳng         10


Đồng niên         10


 


Loại thuế thứ hai là thuế đinh, đánh theo từng địa phương, tính theo từng suất đồng niên[155]:


Vùng    Thuế thân          Mân tiền            Điệu tiền           Cước mễ


Nghệ An ra đến nội ngoại Thanh Hoá      1 quan 2 tiền     1 tiền    không có          2 bát


Năm nội trấn Bắc thành và phủ Phụng Thiên       1 quan 2 tiền     1 tiền    6 tiền    2 bát


Sáu ngoại thành trấn Bắc thành 6 tiền    1 tiền    3 tiền    1 bát


 


Ngoài hai loại thuế trên còn có thuế sản vật. Thuế sản vật thường đi kèm với các ưu đãi miễn giảm các loại thuế khác, ví dụ về một số loại thuế sản vật[153]:


 


Thuế quế


Vùng quế          Mức thuế (nộp theo đồng niên)


Nghệ An           120 cân


Thanh Hóa        70 cân


Sau khi nộp sẽ được giảm trừ thuế đinh


 


Nếu tìm được cây quế phải báo quan làm giấy để đẵn mới hợp pháp. Quan sẽ lấy 1 nửa, dân 1 nửa.


 


Thuế yến sào


 


Thuế     Mức thuế


Đồng niên         8 lạng


Đánh vào người đi lấy yến ở các đảo hạt Quảng Nam


 


Sau khi nộp sẽ miễn việc binh lính


 


Ngoài các thứ thuế trên, còn có các loại thuế: thuế sâm, thuế hương, thuế chiếu, thuế gỗ, thuế từ việc cho phép khai thác mỏ đều có quy địng riêng, thường tiền thuế sẽ nộp bằng tiền hay là bằng sản vật.


 


Việc thu thuế sẽ theo các định kỳ được gọi là các vụ thuế chia theo các vùng[156]:


Vùng    Vụ thuế


Quảng Bình ra tới Bình Thuận     tháng 4 đến tháng 7


Nghệ An ra đến ngoài Thanh Hoá và các trấn ở Bắc thành           2 vụ: tháng 4 đến tháng 6 ; tháng 10 đến tháng 11


 


Thuế sẽ được giảm nếu địa phương gặp thiên tai địch họa dựa theo mức độ thiệt hại. Ngoài ra, nếu nhà nào có người đi làm đường, đào sông, xây thành...; cũng được giảm thuế[157]. Nếu đã nộp thuế sản vật thì miễn thuế đinh[156], thuế dành cho các thương thuyền nước ngoài cũng được định lại: cứ dựa trên kích thước thuyền mà đánh thuế nhiều hay ít[153].. Để tạo cơ sở tính thuế[151], cùng với điền bạ (để quản lý ruộng đã nêu) dân chúng được quản lý qua sổ đinh bạ: 5 năm làm một lần mọi người từ thường dân tới quan lại từ 18 tuổi đến 59 tuổi đều phải được thống kê vào sổ đinh[153].


 


Để giải quyết vấn đề tiền tệ, vua Gia Long cho lập xưởng đúc tiền tại Bắc Thành, về sau ở cả Gia Định thành và ở các trấn để đúc tiền đồng và tiền kẽm ngoài ra còn cho đúc vàng bạc theo nén và lượng với tỉ lệ quy đổi một lượng vàng đổi lấy 10 lượng bạc để phục vụ cho lưu thông thương mại trong nước[157]. Mỗi đồng tiền kẽm nặng 7 phân, một mặt in chữ "Gia Long thông bảo", một mặt in chữ "thất phân", mỗi quan tiền nặng 2 cân 10 lạng[157].


 


Đồng thời với tiền tệ là việc đo lường: vua Gia Long cho chuẩn hóa lại các thước vuông đo ruộng có trước đó, chế ra thước đo ruộng mới là loại thước đồng hai mặt khắc chữ: một mặt Gia Long cửu niên thu bát nguyệt và mặt kia là ban hành đạc điền xích, công bộ đường kính tạo[157]. Năm 1813, vua Gia Long cho làm ra cân thiên bình, cấp cho các doanh, trấn, để dùng vào việc cân đo kim loại và sản vật địa phương. Riêng hai kim loại màu là vàng và bạc thì dùng cân trung bình[157].


 


Chính sách xã hội


Dưới thời vua Gia Long, Minh Mạng, Quốc Tử Giám tại Huế được xây tại địa phận An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, cách kinh thành Huế chừng 5 km về phía Tây, trường nằm cạnh Văn Miếu Huế, mặt hướng ra sông Hương. Vào năm 1908, thời vua Duy Tân, Quốc Tử Giám được dời vào phía Đông Nam Hoàng thành Huế (tức vị trí như ảnh hiện nay).


 


Thấy các quan đầu triều của mình đều chỉ là quan võ, Gia Long lưu ý đến việc học hành thi cử trong nước để tuyển lựa quan văn. Ông tổ chức lại các Văn Miếu, thờ Khổng Tử, thực hiện chính sách trọng Nho học[158]. Ông cho thành lập Quốc Tử Giám ở Phú Xuân để dạy con quan, tổ chức thi Hương theo định kỳ để tuyển chọn nhân tài[158]. Ngoài ra, ông còn đặt thêm chức đốc học ở các trấn, và cho dùng những người có công danh ở đời nhà Lê, để coi việc dạy dỗ ở địa phương[158]. Ông cũng sai Binh bộ thượng thư[159] Lê Quang Định làm bộ sách 10 quyển Nhất thống địa dư chí vào năm 1806[160], ghi nhận về tình hình địa lý, chính trị... các mặt của Việt Nam trên cơ sở điều tra đã thực hiện trước đó[160], đồng thời cho tìm các sách dã sử về nhà Lê và nhà Tây Sơn để sửa lại quốc sử[159]. Thời của Gia Long là thời thịnh của thơ văn quốc âm với nhiều tác phẩm kiệt xuất: Hoa Tiên của Nguyễn Huy Tự, Truyện Kiều của Nguyễn Du; và một bài văn tế tướng sĩ không rõ tác giả do Nguyễn Văn Thành ra chủ tế[159].


 


Về luật pháp, Gia Long cho soạn bộ luật mới có tên gọi là Hoàng Việt luật lệ (còn được gọi là "luật Gia Long"), do Tổng trấn Bắc Thành Nguyễn Văn Thành chủ biên bao gồm 22 quyển và 398 điều[161], bộ luật này gần như lấy nguyên mẫu là luật nhà Thanh[158] cho nên nhìn tổng thể khá khắc nghiệt và không được tiến bộ như bộ luật Hồng Đức của nhà Lê[162]. Ở Bắc Hà, ông thi hành một chính sách hai mặt với nhà Lê[163]: một mặt tỏ vẻ tôn trọng nhà Lê, một mặt tìm cách làm giảm tình cảm của dân chúng đối với công lao nhà Lê: cho giữ gìn lăng tẩm, đền miếu các vua Lê, cho sửa chữa lại Lam Kinh, xây đền Lê Bố Vệ, cho tổ chức lễ thờ tế vua Lê ở cấp quốc gia hằng năm cũng như "phong bách thần trong nước cho triều Lê"[163]. Đồng thời với chính sách trên là chính sách làm giảm ảnh hưởng của triều Lê: cho phá hoàng thành Thăng Long nhà Lê xây và thay thế bằng hoàng thành nhỏ hơn rất nhiều, thay chữ Long () mang nghĩa là rồng trong Thăng Long (升龍) thành Long () mang nghĩa là thịnh vượng; và hủy sáu trường thi hương Bắc Hà[163].


 


Đường xá được Gia Long chú trọng vì tầm quan trọng cả về kinh tế và chính trị: ông lệnh cho các quan phải đào đắp sửa sang các con đường, dân địa phương cũng phải tham gia vào việc làm cầu đắp đường theo tỷ lệ 15.000 trượng đường thì phát cho dân 10.000 phương gạo. Từ ải Nam Quan đến Bình Thuận có chừng 98 nhà trạm, mỗi trạm cách nhau chừng 4.000 trượng, dùng để làm nơi khách bộ hành nghỉ ngơi. Từ Bình Thuận trở vào phía Nam đến Hà Tiên thì đi bằng đường thủy[164]. Ở các trấn lại đặt ra kho thóc chứa thóc gạo, để phòng khi mất mùa đói kém thì lấy phát chẩn[164]. Ngoài ra, ông còn tiếp tục chính sách khai hoang vùng đồng bằng sông Cửu Long: triều đình bỏ tiền đào kênh Vĩnh Tế và kênh Thụy Hà để tạo cơ sở cho việc khai hoang và xác định biên giới Việt Nam và Cao Miên[161][165]. Còn ở Bắc Hà, ông cũng thực hiện việc đắp đê, kè với một khối lượng "lớn nhất so với các triều trước"[161].


 


Về mặt tôn giáo, triều vua Gia Long có chính sách chuộng về Nho giáo, nên chính sách về tôn giáo của Gia Long là ngược hẳn so với chính sách tôn giáo của nhà Tây Sơn[151]. Các chỉ dụ của ông đã quy định nên nhiều chính sách có tính ngược đãi đối với những người theo Phật giáo và Lão giáo[151]. Đối với Công giáo, các giáo sĩ không bị cấm đoán và tự do đi truyền đạo khắp nơi vì mối quan hệ của ông với người Pháp[142].


 


Chính sách quân sự


Cửu vị thần công do Gia Long cho đúc sau khi ông thắng Tây Sơn 


Sau chiến tranh, ông ban thưởng cho binh lính, lập đền thờ người tử trận, rồi tinh giản quân đội bằng cách cho những người lính già giải ngũ[154]. Sau đó, ông đặt ra cách tuyển quân linh hoạt: khu vực từ Quảng Bình vào đến Bình Thuận thì cứ 3 nam tuyển 1 lính; từ Biên Hoà trở vào thì cứ 5 nam đinh tuyển lấy 1 lính; từ Hà Tĩnh trở ra đến 5 nội trấn ở Bắc thành thì cứ 7 nam đinh tuyển lấy 1 lính. Còn 6 ngoại trấn là Tuyên Quang, Hưng Hoá, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Yên, thì cứ 10 nam đinh tuyển lấy một lính[154]. Về bộ binh, ngoài các đơn vị lính thường là lính cơ, lính mộ ở các trấn; khu vực kinh thành có thêm các loại lính tinh nhuệ gồm thân binh, cấm binh, tinh binh. Thân binh chia làm các vệ gồm 500 người kèm thêm 50 người tập quân nhạc. Ngoài ra quân lính còn được tổ chức thành các biền binh ban lệ gồm 3 phiên: trong đó 2 phiên về quán, còn một phiên ở lại thay đổi cho nhau luân phiên[154].


 


Vũ khí cho quân đội gồm súng tay thạch cơ điểu thương, đại bác và gươm giáo[154]. Khu vực kinh thành có ba trường tập bắn dành cho quân đội[154]. 


Lực lượng hải quân cũng được chú trọng vì địa thế đường biển dài của Việt Nam. Gia Long cho tuyển mộ các cư dân sống gần biển về doanh Quảng Đức và doanh Quảng Nam lập thành 6 vệ thuỷ quân đóng tại kinh thành[154]. Còn ở các cửa biển đều có một cơ lính thủy và đặt súng để phòng thủ và trông giữ việc đi lại của tàu nước ngoài[154]. Ngoài ra, người ta còn ghi nhận là vua Gia Long đã cho đóng loại thuyền lớn kiểu Tây bọc đồng để đi lại tuần tra biển[154].


 


Giết hại công thần


Khi ở ngôi hoàng đế, Gia Long đã giết hại hai công thần lập quốc là Nguyễn Văn Thành và Đặng Trần Thường[166].


Nguyễn Văn Thành


Nguyễn Văn Thành là người theo Nguyễn Ánh từ ngày đầu ông khởi binh chống Tây Sơn ở Quy Nhơn lập được nhiều công to đứng đầu công thần. Sau chiến tranh, Thành là người ổn định trấn Bắc Hà, sau lại về kinh làm Trung quân, tổng tài làm sách luật và quốc sử.


Mọi việc bắt đầu từ con trai Thành là Cử nhân Nguyễn Văn Thuyên làm một bài thơ mời hai người ở Thanh Hóa là Nguyễn Văn Khuê và Nguyễn Đức Nhuận qua tay một người chuyển tên là Nguyễn Trương Hiệu. Bài thơ đại khái như sau:


Phiên âm Hán Việt         Dịch nôm


Văn đạo Ái Châu đa tuấn kiệt,


Hư hoài trắc tịch dục cầu ty.


