tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20804395
Tiểu thuyết
01.02.2013
Hà Văn Thùy
Nguyễn Thị Lộ

Những lúc cô đơn vầy, nàng lại nhớ đến quê nhà, đến làng Hải Hồ huyện Ngư Thiên phủ Tiên Hưng nhỏ bé của nàng bên sông Cái cuồn cuộn phù sa. Từ trên đê nhìn xuống, những bãi cói xanh ngút ngát. Trồng cói là nghề vất vả bán mặt cho đất bán lưng cho trời nhưng may sao nhà nàng có nghề dệt chiếu, cha nàng có nghề bốc thuốc, lại có chữ nghĩa nên chị em nàng ít phải chân lấm tay bùn. Nàng được cha cho học chữ thánh hiền, những tứ Thư, ngũ Kinh rồi thi phú. Lớn lên, nàng xinh đẹp nhất vùng, có tài thơ văn, đối đáp. Do vậy thường được cha cùng các chú các bác trong phường chiếu cho lên kinh thành bán chiếu gon. Nhờ lên kinh thành mà nàng học được nhiều điều hay nết tốt của người kẻ chợ. Chiếu của phường dệt Hải Hồ bền và đẹp nổi tiếng kinh thành, thêm cái duyên bán hàng của nàng khiến chiếu càng thêm đắt nên phường quyết định thuê nhà ở kinh thành làm cửa hàng và nàng ở luôn kinh thành bán chiếu. Nàng thường theo xe đi giao chiếu cho khách. Một lần đi giao hàng, có một văn nhân tuổi trạc tứ tuần dáng hào hoa phong nhã xem vẻ người có học, đi theo nàng một đỗi đường, hỏi mua chiếu rồi ghẹo nàng bằng bài thơ Quốc âm:


   Cô ả từ đâu bán chiếu gon?


   Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn?


   Xuân thu mấy độ bao nhiêu tuổi?


   Đã có chồng chưa? Đã mấy con?


     Bốn câu thơ có vẻ bông đùa nhưng tế nhị, lại tỏ ra mối quan tâm muốn biết đến đầu nguồn lạch sông nên nàng ứng khẩu họa lại bài thơ của người tài tử với vẻ lễ độ, chân thành nhưng cũng pha một chút đáo để:


          Thiếp ở Hải Hồ bán chiếu gon,


          Nỗi chi ông hỏi hết hay còn


           Xuân thu nay mới đôi mươi lẻ


           Chồng còn chưa có, có chi con!


   Không ngờ người ấy lại là Nguyễn Trãi, cháu ngoại quan Tư đồ Trần Nguyên Đán, là con quan Hàn lâm viện học sĩ kiêm Tư nghiệp Quốc tử giám Nguyễn Phi Khanh,  đỗ thái học sinh, từng giữ chức Ngự sử đài chánh chưởng thời nhà Hồ, hiện bị quân Minh giam lỏng ở thành Đông Quan. Cuộc gặp gỡ tình cờ đã thành duyên phận gắn bó nàng với chàng. Nàng cùng chàng trốn vào Thanh theo Thái tổ… Không phải một sớm một chiều, mối tình bền chắc vậy mà bây giờ! Không trách ai được, nàng chỉ tự trách mình và nhẩn nha uống đến giọt cuối cùng chén đắng!


