tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20509297
01.02.2013
Vũ Bằng
Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố nhà học giả thứ... thiệt

Viết đến Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố, tôi thú thật không biết nên gọi bằng ông, bằng cụ, bằng tôn huynh hay bằng… chú. Là vì giữa Nguyễn Văn Tố và tôi có một trường hợp hơi ly kỳ. Tiên sinh là thầy dạy Pháp văn tôi lúc tôi mới mười một mười hai tuổi, nhưng đến khi ra ngoài xã hội lấy vợ, thì vợ tôi lại đứng vào hạng cô ông Tố, bởi lẽ ở Bắc Việt cũng như Trung Nam, trước kia và cả bây giờ nữa, có nhiều họ lớn, các cụ ông sanh nhiều con, nhiều người mới tí tuổi đầu nhưng đứng về tôn ti trật tự trong họ mạc thì là cô bác những người đã lớn. Tôi ở vào trường hợp y như thế. Nguyễn Văn Tố theo đúng lễ giáo, phải gọi tôi bằng chú, nhưng vì tôi là học trò của ông nên không bao giờ dám gọi một cách hỗn hào như thế mà chỉ dám dùng một chữ vô hại là “tiên sinh”.


 


Tôi biết Nguyễn Văn Tố từ lúc học lớp tối trường Trí Tri


Là vì dù sao đi nữa tôi không bao giờ dám quên rằng Nguyễn Văn Tố là thầy dạy học tôi trong ba năm trường. Bây giờ tôi còn nhớ lúc tôi vừa đậu bằng Sơ học Pháp Việt, sợ rằng tôi vào trường trung học Albert Sarraut khó, nhất là về phần chữ Pháp, tôi xin theo học lớp tối trường Trí Tri luyện Pháp văn. Tại sao lại học trường đó? Vì hai lẽ: một là vì nhà tôi ở phố Hàng Gai, đi qua Hàng Hòm là đến ngay trường Trí Tri ở đầu phố Hàng Đàn; hai là vì ông thầy độc nhất dạy lớp tôi là Nguyễn Văn Tố, một nhà học rộng đức dày, nổi tiếng là biết tiếng Pháp rất giỏi (có khi còn giỏi hơn cả Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và ông giáo Nguyễn Bảo Nghi…). Tối tối cứ bảy giờ đến mười giờ tôi đến trường Trí Tri theo học. Đó là một lớp học gồm chừng ba bốn chục học sinh đến để theo học ông Nguyễn Văn Tố, thắp đèn tù mù, bàn ghế xô lệch, nhưng phải nói thật ai đến học cũng vui vì Nguyễn Văn Tố tiên sinh dạy về analyse grammaticale(1) rất kỹ mà không một ai thấy nhức đầu, vì lẽ buổi học nào ông nói cũng vui như tết, thêm một lẽ nữa là ông giảng những điều rất khúc mắc khó hiểu mà êm dịu nhẹ nhàng như bạn bè nói chuyện với nhau. Bây giờ, tôi không biết trong số các người theo học ông lớp tối ở trường Trí Tri, đã có bao nhiêu người chết và bao nhiêu người còn sống, nhưng tôi quyết dám quả quyết rằng bao nhiêu người còn sống đó - bây giờ chắc chắn có nhiều người “làm to” - nhắc đến Nguyễn Văn Tố đều phải cảm phục thầy vì chưa ai nghe thấy ông gắt gỏng một lời, có điều gì khó hiểu - dù là không phải trong phạm vi bài dạy của ông - mà đem hỏi, ông cũng vui vẻ trả lời, giải thích đâu ra đấy, kỳ cho đến khi nào người hỏi thực hiểu mới thôi.


 