Vô tâm cửu bảo Kinh Sơn phác,


Thiện tướng phương tri ký Bắc kỳ.


U cốc hữu hương thiên lý viễn,


Cao cương minh phượng cửu thiên tri.


Thử hồi nhược đắc sơn trung tể,


Tà ngã kinh luân chuyển hoá ky.


Ái Châu nghe nói lắm người hay,


Ao ước cầu hiền đã bấy nay.


Ngọc phác Kinh Sơn tài sẵn đó,


Ngựa kỳ Ký Bắc biết lâu thay.


Mùi hương hang tối xa nghìn dặm,


Tiếng phượng gò cao suốt chín mây.


Sơn tể phen này dù gặp gỡ,


Giúp nhau xoay đổi hội cơ này.


Nhưng Nguyễn Trương Hiệu lại đem bài thơ đi báo cho người vốn nhiều hiềm kích với Nguyễn Văn Thành là Lê Văn Duyệt. Kết quả là Nguyễn Văn Thuyên bị bắt giam vì lời thơ bị cho là quá ngông cuồng, và có ý tạo phản, truất ngôi vua. Mọi cố gắng kêu oan của Nguyễn Văn Thành đều không được Gia Long chấp nhận. Thành buộc phải uống thuốc độc tự tử trong ngục vào năm Đinh Sửu (1817), Nguyễn Văn Thuyên thì bị xử án chém[166].


 


Đặng Trần Thường


Đặng Trần Thường đậu sinh đồ về cuối đời nhà Lê, từ chối giúp Tây Sơn sau khi nhà Lê mất mà đi theo Nguyễn Ánh, lập được nhiều công trạng làm lên tới chức Tán Lý[166].


Một lần, vì làm gian Sắc phong thần cho Hoàng Ngũ Phúc vốn là tướng của chúa Trịnh vào bậc phúc thần, triều đình kết án phải tội chém, nhưng Thường lại được tha. Đặng Trần Thường trước có hiềm khích với Lê Chất, nên Lê Chất mới bới những việc sai phạm của Thường như khi ra coi tàu binh ở Bắc Thành đã có giấu thuế đầm ao và dinh điền. Đặng Trần Thường lại bị bắt giam. Trong ngục, Thường tỏ ý mỉa mai. Việc đó đến tai đình thần, nên khi kết án, đình thần xử tội giảo[167].


Tương truyền Đặng Trần Thường ở trong ngục có làm bài “Hàn Vương tôn phú” bằng quốc âm để ví mình như Hàn Tín đời nhà Hán[166][167].


 


Qua đời


Tháng 11 năm Mậu Dần (1818), Gia Long lâm bệnh[149], ông hạ chiếu cho Thái tử Nguyễn Phúc Đảm thay ông quyết việc nước và cho gọi hai đại thần là Lê Văn Duyệt và Phạm Đăng Hưng đến hầu. Ông dặn Thái tử Đảm[149]: “Đấy là cơ nghiệp gian nan của trẫm, nay giao cho con, con nên cẩn thận giữ gìn... Ta cũng sắp chết, không nói gì, chỉ có một việc là ngày sau phải cẩn thận chớ nên gây hấn ngoài biên”.


Rồi Gia Long sai Thái tử Đảm chép lại lời mình, Nguyễn Phúc Đảm chép một cách ngập ngừng ý muốn bỏ chữ "băng", Gia Long cầm bút viết luôn chữ đó vào[168].


 


Đến ngày 19 tháng Chạp năm Kỷ Mão (tức ngày 3 tháng 2 năm 1820),[169] vua Gia Long qua đời, hưởng thọ 59 tuổi, ở ngôi 18 năm, miếu hiệu là Thế Tổ, thụy hiệu Cao Hoàng đế.[170] Lăng của ông hiệu Thiên Thọ, tại làng Định Môn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Tôn thờ ông tại Chánh Án Miếu ở Thế Miếu trong Đại Nội kinh thành Huế.


 


Sách Hoàng tộc lược biên có viết:  Lăng của Ngài là lăng Thiên Thọ, thuộc địa phận làng Định Môn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Lăng Bà Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu và Bà Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu, nguyên phối và đệ nhị phối của Ngài cũng đều táng tại vùng ấy cả. Ngài và hai Bà đều thờ tại Chánh án Thế Miếu và tại Chánh án điện Phụng Tiên ở Kinh Thành Nội.


Về sau, vua con Minh Mạng đặt thụy hiệu cho ông là Khai thiên Hoằng đạo Lập kỷ Thùy thống Thần văn Thánh vũ Tuấn đức Long công Chí nhân Đại hiếu Cao Hoàng đế (開天弘道立紀垂統神文聖武俊德隆功至仁大孝高皇帝).[171]


Truyền ngôi cho Minh Mạng


Do hoàng tử Nguyễn Phúc Cảnh và người con (cháu nội Nguyễn Ánh) chịu nhiều ảnh hưởng của đạo Công giáo từ người Pháp nên sau khi hoàng tử Cảnh qua đời, vua Gia Long đã không chọn đích tôn của mình (tức con của Hoàng tử Cảnh) vì sợ những ảnh hưởng của Pháp đến triều đình.


Mặc dù có nhiều đình thần phản đối nhưng ông vẫn chọn vị hoàng tử thứ tư là Nguyễn Phúc Đảm làm người kế vị. Hoàng tử Đảm vốn là người hay bài xích đạo Công giáo và không có chút cảm tình nào với người Pháp - tư tưởng này hợp với Gia Long. Gia Long đã dặn trong di chiếu rất rõ với Minh Mạng rằng hãy đối xử tử tế với người Âu nhưng hết sức cảnh giác trước các tham vọng của họ[56].


Gia quyến


Trong dòng họ, ông giao cho Quốc thúc Tôn Thất Thăng lo việc gia huấn trong thân tộc, làm phả hệ Tôn Thất, đặt chức Tôn Nhân Lệnh, Tôn Nhân Phủ quản trị quốc tộc.


Về vợ con của ông như sau:


Vợ


Ông không đặt hoàng hậu, mà chỉ cao nhất là hoàng phi. Các tước hiệu của các bà vợ nói dưới đây đều là được phong sau khi mất.


Thừa Thiên Cao Hoàng hậu, húy Tống Thị Lan[172], con ông Thái Bảo Khuông Quận Công, húy Tống Phước Khuông và bà Quốc Phu Nhân Lê Thị. Bà được Nguyễn Ánh cưới về năm ông được 18 tuổi, tính tình bà cẩn trọng, đoan trang rất được ông quý mến. Ghi chép về hành trạng của bà không có nhiều chỉ có một số chi tiết như vào năm 1783, khi Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn đánh đem hết gia quyến chạy ra đảo Phú Quốc, bà đã giao con mình là hoàng tử Cảnh khi ấy mới 4 tuổi cho giám mục Pigneau de Béhaine sang Pháp cầu viện, nhà vua giao cho bà nửa thoi vàng làm tin rồi sang Xiêm. Sau đó, bà là người đã đứng ra chăm sóc cả gia đình Nguyễn Ánh khi ông còn phiêu bạt, thậm chí có lần đánh trống đốc binh cứu được Nguyễn Ánh khi ông bị Tây Sơn vây ngặt[173]. Sau khi Nguyễn Ánh chiếm lại được Phú Xuân và lên ngôi hoàng đế, ông hỏi bà về nửa thoi vàng năm xưa, bà đưa ra và vua Gia Long mừng rỡ nói: "Vàng này còn giữ được, đó thật là ân trời đã giúp trong lúc nguy nan, chẳng nên quên lãng. Vậy phải để dành về sau cho con cháu biết"; rồi lấy nửa thoi còn lại ráp thành hoàn chỉnh rồi giao hết cho bà[174][175]. Bà qua đời năm 1814, hiệp táng tại lăng Thiên Thọ, làng Định Môn, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.


Thuận Thiên Cao Hoàng hậu, huý Trần Thị Đang[174], con ông Lễ Bộ Tham Tri Trần Hưng Đạt. Bà Trần Thị Đang sinh tại làng Văn Xá, Hương Trà, Thừa Thiên; là người giỏi thơ văn, cần kiệm liêm chính. Bà theo vua Gia Long những ngày ông còn long đong phiêu bạt nên rất được ông quý mến. Bà chính là mẹ của hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm, người mà sau này là vua Minh Mạng[174]. Bà qua đời năm 1846. Lăng của bà là Thiên Thọ Hữu, trong khu vực Thiên Thọ Lăng. Hai bà Hoàng Hậu trên đều tôn thờ tại Án Chánh Miếu ở Thế Miếu trong Đại Nội kinh thành Huế.


    Ngoài ra, ông còn có một người vợ nữa là Tam Cung, húy là Lê Ngọc Bình. Bà Lê Thị Ngọc Bình là công chúa con vua Lê Hiển Tông, em gái công chúa Ngọc Hân (vợ Nguyễn Huệ), và vợ của vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn[172]. Năm 1802, khi quân Nguyễn tiến quân vào Phú Xuân[174], Ngọc Bình không kịp chạy theo vua Cảnh Thịnh, Nguyễn Ánh gặp và say mê trước sắc đẹp của bà, và kiên quyết lấy bà, mặc cho mọi lời can ngăn[172]. Sau đó phong làm Đệ Tam Cung[175].


    Ngoài các người vợ kể trên, vua Gia Long còn có gần trăm bà[175] phi khác là con của các quan tiến cung[176]. Để tránh làm tổn thương các quan, nhà vua không thể từ chối được việc dâng tiến này nên dù có tuổi ông vẫn phải nạp phi[176]. Hậu cung thường xảy ra xung đột và vua Gia Long tỏ ra không ưa thích chốn hậu cung như thế, có lần ông đã từng miêu tả việc này trong câu nói: "Chốc nữa trẫm sẽ ở giữa một đám yêu phụ làm trẫm đinh tai nhức óc"[177] và câu đánh giá về phụ nữ của ông: "Trẫm muốn sửa đổi lại cả thế giới, nhất là đàn bà, vì họ đều đáng ghê sợ hơn đàn ông"[178].


 


Con cái


Vua Gia Long có 15 hoàng tử và 18 công chúa.[171][179]


Chân dung hoàng tử cả Nguyễn Phúc Cảnh do họa sĩ Maupérin vẽ tại Pháp vào năm 1787


Hoàng tử


    Nguyễn Phúc Cảnh (con bà Tống Thị Lan)


    Nguyễn Phúc Hy


    Nguyễn Phúc Tuấn


    Nguyễn Phúc Đảm (con bà Trần Thị Đang)


    Nguyễn Phúc Đài


    Nguyễn Phúc Bính


    Nguyễn Phúc Tấn


    Nguyễn Phúc Phổ


    Nguyễn Phúc Chẩn (con bà Lê Ngọc Bình)


    Nguyễn Phúc Quâṇ (con bà Lê Ngọc Bình)


 


    Nguyễn Phúc Quang


    Nguyễn Phúc Mão


 


Công chúa


    1. Nguyễn Phúc Ngọc Châu


    2. Nguyễn Phúc Ngọc Quỳnh


    3. Nguyễn Phúc Ngọc Anh


    4. Nguyễn Phúc Ngọc Chân


    5. Nguyễn Phúc Ngọc Xuyên


    6. Nguyễn Phúc Ngọc Ngoạn


    7. Nguyễn Phúc Ngọc Nga


    8. Nguyễn Phúc Ngọc Cửu


    9. Nguyễn Phúc Ngọc Đồng


    10. Nguyễn Phúc Ngọc Ngôṇ (con bà Lê Ngọc Bình)


    11. Nguyễn Phúc Ngọc Vân


    12. Nguyễn Phúc Ngọc Khuê (con bà Lê Ngọc Bình)


    13. Nguyễn Phúc Ngọc Cơ


    14. Nguyễn Phúc Ngọc Thiều


    15. Nguyễn Phúc Ngọc Lý


    16. Nguyễn Phúc Ngọc Thành


    17. Nguyễn Phúc Ngọc Bích


    18. Nguyễn Phúc Ngọc Trinh


Nguyễn Ánh là vị vua có công khi thống nhất Việt Nam sau gần 300 năm chia cắt và chiến tranh kể từ thời Nam Bắc triều tới hết thời Tây Sơn (1533-1802). Sau đây là một số lời nhận xét về ông.