    Nguyễn Trãi ngồi lặng lẽ trên ghế như một bức tượng, chòm râu thưa im phăng phắc, trong đầu bộn bề bao ý nghĩ… Khi để nàng vào cung, ông chỉ có nỗi buồn là xa nàng. Nhưng trong cái thế bất khả kháng ấy, ông cũng thấy lóe lên tia hy vọng: ở trong cung, nàng có thể làm được việc ích nước lợi dân. Chưa bao giờ ông ngờ tới chuyện gian díu giữa nhà vua và nàng. Nhà vua còn quá trẻ, với biết bao cung tần mỹ nữ bên cạnh, làm sao lại có chuyện này khác với người đàn bà lớn hơn tuổi mẹ mình? Trong suy nghĩ của ông, đấy là chuyện vô luân không thể tưởng tượng nổi! Khi ông biết được thì chuyện đã rồi. Cơ sự đã vậy, bất khả vãn hồi! Ông cay đắng nhận ra sự thật phũ phàng! Có người an ủi ông: Cầm lòng vậy, cùng lắm Thị Lộ cũng chỉ là vợ lẽ. Vợ lẽ, nàng hầu có đáng gì! Vợ lẽ nàng hầu rẻ rúng đấy nhưng là sở hữu, là danh dự của đấng nam nhi! Không chỉ vậy, nàng với ông là vô giá, ông quý hơn tất cả. Chính vì vậy, dù suy nghĩ cách nào thì với ông vẫn là nỗi đau là nỗi nhức nhối. Là cục xương mắc giữa cổ, nhả không ra, nuốt không vào! Không thể nói cách nào khác, nàng đã phản bội ông! Chính nàng đã vấy vết nhơ, vấy nỗi điếm nhục lên mặt ông! Chính nàng đã đánh một đòn chí tử vào lòng tự hào vào sĩ diện của ông… Vào triều, những kẻ đầy tớ thấp hèn như Lương Đăng, Đinh Phúc, Đinh Thắng bề ngoài ra vẻ khúm núm thưa gửi nhưng rồi nhìn ông với cái nhìn giễu cợt. Bạn đồng liêu nhiều người không tán thành. Ai có tội trong chuyện này? Nàng! Chính là nàng! Nàng có thể từ quan trở về cuộc sống đạm bạc. Vì sao nàng đã không làm cái việc lẽ ra phải làm ấy? Phải chăng sống trong cung, cái bả phú quý làm nàng mờ mắt? Phú quý cũng dễ lung lạc người ta! Nhưng với nàng không chỉ phú quý mà còn quyền lực. Được vua sủng ái, có kẻ hầu người hạ, có quyền sai phái cắt đặt, giáng chức người này, thăng chức người kia cũng là nỗi ham hố của con người, nhất là với đàn bà! Vẫn chưa hết, với nàng còn là ái tình ông nghĩ và đấy chính là điều ông sợ nhất, cố lờ đi nhưng cuối cùng, nó cứ lồ lộ hiện ra khiến ông đành cay đắng chấp nhận. Ở tuổi ngoài bốn mươi nàng là người đàn bà hồi xuân tràn đầy sức sống. Tình yêu của vì đế vương trẻ tuổi như mồi lửa bén vào đống rơm khô. Cái mà ông già như ta không còn thì nhà vua dồi dào sung mãn. Dân gian chẳng nói Nạ dòng vớ được trai tơ, đêm nằm tơ tưởng như mơ được vàng… đó sao? Không từ quan trở về với ta là nàng đã đi theo tiếng gọi đó, đi theo sự lựa chọn của con tim nàng. Đã là lựa chọn của nàng, ta còn biết làm sao đây? Sẽ trừng trị đánh đập nàng như một kẻ vũ phu ư? Không thể! Không chỉ vì tình địch của ông là đức vua mà còn vì danh dự của ông, danh dự của nàng và vì tình yêu của ông với nàng sâu nặng lắm! Ong cũng không thể giương ngọn cờ khởi loạn chống lại nhà vua vô đạo!  