Cái cười, đặc trưng của Nguyễn Văn Tố


Thú thực, trong ba năm trường theo ông để luyện Pháp văn, tôi chưa hề thấy Nguyễn Văn Tố giận ai, cau có với ai. Cái cười là đặc tính của tiên sinh: buồn cũng cười, vui cũng cười, mà có nhiều khi chẳng lý do gì hết ông cũng cười. Bây giờ nói ra thì có người không biết sẽ bảo tôi là “thằng nịnh”; nhưng muốn bảo sao mặc kệ, tôi nghĩ sao, cứ nói vậy: Nguyễn Văn Tố quả thực có một cái cười duyên dáng hấp dẫn người ta. Cái cười ấy làm cho những người gần ông cảm thấy yêu đời hơn, khỏe khoắn hơn và tin tưởng vào sự thành công hơn. Đặc biệt là hai hàm răng ông rất đều đặn và trắng bóng một cách lạ lùng, khiến cho lúc ông cười, người ta có cảm tưởng là có một ánh sáng lóe lên đuổi những cái gì lờ mờ, u tối đi chỗ khác. Có một vài lúc, vào thời đó, tôi suy nghĩ không biết có phải cái cười đó là cái cười “kinh thế ngạo vật” không, nhưng thú thực có một vài lúc tôi thấy hơi sợ vì cái cười ấy tuy đẹp nhưng “lạnh”, nhất là hai cái môi lại rít lấy bộ răng trắng ngà… theo sự suy xét của các cụ ngày xưa thì tướng ấy là tướng khắc khổ, khó tính diết nghiệt. Tôi không tin, nhưng về sau này nghiệm mãi, tôi thấy cũng có đôi phần đúng.


 


Dễ tính là Nguyễn Văn Tố, nhưng Nguyễn Văn Tố cũng là người khó lung lạc nhất


Đó là thời kỳ lấy vợ, vài lần tôi cùng vợ đến nhà tiên sinh ở phố hàng Bát Sứ lễ Tết hay ăn giỗ. Tôi biết kỹ tiên sinh hơn một chút nữa trong thời kỳ này. Bà Nguyễn Văn Tố là một hiền phụ buôn tách chén bát đĩa rất đảm. Tôi không hiểu tại sao cứ mỗi khi thấy bà, tôi lại nhớ đến mấy câu thơ của Tú Xương nói về bà Tú:


Quanh năm buôn bán ở mom sông,


Nuôi đủ năm con với một chồng.


Ấy là cái mẫu người của bà Nguyễn Văn Tố như thế chớ bà không đến nỗi như bà Tú phải nuôi năm con với một chồng hay trà, hay phiện, hay cả cao lâu, một ông chồng suy đồi chỉ biết ăn chơi và van nợ tràn nước mắt:


Một đàn rách rưới con như bố,


Đôi chữ ê a vợ chán chồng.


Không, Nguyễn Văn Tố không có một tí gì giống Tú Xương. Tiên sinh là một người đạo đức “không chê được”… Cùng thời đó người ta có thể chê Thượng Chi Phạm Quỳnh là nịnh Tây, ngờ Nguyễn Văn Vĩnh là xoay tiền của toàn quyền Varenne và Henri de Monpezat, đả kích Nguyễn Bá Trác là phản bội… nhưng nhất định không có một người nào động đến Nguyễn Văn Tố vì Nguyễn Văn Tố không có một điểm nào để cho người ta ngờ được. Tiên sinh là một học giả mà là học giả thứ thiệt, đem cả một đời hy sinh tận tụy cho văn học, văn hóa, đem hiểu biết của mình ra truyền lại cho con em để chúng làm tiếp công việc của mình, cho hơn mình, ngoài ra không hề mảy may chú tâm đến lợi hay danh bao giờ. Làm việc ở trường Bác Cổ và dạy thêm lớp tối trường Trí Tri, ông chỉ có ý muốn gia thêm một chút ít vào quỹ gia đình, thế thôi; còn danh thì thời ấy tôi nghe thấy nói rằng, vào đúng cái thời kỳ triều đình Huế mời ông Phạm Quỳnh vào làm thượng thư Bộ Giáo dục thì Tây cũng đề nghị với ông Tố một chức vụ khác không kém phần quan trọng, nhưng ông Tố khước từ, bằng cớ đã quen công việc ở trường Viễn Đông Bác Cổ và muốn dành thì giờ nhàn rỗi để viết báo (như Avenir du TonkinLa Volonté Indochinoise) và mỗi tháng tổ chức một buổi diễn thuyết tại hội quán đường Bát Đàn để mở rộng tầm hiểu biết văn minh, văn hóa Thái Tây cho người Việt Nam muốn tìm học tìm hiểu. Nguyễn Văn Tố cương quyết từ chối không nhận một danh vọng gì, mặc dù lúc ấy báo Nam Phong làm cái loa cho tổng đốc Phan Văn Thụ hết sức đề cao nghề làm quan: “Quan ngày nay không phải là “dân chi phụ mẫu” nữa, chính là dân chi công bộc đó. Công bộc! Công bộc! Công bộc là đầy tớ chung của cả nước. Xin ai chớ cho tên đó là đê tiện, chính là cái huy hiệu đẹp nhất ở đời nay”(1).