“Từ Nguyễn Ánh đến Gia Long - hai tên gọi của một con người - nhãn quan chính trị của ông đối với người Pháp có sự thay đổi rõ rệt. Trong hoàn cảnh mới của lịch sử, ở con người Gia Long chỉ có thái độ hòa dịu với người Pháp do phải biểu hiện sự hàm ơn một cách miễn cưỡng, chứ hoàn toàn không có sự thỏa hiệp và bán rẻ quyền lợi quốc gia cho ngoại bang. Gia Long còn là người hết sức cảnh giác trước mưu đồ thâm nhập Việt Nam của tư bản Pháp và Tây Âu, là người quyết tâm bảo vệ vẹn toàn lợi ích quốc gia - dân tộc trước sức ép của chủ nghĩa tư bản Pháp mà các chính sách của Minh Mạng là bằng chứng biện minh hết sức thuyết phục”.


Nguyễn Quang Trung Tiến[56]


“Vua Thể tổ là ông vua có tài trí, rất khôn ngoan, trong 25 năm trời, chống nhau với Tây Sơn, trải bao nhiêu lần hoạn nạn, thế mà không bao giờ ngã lòng, cứ một niềm lo sợ khôi phục. Ngài lại có cái đức tính rất tốt của những kẻ lập nghiệp lớn, là cái đức tính biết chọn người mà dùng, khiến cho những kẻ hào kiệt ai cũng nức lòng mà theo giúp. Bởi vậy cho nên không những là ngài khôi phục được nghiệp cũ, mà lại thống nhất được sơn hà, và sửa sang được mọi việc, làm cho nước ta lúc bấy giờ thành một nước cường đại, từ xưa đến nay, chưa bao giờ từng thấy. 


Công nghiệp của ngài thì to thật, tài trí của ngài thì cao thật, nhưng chỉ hiềm có một điều là khi công việc xong rồi, ngài không bảo toàn cho những công thần, mà lại lấy những chuyện nhỏ nhặt đem giết hại những người có công với ngài, khiến cho hậu thế ai xem đến những chuyện ấy, cũng nhớ đến vua Hán Cao, và lại thở dài mà thương tiếc cho những người ham mê hai chữ công danh về đời áp chế ngày xưa”.


Trần Trọng Kim[170]


“Cũng còn có ý kiến cho rằng triều đại nhà Nguyễn từ đời vua Gia Long trở đi là triều đại phong kiến tàn ác, khắc nghiệt. Thực ra, đây chưa hẳn là do Gia Long có chính sách lạc hậu, phản động. Tình hình loạn lạc, đói kém đã diễn ra suốt thế kỷ XIX cho đến khi Pháp xâm lược. Nhà Nguyễn bất lực nên phải chịu trách nhiệm trước lịch sử. Riêng Gia Long, sự cố gắng chấn hưng lại rõ ràng, cần phải có sự công bằng, không định kiến không bị ảnh hưởng thiên lệch mà đặt lại vấn đề Gia Long cho đúng sự thật ở nơi ông”.


Vũ Ngọc Khánh[180] 


Ngoài ra, ông còn là người bị hậu thế chê trách ở hai điểm chính: việc ông cầu viện ngoại bang và trả thù Tây Sơn quá tàn bạo.Trong những lần thua trận, ông đều cầu xin người ngoài vào giúp sức nhưng cũng là gián tiếp "đưa hổ vào nhà" hay "cõng rắn cắn gà nhà", gây ra hậu quả và tiền lệ xấu cho vận mệnh dân tộc: cầu cứu Xiêm, cầu cứu Pháp (ý kiến của hai sử gia Nguyễn Lương Bích và Phạm Ngọc Phụng)[38]. Sử gia Phan Huy Lê đánh giá việc cầu cứu Xiêm La của ông là "đi vào con đường phản bội dân tộc" và "bán nước"[181]; sử gia Nguyễn Văn Kiệm đánh giá mối quan hệ giữa ông và Bá Đa Lộc là "một vết đen trong lịch sử xác lập quyền lực của triều Nguyễn và nhân vật Nguyễn Ánh - Gia Long"[55]. Riêng tác giả Lý Khôi Việt của tổ chức Viện Phật Học Quốc Tế ở Hoa Kỳ còn chỉ trích nặng nề hơn mối quan hệ trên qua việc gọi Nguyễn Ánh là "một tên đại phản quốc, đại Việt gian"[182].


“Khi suy bĩ, Gia Long biết cầu cứu nước Pháp, đã mục kích được dã tâm đế quốc của Liệt cường Tây Phương trước thời của ngài và cả trong thời ngài, vậy mà không tìm nổi một kế sách giữ nước cho khỏi "Bạch họa", chỉ biết "bế quan tỏa cảng", các triều đại kế tiếp cũng chẳng sáng suốt hơn làm gì mà không mất nước”.


Phạm Văn Sơn [183]


“Một vấn đề nổi cộm của vị vua này, thường bị người đời sau lên án là vấn đề ông "cõng rắn cắn gà nhà". Việc làm này của ông không thể biện minh đây là cuộc chiến tranh phong kiến mà do yếu, người ta có thể cầu viện lực lược bên ngoài như tình thế đã xảy ra trong lịch sử các cuộc chiến tranh phong kiến. Nhà vua phải chịu trách nhiệm về việc cầu viện quân đội nước ngoài dẫn đến những hậu quả tai hại không thể lường trước được. Tuy nhiên cũng phải thấy một điều Gia Long là con người thực dụng, đã biết lợi dụng, khai thác mọi cơ hội để tồn tại song vẫn cố giữ tới mức cao nhất sự độc lập của vương triều ông. Nhà vua không phải không nhận thấy sự tàn bạo của quân Xiêm[....]


Phương án cầu viện đối với nhà vua là con dao hai lưỡi, nhục nhã và vinh quang, Gia Long không phải không biết điều này. Nhưng khao khát muốn khôi phục vương nghiệp đã khiến vị vua này có những hành động đi ngược lại quyền lợi Tổ Quốc khi ông cầu viện người Pháp mặc dù trong thâm tâm ông không ưa gì họ. Cố thoát khỏi ảnh hưởng và âm mưu áp chế của họ, ông chỉ còn hy vọng gửi gắm vào Minh Mệnh, người nối ngôi ông giải quyết những mâu thuẫn này. Nhà vua đã có thái độ khéo léo để giữ độc lập nhưng ý muốn của ông đã bị thực tế phũ phàng xóa bỏ. Tất nhiên nhìn rộng ra, lịch sử thế giới thời kỳ này là những cuộc chiến tranh giành thuộc địa của Tư bản. Một điều tất yếu là những nước yếu sẽ bị thôn tính dầu có ai đó "cõng rắn" về hay không. Nhưng lịch sử đã đi theo con đường riêng của nó và dù vị vua khởi đầu triều Nguyễn có những công lao nhất định trong việc thống nhất quốc gia, xây dựng một chính quyền quân chủ hùng mạnh nhưng ông vẫn không thể xóa mờ vết đen trong sự nghiệp khi cầu viện ngoại bang.


 


Ngoài ra, sự tàn bạo của ông khi áp dụng các hình phạt thời Trung cổ, trả thù Tây Sơn khiến hậu thế nhiều khi có định kiến nặng nề về ông đến nỗi xóa nhòa hết công lao nhất định của ông đối với thống nhất đất nước. Và đó là điều đáng tiếc đối với vị quân vương quá nặng về khôi phục vương nghiệp, cố đạt được mục đích bằng bất cứ giá nào”.


Đặng Việt Thủy và Đặng Thành Trung[184]


“Cầu viện là việc khó, nhưng xong lại muốn "mời họ ra khỏi nhà thì còn khó hơn nhiều. Khó, nhưng vẫn phải làm... đó là vấn đề đậm nét đối với Gia Long từ khi lên ngôi đến khi nhắm mắt... Gia Long cố giữ gìn mối quan hệ êm thấm với người Pháp, vì địa vị và hoàn cảnh thì chưa thể trở mặt ngay được... Gia Long kéo dài tình trạng đó đến khi qua đời và giao lại nhiệm vụ giải quyết vấn đề đó cho kẻ nối ngôi”.


Nguyễn Phan Quang[185]


“... Hiệp ước Versailles không được thực thi vì sự bùng nổ của cách mạng Pháp năm 1789. Còn viện trợ do Bá Đa Lộc vận động từ các thuộc địa Pháp thì lực lượng tuy không nhiều nhưng cũng có tác dụng giúp Nguyễn Ánh trong việc xây thành lũy, huấn luyện quân sĩ, phát triển thủy quân, mua sắm vũ khí... và hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của Nguyễn Ánh... Hành động đưa 5 vạn quân Xiêm vào Gia Định là một "điểm mờ", một "tỳ vết" trong cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Ánh”.


Một phần tổng kết hội thảo Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam tại Thanh Hóa, Việt Nam tháng 10 năm 2008, nhiều vấn đề về Gia Long và nhà Nguyễn được đưa ra xem xét lại. Bài tổng kết hội thảo do giáo sư Phan Huy Lê viết [186]. 


Riêng về việc định đô ở Huế của Nguyễn Ánh, sử gia Phạm Văn Sơn cho là một sai lầm:


“Đặt quốc đô ở Phú Xuân là một mảnh đất gầy, dân thưa, của ít về phương diện quân sự nơi này là một vị trí chiến lược bất lợi cả về thủy lẫn bộ. Trái lại Bắc Hà là cội rễ của dân tộc, nói gần là từ hai chục thế kỷ trở về đây, ruộng đất phì nhiêu, dân cư đông đảo, anh hùng hào kiệt đời nào cũng sẵn chống xâm lăng nhiều phen như trúc chẻ, ngói tan. Vậy mà vua Gia Long bỏ thật là uổng. Phải chăng Gia Long đã e ngại những uy tín còn sót lại của hai họ Lê Trịnh, nhưng nếu đủ tài thi thố ân uy thì mình là thái dương mà các triều đại đã qua chỉ là những ngọn lửa tàn, đâu đáng sợ! Sau này Bắc Hà ly loạn liên miên, lòng dân khảng tảng vì triều đình ở quá xa rồi 50 năm sau giặc Pháp tiến vào nội địa của ta, hàng vạn quân của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Tôn Thất Thuyết không chống nổi mấy chiếc tàu, vài trăm lính của Francis Garnier, H. Rivière và De Courcy. Đấy chẳng là sự vụng tính của vua Gia Long vì đã bỏ gốc lấy ngọn đó sao?”.


Phạm Văn Sơn [183]


____


 


• a)^ Manuel còn được gọi với tiên phiên âm ra tiếng Việt là Mạn Hòe (Cao Tự Thanh 2007, tr. 186), Mãn-noài (Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 108).


 


• b)^ Có thuyết nói Võ Văn Dũng bị bắt nộp lại cho quân Nguyễn, cũng có thuyết trốn thoát và ẩn náu ở vùng Tây Nguyên, sống đến 90 tuổi, mất vào đời Thiệu Trị (1841-1847). Chi tiết xin xem bài Vũ Văn Dũng.


 


• c)^ Đây là nền kho Gian Thảo cũ (hiện tại nằm ở chợ Cầu Kho, Thành phố Hồ Chí Minh). Xem tại Sơn Nam 2009, tr. 55


 


• d)^ Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 285-286 sách 54 vị Hoàng đế Việt Nam, do Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân ấn hành (có dẫn ở phần thư mục) ghi như sau ..Trước những hành động như vậy, sách sử xưa nay nói nhiều về chính sách hành động cứng rắn của vua Gia Long, nhiều đến mức thiên lệch cả ý kiến khen chê ông vua khai sáng triều Nguyễn. Gia Long đã tìm cách xóa cho kỳ hết những dấu tích về triều Tây Sơn, nhất là đối với Quang Trung, người mà đương thời đã được dân tộc tôn vinh với chiến công huy hoàng trong việc đánh đuổi quân xâm lược Mãn Thanh. Sự tàn bạo này đã phá hủy gần như toàn bộ di sản văn hóa lịch sử triều Tây Sơn, một triều đại tuy ngắn ngủi nhưng nhưng đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong thế kỷ XVIII với nhiều biến cố lịch sử khác thường. Tuy nhiên, phải chăng Gia long xóa sạch dấu vết của nhà Tây Sơn chỉ vì trả thù cá nhân? Chắc hẳn vị vua này không thiển cận như thế? Tất nhiên, Tây Sơn bị trả thù vì những năm tháng lênh đênh phiêu bạt, vì sự tan nát vương nghiệp của các chúa Nguyễn cũng được xem là một lý do. Nhưng còn có một lý do sâu xa hơn, đó là chọn một giải pháp tối ưu cho vương triều ông mới thành lập. Triều Tây Sơn mà Gia Long gọi là giặc Tây cũng là kẻ thù của vương triều Lê-Trịnh. Dù vương triều này đã sụp đổ nhưng các cựu thần của vương triều cũ vẫn còn rải rác khắp nơi. Trừng phạt nghiêm khắc triều Tây Sơn còn để giương cao uy vũ, cảnh báo và khống chế mọi thế lực đối lập phải quy thuận theo vương triều mới. Thực tế cho thấy, sau khi vua Quang Trung mất, Tây Sơn đã sụp đổ, lực lượng còn lại quá bé nhỏ, nội bộ thì lục đục, đem quân đánh nhau, vua trẻ Quang Toản còn nhỏ tuổi, điều này đâu có đáng phải lo sợ để ra quá tay tàn bạo? Tàn dư của triều Tây Sơn là không đáng kể nhưng Gia Long vẫn thẳng tay đàn áp vì một lần giương cung, bắn tên, nhà vua đã đạt được hai mục đích: trả thù và kiềm chế, răn đe những lực lượng muốn trỗi dậy để phục hưng chống lại vương triều mới....