Trong mắt ông, nhà vua là bậc minh quân. Sau khi tách khỏi đám quyền thần Lê Sát, Lê Ngân, nhà vua quyết đoán nhiều việc sáng suốt. Trong dân gian từng có câu hát ca ngợi công đức của người: Đời vua Thái tổ Thái tông, lúa má đầy đồng trâu chẳng buồn ăn! Một ông vua như thế không phải là hôn quân vô đạo. Và cũng chính bởi nhà vua anh minh nên nàng mới yêu! Phải nói là trong cơn khủng hoảng ban đầu, ông thực sự bối rối, không tìm ra cách giải thoát nên chỉ để mặc nỗi đau nỗi buồn vò xé tâm can. Ông âm thầm sống nơi đây, không về triều, không liên hệ với nàng. Rồi với năm tháng, nỗi đau có nguôi ngoai đi. Ong nhận ra trong cách ứng xử của nàng có điều gì đó hợp lý. Cái lý thật đa đoan của cuộc đời. Mỗi con người là một tiểu vũ trụ. Cái tiểu vũ trụ của nàng cũng thiêng liêng như vũ trụ của ông. Vậy vì lẽ gì, nàng lại thành một vật sở hữu của ông? Ong có năm thê bảy thiếp, có Cẩm Vân kề bên sao lại bắt nàng phải chung thủy? Mà nào ông có thể đem lại cho nàng niềm vui? Một con người tài trí như nàng có thể bình lặng trong cái ao nhỏ của riêng ông nhưng khi ra biển, nàng là rồng là giao long vùng vẫy! Nàng là gió. Làm sao có thể nhốt gió? Nghĩ lại, ông thấy, trong tình yêu ông dành cho nàng có lẫn cả tình cha con. Trong yêu chiều có việc dạy bảo… Trong những đêm xa cách, ông dần dần thông cảm và tha thứ cho nàng. Trong hoàn cảnh éo le bất khả kháng của mình, ông tìm ra cách ứng xử riêng. Giữ mối tình cảm tốt đẹp với nàng, ông bày vẽ cho nàng giúp nhà vua làm những việc hữu ích. Và với vốn thông minh cùng trái tim nhân hậu sẵn có, nàng đã làm được nhiều việc mà thú thật ông hay bất kỳ người nào khác không làm nổi. Và cũng phải nhận rằng, nhờ có nàng vào cung mà trong mắt nhà vua, vai trò của ông được nâng lên. Nhà vua hiểu ông hơn, tin ông hơn nên giao cho làm những việc có thực chất. Phải nhận là, từ sau ngày chiến thắng, những năm tháng này ông được sủng ái nhất! Tuy nghĩ vậy nhưng Nguyễn Trãi vẫn thấy có điều gì đó không ổn dày vò ông. Trước đây nàng ở xa ông, mọi suy nghĩ của ông đều rõ ràng. Nay nàng trở lại cùng ông trong một mái nhà, có một điều buộc ông phải quyết định. Từ lâu ông lờ mờ nhận ra trong ông tình chồng vợ với nàng đã phai nhạt. Nay dưới cùng mái nhà với nàng là một thử thách: có thể nào sau những chuyện như vậy, ông lại gần gũi với nàng về thân xác? Ong thấy không thể! Nếu chung đụng với nàng, ông sẽ phạm tội với chính mình, với những điều thầm kín trong lòng. Ong nghĩ, tốt hơn cả là coi nàng như người bạn để giữ lại những điều tốt đẹp của ngày qua... Nhớ đến công việc còn phải làm, Nguyễn Trãi dập tắt những dòng ý nghĩ miên man, cầm lấy bút viết tiếp bản tấu. Nhưng chỉ được mấy dòng, ông buông bút ngồi thừ người ra... Lát sau ông đứng dậy ra khỏi thư phòng. Như người mộng du, bàn chân đưa ông qua khoảng sân hẹp. Ông e dè rón rén đạp lên ánh trăng suông vằng vặc rồi lẻn vào dưới mái hiên. Qua song triện cửa sổ, ánh trăng vẽ lên rõ mồn một thân hình nàng ngồn ngộn với bắp chân trần ghếch lên khêu gợi… Nàng là của ta, ông nghĩ, ta là sở hữu chủ, ta có toàn quyền. Trong óc ông hiện về niềm khoái lạc mê ly nàng từng đem lại. Lúc này nó dậy lên trong ông sự khát thèm. Nàng cũng đang chờ ta trong khát khao dâng hiến… Chỉ cần đẩy nhẹ cánh cửa, một thế giới kỳ diệu hiện ra… Chợt tiếng kêu thét lên khiến ông giật mình nấp vào sau cửa sổ. Ong nhận ra tiếng ré gào đực của con mèo trên mái nhà rồi tiếp đó là tiếng chân thú rượt đuổi nhau. Thảng thốt, nàng giật mình bật dậy nhìn quanh ngơ ngác. Rồi nhận ra không có gì nguy hiểm, nàng nằm xuống buông tiếng thở dài. Mọi xúc cảm nơi ông tắt lặng, Nguyễn cúi đầu thất thểu trở lại thư phòng.