Không. Quả Nguyễn Văn Tố là một người khó lung lạc thật. Đã đành ông giữ được cái khí phách đó là vì đầu óc, vì học vấn, nhưng một phần người ta cũng phải nhận là tự ông đã tự rèn luyện khắc khổ diết nghiệt với chính bản thân mình từ lúc vào đời, để cho không có cái gì cám dỗ nổi ông. Bây giờ nói đến ông, những người lớn tuổi của Hà Nội hãy còn sống đến bây giờ đều biết mấy đặc điểm sau nầy của ông: suốt đời không đi xe, chỉ đi bộ, nắng hay mưa cũng đội một cái nón dứa đi bộ đi làm; để búi tóc củ hành đến ngoài bốn mươi, làm cho các hiệu hớt tóc hết nghề kiếm ăn; không quần áo tây và mũ “cát cô lô nhần” như ông Nguyễn Văn Vĩnh; không đi xe nhà màu vàng, mặc áo sa tây và quần là ống sớ như ông Phạm Quỳnh… Nguyễn Văn Tố nhà học giả thứ thiệt, tinh thông cả Tây học lẫn Hán văn, cho đến chết, vẫn chỉ có cái áo trắng trát bâu mùa hè, cái áo da mùa rét, đôi giày Đức Mậu ở chân để đi làm ngày hai buổi rồi tối về dạy học, xong về nhà, chẳng biết hội hè đình đám là gì, chẳng biết chơi tổ tôm điếm ở hội AFIMA là gì…


Quả ông Tố là người diết nghiệt với chính bản thân mình: hơn cả một thầy tu, ông không biết một thứ giải trí nào ngoài việc học hành, viết lách. Ngoài thì giờ làm việc, ngoài xã hội, ông trở về căn nhà bán bát đĩa sứ của ông, ăn cơm xong thì trèo một cái thang tre - không làm gì có thang gỗ hay thang gạch như ngày nay - lên một cái gác xép - thư viện riêng của ông - để học hỏi ghi chép soạn bài học và viết lách, không bao giờ biết vợ con buôn bán lời lãi ra thế nào. Riêng về cách ăn uống ở nhà ông cũng lạ hơn người thường. Nên nhớ rằng gia đình Nguyễn Văn Tố vào thời đó tương đối là “dư giả” mà những nhà dư giả nào hồi đó chẳng thế, đều ăn uống tề chỉnh lắm: mâm đồng bóng loáng, tô chén của “ông Thiếu Hà Đông”, đũa ngà, thìa sứ mà bữa cơm tồi nhất cũng phải có một món xào, món rim (hay luộc), món rau và món canh. Riêng tôi thấy ông Nguyễn Văn Tố không chịu theo cung cách đó, dù bà Tố rảnh rang hay bận buôn bán, bao giờ ông cũng chủ trương mỗi bữa ăn một món mà thôi - mà ăn, thì chủ nhà, đầy tớ ngồi chung chớ không kỳ thị chủ ăn trước, tớ ăn sau như hầu hết các gia đình khác, đặc biệt thêm một tầng nữa là một món ăn đó - họa hoằn lắm mới có hai món - không bao giờ xớt ra đĩa như mỗi nhà nhưng cứ để trong xoong trong nồi đặt ở giữa bàn, ai ăn thì cứ việc gắp, còn canh thì cứ để nguyên ở trong xoong với cái xáng, ai cần dùng thì lấy xáng mà chan.