 


• e)^ Điển cố ruộng đất ở đây có nghĩa là cầm cố ruộng đất (Ban biên soạn chuyên từ điển: New Era (2005). Từ điển tiếng Việt. Nhà xuất bản Văn Hóa-Thông Tin. tr. 712.), nghĩa rõ hơn: chính sách điển cố ở đây là cho một người thuê ruộng đất dùng làm việc công sau 3 năm sẽ lấy lại (tham khảo chi tiết tại Nguyễn Thế Anh (2008). Kinh tế & xã hội Việt Nam dưới các triều vua nhà Nguyễn. Nhà xuất bản Văn Học. tr. 91.).


Chú thích và tham khảo


Ghi chú


 


    ^ a b c Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 277


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 90-91


    ^ a b c d Phan Khoang 2001, tr. 508


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 91


    ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 107


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 509


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 100


    ^ Huỳnh Minh 2006, tr. 9


    ^ a b c Trần Trọng Kim 1971, tr. 108


    ^ a b c d Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 278


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 510


    ^ Huỳnh Minh 2006, tr. 9-10


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 510-511


    ^ a b c d e f Phan Khoang 2001, tr. 511


    ^ a b Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 100-101


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 512


    ^ a b c Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 107-108


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 108 -109


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 109


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 111


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 522-523


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 112


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 514-515


    ^ a b c d e f Phan Khoang 2001, tr. 515


    ^ a b c Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 113-115


    ^ Nguyễn Lương Bích & Phạm Ngọc Phụng 1976, tr. 65


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 113


    ^ a b c d Huỳnh Minh 2006, tr. 11


    ^ a b c Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 116-117


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 118-119


    ^ a b Phan Khoang 2001, tr. 516


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 119-120


    ^ a b c d e Trần Trọng Kim 1971, tr. 110


    ^ Quốc sử quán triều Nguyễn 1971, tr. 12


    ^ Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 278-279


    ^ a b c Phan Khoang 2001, tr. 517


    ^ Huỳnh Minh 2006, tr. 143


    ^ a b Nguyễn Lương Bích & Phạm Ngọc Phụng 1976, tr. 88


    ^ Khánh Linh 2008


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 123


    ^ Nguyễn Phan Quang 2005, tr. 82


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 124


    ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 110-111


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 125-126


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 517-518


    ^ a b Phan Khoang 2001, tr. 518


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 178


    ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 111


    ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 145-146


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 180-181


    ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 146-147


    ^ a b Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 182-183


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 183


    ^ Nguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 299


    ^ a b Nhiều tác giả 2007, tr. 57


    ^ a b c d e Nguyễn Quang Trung Tiến 1999


    ^ a b Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 279


    ^ a b c Phan Khoang 2001, tr. 519


    ^ Sơn Nam 2009, tr. 54-55


    ^ a b Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 188-190


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 190


    ^ a b c Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 196


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 191-192


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 520


    ^ a b Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 193-197


    ^ a b c Trần Trọng Kim 1971, tr. 151-152


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 200-208


    ^ a b c Huỳnh Minh 2006, tr. 12


    ^ a b Mantienne 2003, tr. 522


    ^ Mantienne 2003, tr. 524


    ^ Mantienne 2003, tr. 525


    ^ Mantienne 2003, tr. 527


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 207-208


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 529-530


    ^ a b c d e Sơn Nam 2009, tr. 55


    ^ a b McLeod 1991, tr. 9


    ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 149


    ^ a b Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 280


    ^ Sơn Nam 2009, tr. 55-56


    ^ a b c d Sơn Nam 2009, tr. 56


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 224


    ^ a b c Trần Trọng Kim 1971, tr. 150


    ^ a b c d Sơn Nam 2009, tr. 57


    ^ a b Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 225


    ^ a b Phan Khoang 2001, tr. 525


    ^ a b Phan Khoang 2001, tr. 523-524


    ^ Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 197


    ^ a b c Tạ Chí Đại Trường 1973, tr. 197-199


    ^ a b Phan Khoang 2001, tr. 528


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 527


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 530-534


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 531


    ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 153


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 535


    ^ a b Trần Trọng Kim 1971, tr. 155


    ^ Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 280-281


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 536


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 539


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 541


    ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 153-154


    ^ a b Trần Trọng Kim 1971, tr. 154-155


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 541-542


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 542


    ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 155-157


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 543-544


    ^ a b c Phan Khoang 2001, tr. 545


    ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 157


    ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 157-158


    ^ a b Phan Khoang 2001, tr. 545-546


    ^ Phan Khoang 2001, tr. 546


    ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 158


    ^ a b Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 281


    ^ a b c d e Phan Khoang 2001, tr. 550


    ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 159-160


    ^ a b Trần Trọng Kim 1971, tr. 160-161


    ^ a b Trần Trọng Kim 1971, tr. 162


    ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 163


    ^ a b Trần Trọng Kim 1971, tr. 164


    ^ a b Trần Trọng Kim 1971, tr. 164-165


    ^ Tarling 1999, tr. 245


    ^ Cao Tự Thanh 2007, tr. 335-336


    ^ a b c Ngô gia văn phái 2001, tr. 401


    ^ a b c Chapuis 1995, tr. 143


    ^ a b Cao Tự Thanh 2008, tr. 336


    ^ a b Trần Trọng Kim 1971, tr. 170


    ^ Đỗ Bang 2005, tr. 185-186


    ^ Oberdorfer 2001, tr. 203


    ^ a b Vũ Ngọc Khánh 2008, tr. 143


    ^ a b Nguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 304


    ^ Tarling 1999, tr. 245


    ^ Kamm 1996, tr. 83


    ^ Tarling 1999, tr. 245-246


    ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 170-171


    ^ a b c d e f Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 282


    ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 171-172


    ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 172-173


    ^ Trần Đức Anh Sơn 2004, tr. 17-20


    ^ McLeod 1991, tr. 16


    ^ Chemillier-Gendreau 2000, tr. 180


    ^ a b c Trần Trọng Kim 1971, tr. 178-179


    ^ a b c d e Trần Trọng Kim 1971, tr. 181


    ^ a b Buttinger 1958, tr. 241


    ^ Maybon 1919, tr. 398


    ^ Cao Huy Thuần 1988, tr. 49-50


    ^ Gochet 1888, tr. 269


    ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 180


    ^ Trần Trọng Kim 1971, tr. 180-181


    ^ Buttinger 1958, tr. 271


    ^ a b c Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 284


    ^ Nhiều tác giả 2007, tr. 37


    ^ a b c d e f g h Tarling 1999, tr. 246


    ^ Tarling 1999, tr. 271


    ^ a b c d Trần Trọng Kim 1971, tr. 175


    ^ a b c d e f g h i Trần Trọng Kim 1971, tr. 173


    ^ a b Trần Trọng Kim 1971, tr. 174


    ^ a b Trần Trọng Kim 1971, tr. 174-175


    ^ a b c d e Trần Trọng Kim 1971, tr. 176


    ^ a b c d Trần Trọng Kim 1971, tr. 177


    ^ a b c Trần Trọng Kim 1971, tr. 178


    ^ a b Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 282-283


    ^ a b c Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 283


    ^ Nguyễn Khắc Thuần 2005, tr. 306


    ^ a b c Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 286-287


    ^ a b Trần Trọng Kim 1971, tr. 176-177


    ^ Sơn Nam 2009, tr. 78-79


    ^ a b c d Trần Trọng Kim 1971, tr. 182-184


    ^ a b Dương Quảng Hàm 1968, tr. 103


    ^ Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 284-285


    ^ Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 285


    ^ a b Trần Trọng Kim 1971, tr. 184


    ^ a b Gia tộc Nguyễn Phước 2006b


    ^ a b c Thi Long 1998, tr. 84


    ^ Tôn Thất Bình 1997, tr. 44


    ^ a b c d Thi Long 1998, tr. 85


    ^ a b c Tôn Thất Bình 1997, tr. 45


    ^ a b Tôn Thất Bình 1997, tr. 46-47


    ^ Tôn Thất Bình 1997, tr. 46


    ^ Tôn Thất Bình 1997, tr. 47


    ^ Gia tộc Nguyễn Phước 2006


    ^ Vũ Ngọc Khánh 2008, tr. 145


    ^ Nhiều tác giả 2006, tr. 26-28


    ^ Lý Khôi Việt (1988). Hai ngàn năm Việt Nam & Phật giáo. Phật học Việt Quốc tế. tr. 183.


    ^ a b Việt Sử toàn thư, tr 417


    ^ Đặng Việt Thủy & Đặng Thành Trung 2008, tr. 287-288


    ^ Nguyễn Phan Quang, sách đã dẫn, tr 665-666


    ^ Phan Huy Lê 2008


Thư mục:


    Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược, 2, Sài Gòn: Trung tâm Học liệu Xuất bản thuộc Bộ Giáo dục..


    Tạ Chí Đại Trường (1973), Lịch Sử Nội Chiến Việt Nam 1771- 1802, Sài Gòn: Nhà xuất bản Văn Sử Học..


    Sơn Nam (2009), Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam (ấn bản 1), Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Trẻ..


    Phan Khoang (2001), Việt sử xứ Đàng Trong, Nhà xuất bản Văn Học..


    Nguyễn Quang Trung Tiến (1999), "Hệ quả cuộc cách mạng 1789 đối với tiến trình thâm nhập Việt Nam của chủ nghĩa tư bản Pháp và "tấn bi kịch Gia Long"", Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ số 1 (23)..


    Nguyễn Phan Quang (2005), Theo dòng Lịch sử Dân tộc, 2, Nhà xuất bản Tổng hợp Thành Phố Hồ Chí Minh..


    Nguyễn Lương Bích; Phạm Ngọc Phụng (1976), Tìm hiểu thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân..


    Huỳnh Minh (2006), Gia Định xưa, Nhà xuất bản Văn Hóa-Thông Tin..


    Đặng Việt Thủy; Đặng Thành Trung (2008), 54 vị Hoàng đế Việt Nam, Hà Nội: Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân..


    Gia tộc Nguyễn Phước (2006), Nguyễn Phước gia phả, Gia tộc Nguyễn Phước, truy cập 10 tháng 8 năm 2008.[liên kết hỏng].


    Gia tộc Nguyễn Phước (2006b), Đức Thế tổ Cao Hoàng đế húy Nguyễn Phúc Ánh (1762 - 1820), Gia tộc Nguyễn Phước, truy cập 10 tháng 8 năm 2008.[liên kết hỏng].


    Khánh Linh (2008), Đột phá trong nhận thức về chúa Nguyễn, triều Nguyễn, Việt Nam Net, truy cập 16 tháng 10 năm 2008..


    Phan Huy Lê (2008), Xác lập nhận thức mới về chúa Nguyễn, triều Nguyễn, Việt Nam Net, truy cập 2 tháng 3 năm 2009..


    Quốc sử quán triều Nguyễn (2001), Khâm định Việt sử Thông giám cương mục (ấn bản điện tử từ bản dịch của Viện sử học Việt Nam), Hà Nội: Nhà xuất bản Giáo Dục.[liên kết hỏng].


    Thi Long (1998), Nhà Nguyễn chín Chúa mười ba Vua, Nhà xuất bản Đà Nẵng..


    Tôn Thất Bình (1997), Kể chuyện chín Chúa mười ba Vua triều Nguyễn, Nhà xuất bản Đà Nẵng..


    Quốc sử quán triều Nguyễn (1971), Quốc triều chánh biên toát yếu, Sài Gòn: Nhóm nghiên cứu Sử Địa xuất bản..


    Ngô gia văn phái (2001), Hoàng Lê nhất thống chí (ấn bản dịch của Nguyễn Đức Vân, Kiều Thu Hoạch), Nhà Xuất bản Văn Học..


    Vũ Ngọc Khánh (2008), Người có vấn đề trong lịch sử nước ta, Nhà xuất bản Văn Hóa-Thông Tin..


    Nguyễn Khắc Thuần (2005), Đại cương lịch sử cổ trung đại Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo Dục..