 


                                     *


                                  *     *


 


   Sáng ra, giấc ngủ muộn màng của Thị Lộ bị tiếng hót líu lo của đàn sáo đá trên cây mít chái nhà đánh thức. Bị thức giấc bất thần nàng nhăn mày bực bội với lũ chim trời nhưng rồi nàng bỗng nhớ, lũ sáo là chiếc đồng hồ quen thuộc của nàng. Biết bao nhiêu buổi sáng hạnh phúc nàng thức giấc trong tiếng đàn sáo ríu ran rộn rã. Chúng như bầy trẻ thơ vô tư đem lại cho nàng niềm vui sống. Nàng cũng vô tư thơ trẻ như đàn sáo trong sự yêu chiều của chàng, trong cuộc sống yên bình ung dung tự tại. Chàng gọi đó là địa sáo, tiếng của đất sinh sôi. Có lẽ hôm nay tiếng bầy sáo vẫn vô tư thơ trẻ như xưa nhưng tâm sự nàng thì khác. Dù quá mệt sau một đêm mất ngủ, nàng vẫn phải dậy để hòa vào không khí gia đình. Khi nàng ra sân, đã thấy Nguyễn đang tập bài quyền quen thuộc của người. Nàng nhớ là bài quyền dưỡng sinh này nhà sư chùa Huy Văn dạy chàng trước khi theo vào Thanh với Đức Thái tổ. Từ đó không khi nào người bỏ tập, lấy nó làm phương tiện bồi bổ sức khỏe.


     Thị Lộ đến gần chồng khi ông tập xong bài quyền. Nàng hỏi:


   - Đêm qua lão gia ngủ ngon không?


   - Ta thức khuya nên sáng dậy có hơi mệt. Còn nàng lạ nhà có ngủ được không?


   - Thiếp hơi mệt nên cũng khó ngủ!


     Sau đó nàng theo ông thăm cây cảnh trong vườn. Vườn cây coi vẻ kém sắc vì mưa nhiều, những bụi cúc đại đóa được chăm chút đặc biệt dành cho dịp Trùng Cửu có vài cành bị sâu cắn gẫy gục trong đêm. Nhìn vết sâu, nhớ lại những ngày nhỏ trồng rau trồng đậu ở làng Tân Lễ, nàng nói :


    - Chắc là sâu xám. Đêm lên cắn phá rồi ban ngày nó chui xuống đất. Nói rồi nàng lấy cái bay đào nhẹ vào đất ẩm sát gốc cây. Vài nhát bay, nàng gẩy lên con sâu lớn. Lom khom đứng bên nàng, Nguyễn Trãi lặng lẽ ngắm bàn tay nàng quen thuộc. Ong nén tiếng thở dài.


    Nàng Cẩm Vân đến gần hai người nói nhỏ:


     - Mời ông cùng phu nhân vào xơi cơm.


    Ra cầu ao rửa tay chân, hai người trở lại nhà trên. Trên sập gụ trải chiếu hoa là chiếc mâm thau trên đó có dĩa dưa cải vàng ruộm và dĩa tôm cờ kho nỏ nồi, bát nhỏ nước mắm trên có mấy khoanh ớt đỏ, hai cái bát hai đôi đũa. Một niêu đất nhỏ đặt trên cái đôn sứ. Thị Lộ ngồi ghé vào chiếu, mở vung niêu cơm. Mùi cơm gạo tám xoan bay ra thơm nức. Dùng đôi đũa cả nhỏ đánh cơm rồi xới ra một bát, nàng đưa bát cơm cho chồng:


          - Mời lão gia!


   Nguyễn Trãi nhìn nàng:


     - Phu nhân ăn luôn thể.


     - Lão gia xơi trước, chốc nữa thiếp ăn cùng Cẩm Vân. Tuy đi xa nhưng nàng vẫn nhớ nếp nhà, bao giờ Nguyễn Trãi cũng ăn trước sau đó mới đến mọi người. Được ngồi hầu hạ chồng cũng là hạnh phúc của nàng. Hết bát cơm thứ hai, Nguyễn Trãi buông bát. Thị Lộ lấy quả chuối tiêu trên bàn, bẻ đôi bóc vỏ đưa cho chồng. Nhận quả chuối, ăn chậm rãi ngon lành rồi ông đứng dậy, bước ra thềm nơi cái giá để sẵn thau nước cùng khăn, súc miệng rửa tay lau mặt. Trong khi lão Mộc mang mâm cơm xuống nhà dưới thì Thị Lộ pha chè đặt trên bàn nước ở gian giữa, nàng ân cần mời chồng uống nước. Sau tuần nước, phu cáng túc trực trước sân rước ông vào Dinh trấn. Thị Lộ, Cẩm Vân cùng người nhà tiễn ông ra ngõ. Chào mọi người, Nguyễn Trãi lên cáng.