Có một số người cho như thế có tính cách bình dân, giản dị, nhưng đa số lúc bấy giờ lại cho thế là xô bồ, quê kệch, phàm người cẩn trọng trong cách sống không bao giờ làm như thế. Nhưng chớ có ai chờ đợi ông Nguyễn Văn Tố vì những lời bình phẩm đó mà thay đổi lề lối sống hàng ngày. Quả ông là một người bướng bỉnh mà tôi được gặp, ông cho tất cả là phù phiếm, chỉ có văn hóa, văn học và tiến bộ của đất nước mới quan hệ thật sự thôi. Nhân phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục có bao nhiêu nhà Nho cắt bỏ cái búi tóc củ hành đi, sau đó ít lâu, một số thay đổi cách ăn mặc cho gọn gàng, mạnh khỏe: ông Nguyễn Văn Tố suốt một cuộc đời vẫn giữ quốc phục không thay đổi, còn cái búi tóc ông cứ để nguyên vẹn cho mãi tới khi báo Nam Phong ra đời rồi đến Phong Hóa, Ngày Nay bao nhiêu lần chế giễu mà ông chỉ cười, không chịu cắt cái búi tóc đó. Ai ngờ rằng ông Nguyễn Văn Tố cắt búi tóc là do những lời chế giễu của báo Phong Hóa, Ngày Nay là lầm lắm.


 


Nguyễn Văn Tố, một học giả có óc trào phúng sâu cay


Là vì  cái mũi dùi trào phúng của Phong Hóa, Ngày Nay đối với ai chẳng biết, chứ đối với Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố thì không ăn nhằm gì. Chính ông là một nhà trào phúng có hạng. Không bao giờ tôi quên được một sự việc xảy ra ở trường Viễn Đông Bác Cổ. Môt hôm, tôi đến mời hai ông Nguyễn Văn Tố và Trần Văn Giáp đến ăn giỗ ở nhà tôi. Có mặt hôm ấy có ông Tố, ông Giáp, tôi, một người tùy phái trường Bác Cổ và cụ tuần Nghiêm Xuân Quảng. Cụ Tuần đến mượn một cuốn sách để tham khảo vấn đề gì tôi không nhớ, ngồi riêng một bàn. Ông Tố, ông Giáp và tôi ngồi ở cái bàn con kê gần cửa sổ, còn ông tùy phái thì đứng ở cửa trông ra vườn. Cụ tuần Quảng biên lên cuốn sách định mượn cho ông Tố rồi ra chỗ cũ ngồi. Bỗng ông Tố kêu (tiếng nói ông to sang sảng):


- Quan lớn, làm ơn lại đây tôi bảo.


Lúc ấy, ai cũng là “ông”, là “cụ”, là “anh”, hay là “bác” - ở Bắc không có cái lối gọi người ta bằng “chú” trừ phi kháng chiến đuổi Tây rồi, người lớn tuổi mới gọi những người cộng sự ít tuổi bằng chú thôi - chỉ có xưng hô với các quan mới kêu là quan lớn. Cố nhiên cụ tuần Nghiêm Xuân Quảng đương ngồi giật bắn mình lên, tưởng là ông Tố kêu mình bảo điều gì nhưng chưa hết ngạc nhiên thì ông hiểu liền và chết điếng khi nghe thấy ông Tố tiếp:


- Quan lớn giúp tôi việc này nhé. Lên trên lầu, tìm cái giàn sách thứ ba ở bên trái đếm từ tay mặt, cuốn thứ bảy thì lấy đem xuống đây cụ Tuần ngài đọc.


Thì ra ông Tố kêu “quan lớn” là kêu người tùy phái, không phải ông xưng hô như thế một lần, mà nhiều lần như thế không cười có khi trước mặt người Pháp và các ông mặt to tai lớn, nhưng không ai dám buồn ra mặt vì Nguyễn Văn Tố dưới một bề ngoài nhũn nhặn hiền lành “nhà quê” lại là một người “không biết lạnh mặt” bao giờ. Tươi cười, vui vẻ, ông cãi lý với người Pháp “ra gì” lắm, mà tức cười nhất là có khi cãi lý về văn pháp, về luật pháp, về cơ cấu xã hội, về tự do dân chủ, ông lại kể ra đoạn này chương mấy, sách gì, tác giả là ai, trang bao nhiêu, dòng thứ bao nhiêu.


Bởi vì Nguyễn Văn Tố là người có một khối óc thông minh kỳ lạ, nhớ dai không chịu nổi. Mồ ma Nguyễn Triệu Luật nói về những khối óc nhớ dai thường đơn cử cụ Bùi Bằng Đoàn với câu chuyện hồi còn đi học, nhà cụ bị hỏa hoạn mất hết cả biên lai họ(1), hai vị thân sinh ra cụ không còn biết nhà con nào còn sống, nhà con nào đã chết, mà còn sống hay chết đã đóng được bao nhiêu tiền tất cả. Cụ Bùi, vì làm công việc đi thu tiền hụi, nhớ vanh vách từ đầu đến cuối ghi lại một mảnh giấy rồi cứ thế mà đi thu tiền hàng tháng, không suy suyển một người nào.