    Cao Huy Thuần (1988), Đạo Thiên chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam (Luận án tiến sĩ quốc gia), Đại học Paris..


    Trần Đức Anh Sơn (2004), HUẾ Triều Nguyễn một cái nhìn, Nhà xuất bản Thuận Hóa..


    Dương Quảng Hàm (1968), Việt Nam thi văn hợp tuyển, Sài Gòn: Trung tâm học liệu Bộ Giáo dục xuất bản..


    Nhiều tác giả (2006), Quang Trung Nguyễn Huệ - Những di sản và bài học, Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn..


    Cao Tự Thanh (2007), Lịch Sử Sài Gòn Gia Định Trước 1802, Nhà xuất bản Văn Hóa Sài Gòn..


    Nhiều tác giả (2007), Những Vấn Đề Lịch Sử Triều Nguyễn, Nhà xuất bản Văn Hoá Sài Gòn..


    Đỗ Bang (2005), Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung, Nhà xuất bản Thuận Hóa..


    (tiếng Anh) Chapuis, Oscar (1995), A History of Vietnam: From Hong Bang to Tu Duc, Greenwood Publishing Group, ISBN 0313296227..


    (tiếng Anh) McLeod, Mark W. (1991), The Vietnamese response to French intervention, 1862–1874, Praeger, ISBN 0-275-93652-0..


    (tiếng Anh) Kamm, Henry (1996), Dragon Ascending: Vietnam and the Vietnamese, Arcade Publishing, ISBN 1559703067..


    (tiếng Anh) Mantienne, Frédéric (2003), "The Transfer of Western Military Technology to Vietnam in the Late Eighteenth and Early Nineteenth Centuries: The Case of the Nguyen", Journal of Southeast Asian Studies 34 (3), doi:10.1017/S0022463403000468..


    (tiếng Anh) Tarling, Nicholas (1999), The Cambridge History of Southeast Asia, 1 (phần 2), Cambridge University Press, ISBN 0-521-66370-9..


    (tiếng Anh) Buttinger, Joseph (1958), The Smaller Dragon: A Political History of Vietnam, Praeger..


    (tiếng Anh) Oberdorfer, Don (2001), Tet!: The Turning Point in the Vietnam War, JHU Press, ISBN 0801867037..


    (tiếng Anh) Chemillier-Gendreau, Monique (2000), Sovereignty Over the Paracel and Spratly Islands, Martinus Nijhoff Publishers, ISBN 9041113819..


    (tiếng Pháp) Gochet, Alexis-Marie (1835-1910) (1888), La France coloniale illustrée : Algérie, Tunisie, Congo, Madagascar, Tonkin et autres colonies françaises : considérées au point de vue historique... / par A.-M. G.,..., Tours: Alfred Mame et fils..


    (tiếng Pháp) Maybon, Charles B. (1919), Histoire Moderne du Pays d' Annam, Paris: Plon..


 


Đọc thêm


    Quốc sử quán Triều Nguyễn (2007). Đại Nam thực lục chính biên. 1. Việt Nam: Nhà xuất bản Giáo dục.


    Nhiều tác giả (2007). Sài Gòn Xưa Và Nay. Việt Nam: Nhà xuất bản Trẻ.


    Nguyễn Đắc Xuân (2004). Kiến Thức Về Triều Nguyễn Huế Xưa. Việt Nam: Nhà xuất bản Thuận Hoá.


    Tôn Thất Bình (2006). Kể Chuyện Chín Chúa Mười Ba Vua Triều Nguyễn. Việt Nam: Nhà xuất bản Trẻ.


    Tôn Thất Bình (2001). 12 danh tướng triều Nguyễn. Việt Nam: Nhà xuất bản Thuận Hoá.


    Nguyễn Khắc Thuần (2004). Thế Thứ Các Triều Vua Việt Nam (ấn bản Tái Bản Lần Thứ 10). Việt Nam: Nhà xuất bản Giáo dục.


    Nguyễn Phan Quang (2006). Một số công trình sử học Việt Nam. Việt Nam: NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh.


Wikipedia


Tại sao vua Gia Long 'quá hiếu sát' nhà Tây Sơn?


Vua Gia Long (Nguyễn Ánh) không hề che đậy sự tàn bạo, hiếu sát nhà Tây Sơn, khi tuyên bố: "Trẫm vì chín đời mà trả thù".


Việc trả thù Tây Sơn của Nguyễn Ánh về sau bị sử sách nói nhiều đến mức độ thiên lệch cả về công và tội của ông. Cuộc báo thù này có hai mục đích: Thứ nhất, để trả thù cho những việc Tây Sơn gây ra với gia tộc và bản thân Nguyễn Ánh trước kia, vua cho phá lăng mộ các chúa nhà Nguyễn, giết chết người thân...; và thứ hai, dùng cuộc trả thù để tỏ rõ uy thế, làm khiếp sợ và buộc những người chống đối (ở đây chủ yếu là các cựu thần Lê -Trịnh) phải quy thuận trước vương triều mới.


 


Sau khi tạm ổn định tình hình, ngày 2 tháng 5 Nhâm Tuất (1802), Nguyễn vương Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi (chưa chính thức), lấy niên hiệu Gia Long, nguyên niên ở Kinh Thành Phú Xuân và sau đó đưa đại quân ra Bắc để tiêu diệt vua Tây Sơn Bảo Hưng. Ngày 23 tháng 6 năm Nhâm Tuất, vua Gia Long vào thành Thăng Long, thanh toán xong triều Tây Sơn. Mùa đông năm Nhâm Tuất, sau khi bắt sống vua Bảo Hưng Nguyễn Quang Toản, xa giá vua Gia Long từ Thăng Long trở về Phú Xuân và “tận pháp trừng trị” vua quan Tây Sơn…


Sách Đại Nam thực lục chính biên chép: Quang Toản và những người con khác của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ là Quang Duy, Quang Thiệu và Quang Bàn bị 5 voi xé xác, đầu bị bỏ vào vò và giam trong ngục. Quang Tự, Quang Điện, Nguyễn Văn Trị rồi các con của Nguyễn Nhạc gồm Thanh, Hán, Dũng bị giết ngay sau khi bị bắt; chưa kể 31 người có quan hệ huyết thống với Nguyễn Huệ đều bị xử lăng trì.


Lăng mộ nhà Tây Sơn như các lăng của vua Thái Đức và vua Quang Trung bị quật lên, hài cốt bị giã nát quăng đi, đầu ba vua Tây Sơn (Thái Đức, Quang Trung và Cảnh Thịnh) và bài vị vợ chồng Nguyễn Huệ thì bị giam trong ngục tối.


Nữ tướng Bùi Thị Xuân và con gái bị voi giày, chồng bà là Trần Quang Diệu do trước đó đã có lần tỏ ra khoan thứ cho quân Nguyễn nên xin được Nguyễn Ánh tha cho mẹ già 80 tuổi trước khi bị xử chết... Các quan văn khác của Tây Sơn như: Ngô Thì Nhậm và Phan Huy ích ra hàng thì cho đánh đòn và được tha về. Riêng Ngô Thì Nhậm bị Đặng Trần Thường trước có thù riêng nên cho người đánh chết.


 


Chiếu Bộ luật Gia Long


Bộ luật Gia Long thời Nguyễn có điều luật 223: Phàm kẻ mưu phản và đại nghịch và những kẻ cùng mưu, không phân biệt thủ phạm hay tòng phạm đều lăng trì xử tử (róc thịt, phanh thây, tùng xẻo)… Lăng trì là một trong những hình phạt dã man được dùng rộng rãi ở thời xưa, chính thức bỏ từ năm 1905. Phạm nhân vô cùng đau đớn vì bị xẻo từng miếng thịt trên người, đao phủ phải giữ cho tử tội không chết nhanh, để biết đớn đau theo từng nhát xẻo và đủ số nhát xẻo thì tội nhân mới được chết.


Điều 225 của Bộ luật Gia Long cũng quy định những ai viết câu yêu thư, yêu ngôn đều bị tru di tam tộc - là một hình phạt tàn bạo thời phong kiến. Tru và Di đều mang nghĩa giết sạch, tam tộc là ba họ gồm: họ cha, họ mẹ, họ vợ. Hình phạt tru di tam tộc được áp dụng cho những tội phạm khi quân, phản quốc. Khi bị kết án tru di tam tộc, những người trong cả 3 họ của người phạm tội, từ trẻ đến già đều bị diệt. Họ nhà mẹ và họ nhà vợ, bao gồm cả họ hàng của mẹ kế và vợ lẽ cũng bị tru di. Nếu mẹ kế và những người vợ lẽ của phạm nhân đã qua đời, trước khi kết án, thì họ hàng của họ vẫn phải thụ án.


Trong lịch sử phong kiến, khi xảy ra án tru di tam tộc, thường có nhiều người với họ khác nhau bị giết một lúc. Nhiều người có quan hệ họ hàng khá xa với phạm nhân cũng bị chết cùng. Những người cùng họ của phạm nhân, may mắn trốn thoát nơi xa, mai danh ẩn tích, đổi sang họ khác. Sự truy nã của triều đình phong kiến đối với những người này kéo dài nhiều năm và chỉ dừng lại khi có lệnh cải chính chính thức của triều đình. Vì thế có người sau nhiều năm trốn tránh vẫn bị bắt giết.


Cũng theo Bộ luật Gia Long, hình phạt voi giày áp dụng cho các tử tội, thường là phạm tội nặng với triều đình. Voi sử dụng để hành quyết thường là voi châu Á được huấn luyện thuần thục. Tội phạm thường bị voi dùng chân dẫm lên cơ thể, dùng vòi cuốn đưa lên cao và quật xuống đất. Người ta điều khiển voi làm cho nạn nhân chết nhanh hoặc chết từ từ để hành hạ...


 


Vua có lạm sát?


Minh chứng là với họ Trịnh, hai bên đánh nhau ròng rã 45 năm, nhưng khi đã lấy được thiên hạ năm 1802, vua vẫn đối xử tốt với con cháu họ Trịnh.


Theo Đại Nam thực lục chính biên, trước là khi đại giá Bắc phạt, người họ Trịnh ai ai cũng sợ bị giết. Vua thấu rõ tâm tình, xuống chiếu dụ rằng: "Tiên đế ta với họ Trịnh vốn là nghĩa thông gia. Trung gian Nam Bắc chia đôi, dần nên ngăn cách, đó là việc đã qua của người trước, không nên nói nữa. Ngày nay, trong ngoài một nhà, nghĩ lại mối tình thích thuộc bao đời, thương người còn sống, nhớ người đã mất, nên lấy tình hậu mà đối xử. Vậy nên cùng báo cho nhau, họp chọn lấy một người trưởng họ, giữ việc thờ cúng để giữ tình nghĩa đời đời".


Tiếp đến, La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp, được coi là Gia Cát Lượng của vua Quang Trung, được vua Gia Long tha mạng và ra chỉ dụ rằng: "Khanh là người tuổi tác, đạo đức, rất được người ta trông cậy. Sau khi trở về núi nên khéo léo đào tạo lấy nhiều học trò để ra sức phò giúp thịnh triều, khỏi phụ tấm lòng rất mực mến lão kính hiền của ta".


Năm 1803, phái đoàn do vua Cảnh Thịnh phái đi sứ Nhà Thanh (gồm Lê Đức Thận, Nguyễn Đăng Sở và Vũ Duy Nghi) bị trả về nước, bị quan Bắc thành bắt giải về kinh, vua Gia Long tha hết cho về quê. Lại khi Bộ hình tâu xin vua định đoạt số phận của người vợ lẽ Nguyễn Nhạc cùng 2 người em họ tên Đại và Vạn bị bắt thì vua nói: “Vợ lẽ Nhạc là một người đàn bà thôi. Bọn Đại tuy là thân đảng của giặc Nhạc mà không dự binh quyền, nay Nhạc chết rồi, giết đi thì có ích gì?”.


Vua Gia Long vốn không phải là con người hiếu sát. Rõ là tùy theo từng người, từng trường hợp mà vua quyết định tha hay phạt... Vậy gốc rễ khiến vua ra tay cực kỳ tàn bạo với nhà Tây Sơn là bắt nguồn từ đâu?


 


Chuyện vua Gia Long tàn sát họ Tây Sơn


Thời kỳ đầu khi Gia Long lên ngôi, đã chỉ dụ cho dân địa phương rằng: “Hễ ai là bà con tộc thuộc của Tây Sơn ra khai báo, sẽ được trọng dụng bổ làm quan”. Vậy, thực hư chuyện này thế nào?