    Nàng nhìn trân trối theo chiếc cáng. Hồn vía nàng cũng như từ bỏ nàng phiêu diêu theo chiếc cáng đi như bay trên con đường vắng rồi mất hút sau hàng cây xanh mờ. Sa xẩm mặt mày, nàng loạng choạng bước vào chiếc sân rộng mênh mông. Nàng thấy trống vắng đến sững sờ. Suốt đêm qua nàng khắc khoải trong thắc thỏm chờ đợi. Nhắm mắt lại, nàng nghe mơ hồ một bước chân, một tiếng kẹt cửa… Một làn gió thoảng, một chiếc lá rụng cũng làm nàng hồi hộp lắng nghe, bồn chồn. Tim đập mạnh, người nàng căng cứng, mồ hôi rịn ra ở chân tóc trước trán. Hy vọng đấy rồi lại thất vọng ngay đấy khi mọi việc trở về im lặng, cái lặng im đau đớn khắc nghiệt. Gần sáng, nàng giật mình chợt tỉnh thức sau giấc ngủ ngắn thiếp đi vì mệt mỏi. “Vậy là chàng không vào! Nàng nghĩ, đúng là chàng bận nhưng cái chính là tình yêu của chàng đã chết. Chàng đã biết mọi chuyện của mình trong cung. Vẫn tỏ ra thương yêu chăm sóc mình nhưng chàng đã đắp bức thành ngăn cách với mình. Vậy là ta đã mất chàng thật rồi!” Thật lòng nàng mong chàng tới không phải vì ham hố xác thịt mà là mong cái dấu hiệu cái biểu hiện của tình chồng vợ. Nếu đến với nàng, tức là chàng tha thứ cho nàng. Không đến có nghĩa là chàng không tha thứ! Nhận ra điều phũ phàng ấy, nàng thấy người mình bỗng chống chếnh như con thuyền không lái giữa biển khơi đầy bão tố. Nàng thấy mình như cái cây bị bật khỏi gốc, không còn nơi bám víu. Nàng trở thành kẻ trắng tay, mất chồng, không con, sống trong một gia đình hờ… Một thảm kịch, nàng nghĩ. Thảm kịch do chính ta, chính con dâm phụ này gây nên. Chàng không có lỗi. Lỗi cũng không ở Nguyên Long. Con người Nguyên Long là vậy, không ai trách được chàng. Chính ta phải tự trách mình. Nếu ta trung trinh chính chuyên, ta có thể từ chối, trở về tổ ấm của mình. Việc đó không ai cấm. Chính là tại ta. Ta không kiên tâm không tự chủ để rồi mê muội vì tình yêu của Nguyên Long. Ta thành kẻ phản bội, thành dâm phụ. Hình phạt này chính ta phải gánh lấy. Buồn bã thất vọng, nàng trở về phòng, nằm vật ra giường. Nàng nấc lên như con trẻ. Nước mắt ướt đầm gối lụa… Nhưng chỉ giây sau nàng giật mình vùng dậy. Không, ta không thể, không có quyền buông thả. Nàng biết rằng trong ngôi nhà không còn là của mình này, có những đôi mắt đang nhìn nàng dò xét. Nàng không thể để người ngoài thấy nỗi đau nỗi thất vọng của mình. Nàng hiểu rằng Cẩm Vân đã biết tình cảnh của nàng đêm qua. Đêm qua cô ta đã tế nhị nhường chàng cho ta. Nhưng ngay cả điều đó ta cũng không được hưởng! Sáng ra nàng lén tìm trên mặt Cẩm Vân những biểu hiện của sự mỉa mai giễu cợt nhưng không hề thấy. Ta đã mất tất cả, chỉ còn lại cái vỏ kiêu hãnh. Phải, cái vỏ kiêu hãnh! Không thể để người khác thấy thất bại của ta, lấy đi chỗ bám víu cuối cùng của ta! Ta phải ngửng đầu. Lau nước mắt, nàng mạnh dạn đứng dậy, bước lại bàn trang điểm, thoa chút son lên gò má nhợt nhạt. Bước chân đến cửa, ngoái lại nhìn, nàng thấy tiếc thấy thèm được như ngày xưa, những lúc buồn được một mình trong chiếc giường riêng tư nhấm nháp nỗi đau cùng nước mắt. Thảm hại thay với nàng, điều riêng tư nhỏ nhoi ấy bây giờ cũng không còn nữa!