Đối với Nguyễn Văn Tố, tôi không hiểu trí nhớ của ông có “lẫm liệt” đến thế không, những ai đã biết ông còn nhớ rằng ông nổi tiếng là một người đọc sách nhớ đến cả hàng mấy dòng mấy trang đoạn này hay chương mấy. Cũng nên ghi thêm rằng có nhiều người cùng với tôi thụ giáo ông lại quả quyết rằng ông thuộc trọn cuốn tự vị Larousse và nhớ cả chữ ấy ở trang mấy, dòng thứ mấy. Tôi ngờ đó là huyền thoại, nhưng có một điều tôi biết chắc chắn: ông là một nhà giáo - lúc ấy người ta ít dùng chữ giáo sư - đầu tiên bắt học trò học mẹo (grammaire) thuộc lòng syntaxe, kể luôn cả những câu thí dụ (èxemple). Phần đông lúc bấy giờ cho là kỳ khôi vì học mẹo cần hiểu để mà áp dụng cho đúng phép, hà cớ gì phải học thuộc lòng như con vẹt. Không ngờ dăm năm sau đó, một giáo sư người Coóc (Ô. Ortoli) dạy Pháp văn, lại cũng bắt chúng tôi học mẹo học thuộc lòng y như ông Tố. Vì thế cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu học mẹo và học bất cứ môn gì khác thì học thuộc lòng tốt hay xấu, có ích hay vô ích. Dẫu sao, tôi thấy rằng với những người có óc nhớ dai, như Nguyễn Văn Tố, học thuộc lòng không thể nào có hại.


Các bạn đã bao giờ đọc một bài văn của ông Tố hiệu đính văn học trước 1949 thường đăng trên báo Tri Tân của nhóm Nguyễn Tường Phượng chưa? Câu văn của nhà học giả làm cho người ta điên đầu muốn chết. Đại khái nói về thơ Lê Thánh Tôn, ông căn cứ vào những sách chữ Nho xưa cũ của trường Bác Cổ sửa lại cho đúng, nhưng ông không bao giờ nói vu vơ, mà nói có sách mách có chứng, bao giờ cũng ghi chú chữ này ở cuốn sách nào, chương dòng mấy, câu kia ở cuốn sách nào in năm nào, ở đâu và ở dòng thứ mấy. Nhiều người đọc thấy thế phát sợ và tự hỏi cứ tra cứu như thế thì viết mấy tháng mới xong một bài; sự thật đâu có thế: tất cả những lời ghi chú ấy Nguyễn Văn Tố đều thuộc lòng, viết ra như thể ta ăn cơm gắp miếng thịt, miếng rau cho vào chén cơm, dễ ợt. Ấy thế mà kỳ không chịu được: với một sức nhớ dai như thế nhiều khi việc rất thường xảy ra một hai tiếng đồng hồ trước đó ông quên liền. Chính bà Nguyễn Văn Tố đã phàn nàn với vợ chồng tôi hồi đó là “ông như người mất hồn” nói trước quên sau… Thí dụ có lần bận việc, bà không đi lấy được cái áo dài sửa ở một hiệu thợ may ở một phố mà ông hàng ngày phải đi qua để đi làm, mà có đến cả tuần lễ “ông lú lấp ruột gan” không đến lấy. Lại một lần khác, ông đem tập của học trò về nhà để sửa. Đi qua phố Hàng Gai, ông gặp ông Trần Văn Giáp bèn để đống sách lên cái quầy hàng nói chuyện rồi quên khuấy mất. Vì nhà ấy là nhà ông Giáp đến thăm, chính ông Giáp cũng không biết là ông Tố bỏ quên. Chủ nhà cho là không quan hệ cất đi. Ông Tố đi tìm khắp các nơi ở Bác Cổ, ở trường Trí Tri, ở nhà và chỉ quên có một điều là đã đứng nói chuyện với học giả bạn là Trần Văn Giáp ở nhà Thọ Bình số 73 phố Hàng Gai!


 


Thân em hay của em?