Theo sách Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung của PGS.TS sử học Đỗ Bang, vụ tàn sát dòng dõi Tây Sơn của Vua Gia Long được các bô lão truyền rằng: Sau khi nghe chỉ dụ của nhà vua, các tộc thuộc Tây Sơn ở Hưng Nguyên (tỉnh Nghệ An) tưởng thật, đã ra khai báo, nhưng không ngờ tất cả đều bị bắt và bị giết. Hiện nay, có 24 gia đình gốc họ Hồ đều có người chết trong ngày đại tang Tây Sơn, kỵ vào ngày 20 tháng 10 âm lịch hàng năm.


Những người còn sống được do lẩn trốn sang các làng khác, có người phải đổi thành họ Nguyễn mới tránh được sự truy nã của vua quan triều Nguyễn. Ở xã Hưng Thái (huyện Hưng Nguyên) tương truyền có khu mộ tổ của anh em Tây Sơn.


Sau khi lên ngôi, Hoàng đế Gia Long đã “tận pháp trừng trị” vua quan Tây Sơn


Lăng trì (còn gọi là tùng xẻo, xử bá đao) là hình thức xử tử tàn độc, dã man và ghê rợn bậc nhất thời trung cổ. Phương pháp tử hình này cũng được các vua chúa Việt Nam dưới triều Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức thi hành. Trong Bộ luật Gia Long thời Nguyễn xếp lăng trì vào loại “cực hình ngoài mức cực hình” và áp dụng với những kẻ mang các tội sau: mưu phản và đại nghịch chống vua và xã tắc, mưu giết ông bà, cha mẹ, gian dâm và âm mưu giết chồng, giết một nhà ba người, chặt chân tay, phanh thân thể người còn sống, đầy tớ đánh chủ nhà đến chết, vợ cố ý đánh chết chồng.


Dựa theo những bức tranh vẽ và sách xưa viết lại, thường phạm nhân sẽ bị trói vào cột, đao phủ nghe hiệu lệnh bằng tiếng trống và chặt hết tay chân, rồi dùng dao sắc xẻo từng miếng thịt cho đến chết. Tùy theo từng nơi, từng luật mà quy định mà phải sau đúng bao nhiêu nhát xẻo thì nạn nhân mới được chết...


Trước đó, mùa đông năm Nhâm Tuất, sau khi bắt sống vua Bảo Hưng Nguyễn Quang Toản, xa giá của Hoàng đế Gia Long từ Thăng Long trở về Phú Xuân và đã “tận pháp trừng trị” vua quan Tây Sơn… Sách Đại Nam thực lục chính biên chép: Quang Toản và những người con khác của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ là Quang Duy, Quang Thiệu và Quang Bàn bị 5 voi xé xác, đầu bị bỏ vào vò và giam trong ngục. Quang Tự, Quang Điện, Nguyễn Văn Trị, rồi các con của Nguyễn Nhạc gồm Thanh, Hán, Dũng bị giết ngay sau khi bị bắt; chưa kể 31 người có quan hệ huyết thống với Nguyễn Huệ đều bị xử lăng trì.


Lăng mộ nhà Tây Sơn như các lăng của vua Thái Đức và vua Quang Trung bị quật lên, hài cốt bị giã nát quăng đi, đầu ba vua Tây Sơn (Thái Đức, Quang Trung và Cảnh Thịnh) và bài vị vợ chồng Nguyễn Huệ thì bị giam trong ngục tối.


Theo Quốc sử quán triều Nguyễn, Vua Gia Long sau khi có những hành động tận pháp trừng trị lên hài cốt của Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và thân xác của Nguyễn Quang Toản…, đã  chừa lại ba đầu lâu bỏ vào 3 cái vò, đậy nắp kỹ, niêm khằng, quấn xích sắt, chú bùa để giam vĩnh viễn trong Nhà Đồ ngoại (sau đổi thành Vũ Khố) vào tháng 11 năm Nhâm Tuất (1802).


Đến năm 1822, Vua Minh Mạng ra lệnh đưa 3 cái vò vào giam ở Khám đường. Đêm 22 rạng 23 tháng Năm Ất Dậu (1885), phòng thành Huế thất thủ, Vua Hàm Nghi cùng hoàng gia phải rời khỏi phòng thành, quân Pháp vào thành… Lúc đó, có người mang 3 vò chạy trốn. Riêng một vò (sọ của Vua Quang Trung) được một ông họ Phan, người ở gần Cầu Ngói đã theo hào, lạch, sông đưa về Cầu Ngói, Thanh Toàn


Lại nói về quê hương của tổ tiên Hoàng đế Quang Trung, theo sử liệu, quê hương đầu tiên là ấp Tây Sơn (nay thuộc huyện An Khê, tỉnh Gia Lai), khi đó với đoàn chiến tù bị bắt từ xứ Nghệ, Chúa Nguyễn cho phát tán đi nhiều nơi, một số trong họ có tổ tiên Nguyễn Huệ bị đưa lên khai phá vùng cao nguyên này từ thế kỷ XVII. Tuy nhiên, đến đời cụ thân sinh ra Nguyễn Huệ là Hồ Phi Phúc, có vợ là Nguyễn Thị Đồng, đã chuyển về cư ngụ tại quê vợ ở thôn Phú Lạc - nằm dưới chân núi Ngang, nơi có hai hố huyệt, chỗ an táng của hai cụ, từng bị Hoàng đế Gia Long cho quật phá vào thế kỷ XIX nhưng không thành công.


Các giai thoại ở địa phương đều công nhận rằng, mộ song thân các anh em Tây Sơn chôn ở núi Ngang (Hoành Sơn, Bình Định). Vì có mộ ông Hồ Phi Phúc nên Hoành Sơn được tôn xưng là núi Thiếu Tổ. Song, vẫn không biết đích xác chôn ở vị trí nào? Đứng ở phía Đông Hoành Sơn nhìn lên, ở khoảng giữa có một trảng đất trống như một chiếc ghế bành mà thân núi là lưng tựa. Ở trảng đất này có hai nấm mộ song song, bằng đá hình chữ nhật. Gia Long ngỡ rằng đó là phần mộ của ông bà Hồ Phi Phúc nên truyền quan địa phương khai quật. Thế nhưng, khi khai quật lên, không thấy hài cốt mà chỉ có bốn chiếc chum đựng dầu phụng đã vơi, trong mỗi chum có một ngọn đèn chong chóng đang cháy.


Theo các bô lão, hai huyệt mộ giả có bốn ngọn đèn dầu phụng khổng lồ đang cháy là do Tây Sơn chôn, nhưng không ai giải thích rõ mục đích của việc làm đó. Và câu hỏi này từ đầu thế kỷ XIX đã đặt ra cho quan quân triều Nguyễn. Họ đã mất công đi tìm, đào bới, nhưng cuối cùng vẫn không thấy chính huyệt mộ táng nằm ở đâu?


Năm 1990, ở di tích Gò Lăng (Phú Lạc) phát hiện bia mộ có chữ “Ngự chế” lập năm Kỷ Hợi, nhiều người cho đó là khu lăng mộ của nhà Tây Sơn. Năm 1999, ở đây lại phát hiện một kiến trúc cổ, dấu vết còn lại là ba hàng cột đá, với nhiều mảnh ngói vỡ, chén, bát.


Cho đến nay, ở thôn Phú Lạc vẫn lưu lại một đền thờ nhỏ, do nhân dân dựng lên để thờ Tây Sơn tam kiệt. Trong công viên Tây Sơn, bên cạnh bảo tàng Quang Trung còn có hai cây me cổ thụ và giếng nước lâu đời.


Thái Thắng


Báo Đất Việt


 


Sự Trả Thù Của Nhà Nguyễn đối Với Nhà Tây Sơn


Tháng 7 năm Nhâm Tuất (1802), Nguyễn Phúc Ánh trở về Phú Xuân, đem Vua tôi nhà Tây Sơn ra báo thù.


Tất cả các võ tướng đều bị tử hình, Trần Quang Diệu bị lột da, các tướng khác bị voi chà, người trảm quyết.


Từ vị đại tướng đến viên tùy tướng, thảy thảy đều giữ bản sắc anh hùng, không một nét sợ hãi, không một lời cầu nhiêu, hiên ngang, khẳng khái.


Riêng đối với Bùi Thị Xuân, Nguyễn Phúc Ánh dùng hình phạt khốc liệt nhất quán cổ kim!


Vốn nghe danh nữ kiệt, Nguyễn Phúc Ánh truyền đem đến xem mặt, Nguyễn Phúc Ánh tự đắc hỏi:


- Ta và Nguyễn Huệ, ai hơn?


Nữ kiệt ung dung đáp:


- Nói về tài ba thì Tiên Ðế ta bách chiến bách thắng, hai bàn tay trắng dựng nên cơ đồ. Còn nhà ngươi bị đánh phải trốn chui trốn nhủi, phải cầu viện ngoại bang, hết Xiêm đến Pháp. Chỗ hơn kém rõ ràng như ao trời nước vũng. Còn nói về đức độ, thì Tiên Ðế ta lấy nhân nghĩa mà đối xử với kẻ trung thần thất thế, như đã đối với Nguyễn Huỳnh Ðức, tôi nhà ngươi. Còn nhà ngươi lại dùng tâm của kẻ tiểu nhân mà đối với những bậc nghĩa liệt, đã hết lòng vì chúa, chẳng nghĩ rằng ai có chúa nấy, ái tích kẻ tôi trung của người tức là khuyến khích tôi mình trung với mình. Chỗ hơn kém cũng rõ ràng như ban ngày và đêm tối. Nếu Tiên Ðế ta đừng thừa long sớm, thì dễ gì nhà ngươi trở lại đất nước này!


Nguyễn Phúc Ánh hỏi gằn:


- Nhà ngươi có tài sao không giữ ngai vàng cho Cảnh Thịnh?


Nữ kiệt đáp:


- Nếu có thêm một nhi nữ như ta nữa thì cửa Nhật Lệ không dễ gì mà lạnh. Cửa Nhật Lệ không để lạnh, thì nhà ngươi cũng khó mà đặt chân lên đất Bắc Hà.


Nguyễn Phúc Ánh hỏi có muốn xin ân xá không?


Nữ kiệt đáp:


- Ta đâu có sợ chết mà phải chịu nhục, hạ mình trước một kẻ tiểu nhân đắc thế?


Nguyễn Phúc Ánh căm gan, dằn từng tiếng.


- Không chịu nhục? Ta sẽ làm cho mi biết nhục.


Liền truyền lệnh: Ðem Bùi Thị Xuân về Bình Ðịnh, cởi bỏ hết quần áo, cột đứng trên tù xa đẩy đi khắp các nơi thị tứ.


Nhân dân Bình Ðịnh nghe tin, không ai bảo ai, mà mỗi lần xe nữ kiệt đi qua, thì nhà hai bên đường đều đóng kín cửa, người đi đường, người nhóm chợ, đều ngoảnh mặt bỏ tránh xa.


Xe đến vùng Ðập Ðá là nơi dệt lụa, thì những tấm lụa tinh khôi bay tung vào xe. Lớp bị bọn tướng sĩ hộ tống vung gươm chém đứt, theo gió bay lên không trung, lớp rơi vào xe phủ kín châu thân nữ kiệt.


Nữ kiệt lại bị giải về Phú Xuân, Nguyễn Phúc Ánh hỏi:


- Ðã biết nhục chưa?


- Nhục nào có vương vào thân ta, mà chính đổ lên đầu nhà ngươi, con người tánh độc hơn sài lang, lòng nhớp hơn cẩu trệ.


Nguyễn Phúc Ánh tức giận, truyền bắt mấy người con của nữ kiệt đem ra giết trước mặt nữ kiệt: Mấy người con nhỏ thì sai lực sĩ bỏ vào bao vải, đánh nát thây. Còn người con gái lớn thì cho voi xé xác. Thấy voi đến, người con gái hoảng sợ kêu lên:


- Mẹ ơi! Cứu con với!


Nữ kiệt hét lớn:


- Con nhà tướng không được khiếp nhược.


Người con gái liền nhắm mắt thọ hình, không một tiếng rên rỉ. Ðến lượt nữ kiệt.


Chúng trói nữ kiệt để nằm ngửa trên cỏ. Ba hồi trống dứt, một con voi to lớn hung hăng chạy đến, giơ chân toan chà. Nữ kiệt trợn mắt hét một tiếng như sấm nổ. Con voi thất kinh thối lui. Bị nài giục, voi bước tới một lần nữa, nhưng vừa bước tới liền dừng bước ngay, thúc mấy cũng không dám tiến. Lính lấy giáo đâm, voi thét lên một tiếng rồi bỏ chạy.


Nguyễn Phúc Ánh tức mình, sai dùng hình phạt điểm thiên đăng.


Chúng lấy vải nhúng sáp nóng đem quấn khắp mình nữ kiệt, rồi đem cột nữ kiệt nơi trụ sắt dựng giữa trời. Ðoạn châm lửa đốt. Nữ kiệt bình tĩnh, nét mặt không chút thay đổi. Lửa cháy phừng phực từ dưới lên trên, sáng chói thấu mây. Ai nấy đều xúc động.


Riêng Nguyễn Phúc Ánh tỏ vẻ hân hoan!


Lửa cháy hồi lâu. Bốn bề im phăng phắc. Bỗng một tiếng nổ.


Sọ nữ kiệt vỡ. Một lằn thanh quang bay vút lên tầng xanh!


Xử tướng võ xong, xử đến các quan văn.


Phần nhiều đều được tha về cho làm ăn.


Riêng Ngô Thời Nhậm và Phan Huy Ích thì bị giải về Thăng Long và đánh đòn tại Văn Miếu.


Phan Huy Ích còn sống trở về nhà.


Ngô Thời Nhậm bị Ðặng Trần Thường đánh chết.


Ðặng Trần Thường là một danh sĩ Bắc Hà. Lúc Ngô Thời Nhậm được Vua Quang Trung trọng dụng, thì Ðặng Trần Thường đến xin Ngô tiến cử. Trông thấy vẻ khúm núm làm mất phong độ của kẻ sĩ, Ngô thét bảo Thường:


- Ở đây cần dùng người vừa có tài vừa có hạnh giúp Vua cai trị nước. Còn muốn vào lòn ra cúi thì đi nơi khác.


Ðặng Trần Thường hổ thẹn ra về, rồi mang khăn gói vào Nam, phụng sự Nguyễn Phúc Ánh.


Nay đắc thế liền trả thù xưa.


Ðó là đối với bề tôi nhà Tây Sơn. Còn đối với nhà Tây Sơn thì Nguyễn Phúc Ánh chém tất cả dòng họ, từ Vua Bửu Hưng, cho tới một em bé mới sanh mà đã lọt vào ngục thất. Lại truyền đào mả Vua Thái Ðức và Vua Quang Trung, nghiền xương đổ xuống bể. Còn sọ thì đem xiềng nơi ngục thất trong hoàng cung để làm lọ đi tiểu.


Ðể nhổ cỏ cho sạch gốc, Nguyễn Phúc Ánh sức mọi nơi truy tầm những bà con gần xa của họ Nguyễn Tây Sơn, và những tướng tá của Tây Sơn còn trốn tránh nơi sơn dã.


Hai người con Vua Thái Ðức là Văn Ðức, Văn Lương và cháu nội, con Nguyễn Bảo, là Văn Ðẩu, nương náu nơi Mộ Ðiểu, vùng An Khê. Vua tôi nhà Nguyễn biết nhưng sợ người Thượng, không dám đến bắt. Mãi đến năm Minh Mạng thứ 12 (1832) thấy tình thế đã yên, ba chú cháu mới đem nhau về thăm quê cũ ở Kiên Mỹ. Bọn bất lương đi mật báo. Quân nhà Nguyễn đến vây bắt giải về Phú Xuân giết chết.


Các danh tướng giúp nhà Tây Sơn dựng nghiệp, phần lớn đã qua đời, như:


- Nguyễn Văn Tuyết đã cùng vợ con tuẫn nghĩa sau khi thất thủ Bắc Thành.


- Võ Văn Nhậm bị Nguyễn Huệ giết chết.


Ðặng Xuân Bảo hy sinh trong trận Nguyễn Phúc Ánh đánh lấy Thanh Hóa.


- Ngô Văn Sở bị dìm xuống sông vì nạn Bùi Ðắc Tuyên.


- Lê Văn Hưng bị Cảnh Thịnh nghe lời Bùi Ðắc Tuyên giết chết.


- Võ Ðình Tú bị trúng tên chết lúc Nguyễn Phúc Ánh đem đại binh đánh Quy Nhơn.


- Lê Văn Trung bị Cảnh Thịnh giết.


Còn sống ở ngoài tầm nanh vuốt của Gia Long chỉ được ít người: Võ Văn Dũng, Ðặng Văn Long, Ðặng Xuân Phong, Phan Văn Lân, Phạm Công Chánh, Lê Sĩ Hoàng, Nguyễn Văn Huy, Nguyễn Văn Lộc.


Sau khi thoát nạn, Võ trở về Phú Phong, rồi lên An Khê, chiêu mộ được một số người Thượng, chuẩn bị việc phục thù. Lấy hòn Hợi Sơn ở Trinh Tường (Bình Khê) làm căn cứ quân sự. Do đó mà Hợi Sơn còn có tên là hòn Ông Dũng.


Nghe tin Ðặng Văn Long ẩn náu ở Vân Hội (Tuy Viễn) bèn tìm đến bàn đại sự.


Ðặng Văn Long, sau trận Ðống Ða thì đã có ý lui gót. Nhưng vì mấy kẻ bề tôi của Lê Chiêu Thống không nghĩ đến tội cõng rắn của mình, cứ nổi lên chống lại nhà Tây Sơn, nên Ðặng phải nán lại để đánh dẹp. Ðến khi thấy Cảnh Thịnh để cho quần thần lộng hành, mối nước sanh rối, Ðặng bèn từ chức, trở về An Nhơn mở trường dạy võ. Nhưng rồi thấy kẻ học võ lúc này không có chí lớn, ai nấy cũng chỉ nghĩ đến lợi riêng, Ðặng liền đóng cửa trường, lên núi làm rẫy.


Võ Văn Dũng đến, Ðặng mừng được gặp lại cố tri. Nhưng khi nghe Võ bàn đến chuyện phục hưng thì lắc đầu, đáp:


- Tôi ra giúp nhà Tây Sơn đâu phải vì nhà Tây Sơn mà chính vì Tổ quốc. Nếu giặc Thanh không mang quân sang xâm lấn nước ta, thì tôi mãi làm con hạc nội, máu đâu dính đến tay. Còn về nhà Tây Sơn, chính Cảnh Thịnh đã làm mất. Song nếu Vũ Hoàng không bỏ đích lập thứ thì đâu đến nỗi nước này?! Nay đất đã mất mà lòng người cũng mất, hỏi còn mong làm được việc gì nữa? Mà dù có làm được nữa thì làm để làm gì, nếu không phải để tranh chiếm ngôi báu? Tranh cho ai? Cho nhà Tây Sơn hay cho chính mình? Thôi, trên ba mươi năm trời đánh nhau, nhân dân đã điêu đứng rồi, không nên gieo rắc thêm tang tóc.


Võ ra về, Ðặng lên ở luôn trên núi. Trong nơi mây khói, không ai biết Ðặng ở ngọn núi nào trong dãy Nam Sơn.


Ý kiến của Ðặng Văn Long không lay chuyển ý chí của Võ Văn Dũng nổi.


Về Bình Khê, Võ Văn Dũng tiếp tục xây dựng lực lượng chiến đấu. Toàn vùng An Khê và những vùng ở hai bên bờ sông Côn, như Tiên Thuận, Vĩnh Thạnh, Ðồng Phó, Hà Nhung, Trinh Tường, Phú Lạc, Phú Phong, Kiên Mỹ... đều nằm trong phạm vi hoạt động của Võ công. Nhưng được ít lâu, người Thượng Xà Ðàng bị nhà Nguyễn mua chuộc, rục rịch làm phản. Công phải bỏ hết cơ sở, đem ba chú cháu Văn Ðức, Văn Lương, Văn Ðẩu lên ẩn náu tận trên Núi Xanh.


Ca dao địa phương có câu:


Củ lang đồng Phó, đỗ phộng Hà Nhung/ Chàng bòn thiếp mót để chung một gùi/ Chẳng qua duyên nợ sụt sùi/ Chàng giận chàng đá cái gùi chàng đi... Chim kêu dưới suối Từ Bi/ Nghĩa nhân còn bỏ huống chi cái gùi/


Ðó là mượn thể tỷ để nói về việc bất hòa giữa Võ công và người Thượng.


Võ công lên Núi Xanh ở cùng ba chú cháu Văn Ðức cho đến khi ba chú cháu bị sa vào lưới Vua Minh Mạng. Còn trơ trọi một mình, công vẫn sống một cách tự tại ngót mười năm nữa. Công mất dưới triều Thiệu Trị, không rõ năm nào, sống trên chín mươi tuổi. Mãi đến khoảng Ðồng Khánh, Thành Thái (1885-1907), con cháu mới lấy cốt đem về chôn ở Phú Phong.


Cụ Vân Sơn Nguyễn Trọng Trì có bài Vịnh Võ Ðô Ðốc:


Tạo vật khốn hào kiệt Y tương sử hữu vi Công danh vị túc ngôn Hoặc tác xuất thể ty (tư) Võ công dũng quán quân Bách chiến khởi Tây thùy Thiên phương yểu trung nguyên Ðãi phi nhất mộc chi Thoát thân tứ thập niên Thế nhân thức công thùy Ðản kinh sơn thạch gian Hữu thử hùng báo ty (tư) Ngã diệc chí phương ngoại Bạch đầu vị phùng sư Niên niên hạnh thế phóng Thảng toại dữ thế từ Tùng công du Ngũ Nhạc Khể thủ thôn linh chi Kim cốt hoán lục tủy Khiêm nhiên tùng sao phi. Nghĩa là:


Tạo hóa làm khốn đốn kẻ hào kiệt Ý muốn cho họ làm một việc gì.


Công danh không đủ nói, Hoặc giả bày ra cơ hội để họ thoát đời.


 Cái dũng của Võ công thật quán quân, Từ biên giới phía Tây nổi lên, trăm trận trăm thắng Nhưng trời muốn dứt nửa chừng Thì một cây không chống nổi.


Thoát mình khỏi nạn ngót bốn mươi năm Người đời ai biết ông?


Sống lâu ngày trong nơi núi vây đá chất Ông có tư thế mạnh như gấu như hùm Tôi cũng có ý muốn xuất thế, Nhưng đã bạc đầu mà chưa gặp được thầy.


Làm quan may được đuổi về Năm năm rảnh rang Muốn thoát khỏi cuộc đời Theo ông đi dạo chơi khắp năm ngọn núi Tiên Cúi đầu ăn cỏ linh chi, Xương vàng đổi tủy xanh Nhẹ nhàng bay theo sóng tùng.


 


Ngoài Võ Văn Dũng, còn một số lương tướng nữa thoát luật ác nghiệt của Gia Long, như:


    + Ðặng Xuân Phong năm Cảnh Thịnh thứ ba, được thăng chức Thái Phó, ban tước Huyện Công Tuy Viễn. Ðến khi Nguyễn Bảo bị giết, bà họ Trần đem con cháu lên An Khê lánh nạn, thì Ðặng công từ quan lui về Dõng Hòa dưỡng lão. Ðược năm năm, nghe tin Phú Xuân thất thủ, Vua Cảnh Thịnh chạy ra Bắc Thành, Công mở tiệc mời thân bằng cố hữu đến, nói:


- Kẻ hào kiệt ra phò nhà Tây Sơn, phần nhiều đều là bậc trung nghĩa. Nhưng hầu hết đều dày công dày sức trong lúc xây dựng, mà không một ai đủ khả năng chống đỡ trong lúc ngả nghiêng! Nay mai mà Nguyễn Phúc Ánh thu trọn cả Bắc Nam, thì đất bằng nổi sóng, đám cựu thần nhà Tây Sơn, không còn chỗ đặt tay chân. Nếu đợi nước đến trôn, thì không còn nhảy kịp nữa.


Mấy hôm sau, có người đến thăm, thì thấy nhà không vườn trống. Ðặng công đưa gia quyến đi lúc nào và đi về đâu, không một ai hay biết.


 


    + Phan Văn Lân, lo việc biên phòng, nghe tin Cảnh Thịnh đoạt sự nghiệp của Thái Ðức, than dài một tiếng:


- Luân thường đã đứt, sự nghiệp không thể nào vững được lâu! Rồi giao công việc trong quân cho vị phó tướng, về An Thái thăm thầy. Thầy đã mất rồi, phò mã Trương Văn Ða cũng đã mất. Nơi xưa không còn ai là người cũ. Công bèn hỏi thăm phần mộ, ra thắp hương lạy thầy, ra đi... Như đám mây trôi trên ngàn thẳm.