Sau này ở kháng chiến nhớ Nguyễn Văn Tố (lúc ấy làm bộ trưởng), tôi thường nói với anh em không biết bây giờ ông Nguyễn Văn Tố có còn nhớ chương nhớ dòng những câu, những chữ ông kể ra như trước nữa không. Thì tình cờ một buổi chiều mùa đông ở Đa Phúc, có một người bạn đến tìm tôi và báo cho biết là cụ bộ trưởng về công tác và hỏi anh ở vùng này có anh em ký giả, văn sĩ, học giả nào về tản cư không, cụ muốn tìm trò chuyện.


Tưởng là gặp nhau nói chuyện bán đấu giá cái sơ mi của… để lấy tiền giúp vào quỹ “Mùa đông chiến sĩ”, không ngờ câu trước câu sau, Nguyễn Văn Tố đã nói chuyện về văn nghệ, hỏi thăm bọn Tri Tân, Thanh Nghị, Trung Bắc Chủ Nhật… ra sao. Tôi còn nhớ ông Tố có ăn cơm cá rán với tôi rồi đốt củi trò chuyện với nhau đến một hai giờ sáng. Câu chuyện quanh đi quẩn lại trở lại vấn đề văn nghệ. Bây giờ tôi không nhớ duyên do gì chúng tôi lại bắt sang chuyện thơ Hồ Xuân Hương và Tam quốc.


Tam quốc, ông không phục Khổng Minh bằng Chu Du, nhưng đến Hồ Xuân Hương thì tôi thấy Nguyễn Văn Tố hiện nguyên hình là học giả như ngày trước, thấy cái sai thì phải hiệu đính cho kỳ được, không nói được ra thì thắc mắc trong bụng không chịu nổi. Nguyễn Văn Tố nói:


- Về Hồ Xuân Hương, nếu chiến tranh không bùng nổ, tôi còn viết thêm mấy bài chứng tỏ là bài Đánh cờ người không phải là của Hồ Xuân Hương. Còn bài Bánh trôi thì đúng như thế đấy, theo sách… (tôi quên mất tên sách rồi, lời người viết bài này) chương… trang… chữ thân sai bét, phải là chữ của. Về khu I tôi tìm được một tài liệu khác thì đích thị như thế. Thơ Bánh trôi của Hồ Xuân Hương thật nhưng đọc bài Bánh trôi như ông Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến viết trên “Giai nhân di mặc” thì có gì là “chất” Hồ Xuân Hương đâu?


Thân em vừa trắng lại vừa tròn


Bảy nổi ba chìm với nước non


Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn


Mà em vẫn giữ tấm lòng son.


“Đó, thơ đứng đắn từ đầu đến cuối. Mà bao nhiêu thơ của Hồ Xuân Hương có bài nào đứng đắn đâu? Nguyên văn như thế này mới đúng, tôn huynh ạ.


- Ấy chết, bố! Con kém bố hơn một giáp mà bố gọi con là tôn huynh, mấy lúc mà con mặc “ba đờ suy” gỗ đi sang bên kia thế giới?


Nguyễn Văn Tố cười vang, giơ tay bảo tôi im:


- Ấy, ta cứ phải xưng hô như thế cho phải phép. Cái đó không quan hệ. Quan hệ chỉ có một chữ thôi. Tôi đọc bài thơ Bánh trôi của Hồ Xuân Hương cho tiên sinh nghe nhé:


Của em vừa trắng lại vừa tròn


Bảy nổi ba chìm với nước non


Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn


Mà em vẫn giữ tấm lòng son.


Mùa thu năm sau đó, về thành, tôi được tin Nguyễn Văn Tố bị Tây bắt giết. Tôi buồn không biết bao nhiêu vì chắc chắn từ giờ cho đến khi chết, tôi không thể thấy người học giả thứ hai như Nguyễn Văn Tố: thông minh vượt bực, nhân ái không hai, sống giản dị bình dân, không màng danh ham lợi, “người” hơn hết thảy các nhà học giả tôi được biết.


Sài Gòn, tháng 11 năm 1973


Văn Học ra ngày 25-12-1973


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. Tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info







(1) Phân tích ng pháp - (NBT).




(1) Nam Phong s 102 - tháng Giêng, Hai năm 1926, tác gi Phm Qunh.




(1) Trong Nam kêu là hi.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
xem thêm »