+ Phạm Công Chánh trấn thủ Quảng Nam, Lê Sĩ Hoàng trấn thủ Quảng Nghĩa, nghe tin Bắc Thành thất thủ, liền mở kho phân phát hết quân lương quân trang cho binh sĩ, cho mọi người về quê quán làm ăn, còn mình thì một thương một ngựa ra đi. Phạm Công Chánh về ẩn núi Phương Phi tại Phù Cát, sau ra Cao Bằng. Lê Sĩ Hoàng về Quảng Nam, lên ẩn nơi Ngũ Hành Sơn.


+ Nguyễn Quang Huy, Nguyễn Văn Lộc ở Quy Nhơn, cũng như Phạm Công Chánh, Lê Sĩ Hoàng ở Quảng Nam, Quảng Nghĩa, sau khi được tin Vua Cảnh Thịnh bị bắt, thì giải tán quân đội. Ông Lộc về Kỳ Sơn, dùng Hầm Rùa làm nơi trú ẩn. Ông Huy lên Dương An nương náu, thỉnh thoảng về Phú Yên thăm quê hương, và ra Kỳ Sơn thăm ông Lộc.


Trừ Võ Văn Dũng, Nguyễn Quang Huy cũng như Nguyễn Văn Lộc và hầu hết các tướng còn sống sót, không một ai nuôi chí phục thù.


Một hôm ông Lộc hỏi ông Huy:


- Cựu thần nhà Tây Sơn, văn cũng như võ, còn khá nhiều tay tài tuấn, sao không hợp sức lại để lo việc phục hưng? Như thế chẳng ra là không tận trung với cựu chúa hay sao?


Ông Huy đáp:


- Những anh hùng nghĩa sĩ, ra giúp nhà Tây Sơn từ ngày mới khởi nghĩa cho đến nay, không ai phụ nhà Tây Sơn. Tất cả đều lo tròn bổn phận cho đến giờ chót, như thế là tận trung. Nay nhà Tây Sơn đã không còn nữa thì chúng ta còn trung với ai? Bầy tôi của Vua Lê Chiêu Thống bo bo giữ lòng trung với cố chủ, nổi dậy đánh ở miền Bắc, hết lớp này đến lớp khác, đã chẳng lợi gì cho nhà Lê mà còn làm khổ dân hại nước. Phải nghĩ đến dân đến nước trước. Không có thể làm lợi cho dân cho nước thì nằm yên chớ không nên gây thêm rối. Trung với một người, một nhà mà làm hại cho dân cho nước, thì trung ấy, kẻ chân chính không nên nghĩ đến. Trung ấy không phải là trung.


Nguyễn Phúc Ánh dò biết tung tích của một số cựu tướng nhà Tây Sơn, tìm đủ cách để tận diệt. Nhưng núi non đã hiểm trở lại thêm người địa phương che chở, nên mọi người đều sống yên. Không bắt giết được, Nguyễn Phúc Ánh bèn dụ hàng, nhưng không người nào đáp ứng.


Báo quốc nhất thân đô thị đảm Giao tình thiên tải chỉ luân tâm[100] Nhà Nguyễn đối với nhà Tây Sơn vô cùng khắc nghiệt. Quật mả Vua Thái Ðức, Vua Quang Trung, chém giết dòng họ, tướng tá nhà Tây Sơn đến thế, Nguyễn Phúc Ánh chưa cho là đủ, còn truyền đào mồ mả của cha ông hai nhà anh hùng áo vải và của những người đã theo nhà Tây Sơn và đã chết trước khi non sông đổi chủ.


Quan quân nhà Nguyễn chú ý nhất là những mồ mả ở trong vùng đất Tây Sơn.


Trước hết là mộ ông Nguyễn Phi Phúc.


Truyền rằng mộ nằm trên dãy Hoành Sơn, thôn Trinh Tường.


Tìm khắp nơi, thì thấy sát chân núi phía đông, khoảng giữa, nổi lên một trảng đất lum lum, trong khoảng này dáng núi hơi cong cong. Ðứng phía trước trông vào thì phảng phất giống một chiếc ghế bành vĩ đại, mà lưng và tay tựa vào núi, còn mặt ghế là trảng đất. Trên trảng đất, nằm song song hai tảng đá xanh to lớn, hình chữ nhật. Người ta bảo đó là mộ của vợ chồng Nguyễn Phi Phúc. Bọn đào mồ mừng rỡ, ra sức cạy hai tảng đá lên. Hài cốt không thấy đâu mà chỉ thấy bốn chum dầu phụng đã lưng, trong mỗi chum có một ngọn đèn chong đương cháy[101].


Ai cũng biết bốn chum dầu đó là của nhà Tây Sơn chôn, song mục đích để làm gì, thật không ai biết. Biết rằng không phải mộ ông Phúc, quân nhà Nguyễn tìm khắp nơi, song không thấy dấu tích.


Những mả vôi to lớn ở trong vùng Bình Khê đều bị quật.


Có ba khóm lớn nhất, một ở bờ sông Côn phía Trinh Tường, một ở thôn Phú Lạc, một ở thôn Kiên Mỹ, trên bờ sông Côn. Xương cốt đều ném xuống sông!


Những ngôi mộ này là mộ của các vị đại thần phò Vua Thái Ðức.


Ở thôn Trường Ðịnh cũng có ba ngôi mộ rộng lớn và rất kiên cố của đại thần nhà Tây Sơn. Nhưng khi nghe tin Quy Nhơn bị Phúc Ánh chiếm thì gia đình người khuất liền đục bỏ bia cũ, thay vào tấm bia mới mang tên đàn bà. Nhờ vậy mà khỏi bị quật[102].


Nhà Tây Sơn dẫy cỏ không sạch nên nhà Nguyễn mọc trở lại. Ðể nhà Tây Sơn khỏi mọc lại, Nguyễn Phúc Ánh cho dẫy tận gốc. Nhưng than ôi, đến cả gốc cỏ đã khô gần mục mà cũng bị dẫy! Quả là độc thủ!


Ðể tránh nạn tru di, con cháu những người có liên hệ ít nhiều đến nhà Tây Sơn, phần nhiều đều phải thay tên đổi họ, đi ẩn náu ngoài xứ lạ nơi xa.


Chính sách dẫy cỏ thật sạch gốc của Gia Long làm lụy chẳng những người mà còn đến cả vật, nhất là vùng Tây Sơn.


Sách vở, giấy tờ đều bị tiêu hủy. Ðiển hình là những tập gia phả của họ Võ ở Phú Phong, họ Bùi ở Xuân Hòa, họ Ðặng ở Dõng Hòa, họ Trần ở Trường Ðịnh... Cho đến những bộ sử, những tập thơ văn... sản xuất đời Tây Sơn cũng cấm không được lưu hành, tàng trữ, như bộ Trần Triều Thông Sử Cương Mục của Lê Văn Nhân ở An Nhơn, phụng chiếu soạn năm Quang Trung thứ tư (1791), bộ Lê Triều Thực Lực do Võ Xuân Hoài tổng tu dưới triều Cảnh Thịnh... Những tập thơ Hán có Nôm có của nhóm Tứ Tài Tử ở Tuy Viễn và Song Hoài Thi Xã ở Bồng Sơn, tập thơ ca văn tế bằng chữ Nôm của La Xuân Kiều ở Phù Cát v.v...


Những môn võ thời Tây Sơn thường dùng, một số bị cấm. Thời Tây Sơn võ nghệ rất thịnh. Có bốn môn nổi tiếng là Côn, Quyền, Kiếm, Cổ. Nhưng khi đem áp dụng vào việc binh thì quyền thay thế bằng kỳ.


Côn, quyền, kiếm thời nào cũng có nơi nào cũng có. Chỉ có môn kỳ và cổ e chỉ Bình Ðịnh mới có và chỉ đời Tây Sơn mới dùng.


Kỳ là cờ - lá cờ vuông mỗi bề rộng chừng hai sải dệt bằng thao càn rất dày rất chắc, trừ phía kết vào cán cờ, ba phía kia đều móc sắt thay tua. Lá cờ vừa dùng để chỉ huy vừa dùng để giết giặc.


Phải là người có sức mạnh và có võ giỏi, mới sử dụng được.


Cổ là trống. Trống lớn như trống chầu. Khi tập luyện thì đứng trên hai khối gỗ tròn lớn gấp đôi quả bưởi. Ðôi chân phải điều khiển hai khối tròn đó một cách lanh lẹ. Còn cùi chỏ, bàn tay, vai, đầu đều phải dùng để đánh và đỡ mấy cái trống, theo từng bài luyện võ. Khi thì dùng hai trống, khi thì dùng bốn, khi thì dùng tám, khi thì dùng mười ai, tùy trình độ và sức vóc của võ sĩ. Trống treo ở trước mặt. Biểu diễn một lần từ một đến sáu người. Mỗi người hai trống. Không phải người nào đứng chỗ nấy, mà luôn luôn đổi chỗ lẫn nhau.


Khi ra trận thì dùng hai trống, đặt trên xe đẩy, và dùng dùi trống thay tay. Dùi trống không phải chỉ dùng để đánh trống thúc quân mà còn dùng làm khí giới giết địch.


 


Gia Long cấm kỳ, kiếm, cổ.


Kỳ không bị cấm cũng không ai dùng nổi và cũng không ai học làm gì trong lúc không chiến tranh.


 


    Kiếm chẳng những cấm dạy cấm học, mà trong nhà có kiếm cũng bị tội.


 


    Cấm kiếm lẽ tất nhiên cũng cấm luôn đao.


 


    Cho nên nghề kiếm và đao ở Bình Ðịnh bị mất hẳn.


 


    Còn cổ thì cũng thất truyền. Và môn võ biến thành môn nhạc. Võ thì đánh trống chầu và đánh trống treo. Nhạc thì đánh trống chiến và trống để đứng. Nhưng những bài luyện võ vẫn được đem dùng vào việc đánh nhạc.


 


    Nói tóm lại là tất cả những tinh ba của đất nước sản xuất thời Tây Sơn, đều bị Gia Long tìm đủ cách để tận diệt. Tận diệt để không còn gì làm cho người đời nhớ đến Tây Sơn.


 


    Tên vùng đất phát tích ra nhà Tây Sơn cũng bị đổi ra An Tây.


 


    Diệt tận gốc, nhổ sạch rễ!


 


    Nhưng chỉ bên ngoài thôi.


 


    Lòng người Việt Nam yêu nước, nhất là người Bình Ðịnh, đâu có quên nhà Tây Sơn.


­­­­­______


[100] Thơ của Nguyễn Bá Thuận đề sách Tây Sơn lương tướng ngoại truyện của Nguyễn Trọng Trì. Thơ 8 câu, đây là cặp luận. Câu thơ đại ý nói: Ðền ơn nước, một tấm thân đầy cả mật (can đảm đầy mình). Nghìn năm giao tình với nhau, chỉ lấy tấm lòng mà luận thị phi.


[101] Chắc có lỗ thông hơi trong đá nên đèn không tắt.. Khoảng 1929-1930, Tản Ðà tiên sinh có đến viếng mộ. Lúc ấy hai tảng đá vẫn còn. Cuộc viếng mộ có đăng trên báo. Nay không còn thấy.


[102] Những vôi đá của ba ngôi mộ bị quật vẫn còn sót ít nhiều. Ba ngôi mộ không bị phá vẫn còn, nhưng nắng mưa làm hư nhiều lắm. Một ngôi ở trong vườn họ Từ, một ngôi nằm ở trước ngõ họ Phan, một ngôi nằm ở nơi gò Vườn Xoài, cạnh con đường liên hương từ Kiên Mỹ đi xuống. Không ai dám nhận những ngôi mộ này là của gia đình, vì hình phạt của nhà Nguyễn rất tàn khốc.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Một Năm: Ngoại giao của Trump - Jonathan Freedland 20.11.2017
Cách tự sát của một siêu cường - RICHARD Javad Heydarian 20.11.2017
Thế kỷ đẫm máu - Stephen Kotkin 07.11.2017
Nhà Lê sơ - Lê sơ triều - Tư liệu sưu tầm 06.11.2017
Đông Kinh Nghĩa Thục: Cuộc cách mạng giáo dục đầu tiên ở VN - Nguyễn Hải Hoành 05.11.2017
Mao, Tập và “Cơn bão tháng Giêng” - Tư liệu sưu tầm 05.11.2017
Vai trò của Stalin trong Chiến tranh Triều Tiên - Nguyễn Hải Hoành 05.11.2017
02/10/1966: Báo Liên Xô đưa tin sĩ quan Nga bị tấn công - Tư liệu sưu tầm 05.11.2017
Đặng Tiểu Bình và quyết định của TQ tiến hành chiến tranh với VN - Tư liệu sưu tầm 04.11.2017
Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung năm 1979 - Tư liệu sưu tầm 04.11.2017
xem thêm »