    Nàng bước ra sân. Chan hòa nắng. Sau những ngày mưa âm u, nắng bừng lên trong suốt vàng ong. Trời xanh ngát, những đám mây mỏng nhởn nhơ bay. Và gió thổi hiu hiu. Trong nắng sớm, giữa sự khoáng đạt vô tư của thiên nhiên, nàng cảm thấy hồn mình vơi nhẹ. Vừa lúc đó Cẩm Vân từ phía sau bước tới. Nàng nói:


      - Cẩm Vân đấy à, chị đang muốn tìm em.


      - Phu nhân có gì dạy bảo ạ? Giọng Cẩm Vân lễ phép.


      - Em đừng nói thế, chị chỉ mốn gặp em nói chuyện thôi, chả là hôm qua cập rập quá…


      - Em cảm ơn chị đã đem quà về cho em. Hoàng thượng người có khỏe không, thưa chị?


     - Hoàng thượng khỏe và vui. Người vẫn nhớ đến em. Bữa chị về, trao quà của em cho chị, người nói: chỗ này nàng thay ta tặng nàng Cẩm Vân. Cho ta hỏi thăm nàng và nhắc nàng ráng chăm sóc quan Thừa chỉ.


      - Cảm ơn hoàng thượng đã nhớ đến em. Em sẽ hết lòng hầu hạ lão gia.


Hai chị em dắt tay nhau bước theo con đường lát gạch trong vườn cây râm mát bóng nhãn vải cùng những cây bưởi trĩu quả màu lá mạ tròn căng vít cong đầu cành. Từ góc vườn hương ngọc lan tỏa thơm thoang thoảng.


      - Ta cảm ơn em. Về  nhà, thấy ông khỏe mạnh, nhà cửa gọn gàng, chị rất vui. Em biết không, đấy vốn là công việc của chị nhưng chị không làm được lại đẩy sang vai em. Nhưng chị hỏi thật, em sống có vui không?


       - Thưa chị, vui lắm ạ. Lão gia tuy nghiêm nhưng rất hiền và tốt bụng. Biết chiều ý người nên em cũng được người thương. Từ khi em có thai, người càng quý em hơn. Nói tới đây, nàng đỏ mặt, cúi xuống. Ngẩng lên, nàng hỏi: Trong cung hồi này vui lắm hả chị, em nghe lão gia nói.


       - Ông nói sao?


       - Nói, phu nhân vào cung, đem chữ thánh hiền rồi đem ca, vũ dạy cho cung nữ nên trong cung rất vui. Các cung nữ được học chữ, rồi ai có năng khiếu gì được theo ngành ấy học thành tài. Lão gia khen phu nhân lắm.


       - Người khen như thế nào?


       - Người khen phu nhân sáng dạ, biết lo cho dân cho nước… Bỗng nhiên giọng Cẩm Vân trở nên sôi nổi, lão gia quý phu nhân lắm! Mỗi khi cùng em ra vườn chăm cây, người thường chỉ vào từng cây, nói, cây này cây kia do phu nhân trồng, rồi cách phu nhân chăm cây như thế nào…


       - Lão gia có vui không?


Im lặng lúc lâu như suy nghĩ, Cẩm Vân nói thật lòng:


       - Em cảm thấy người có nhiều tâm sự. Có những lúc người ngồi một mình, như suy nghĩ gì đó, đăm chiêu lắm.


       -  Có nhiều người đến chơi với lão gia không?


       - Không nhiều lắm. Thỉnh thoảng sư cụ chùa Côn Sơn đến thăm. Đôi khi mấy ông quan trong dinh đến nhà. Lâu lắm mới có vị quan trong triều tới…


       - Lão gia có hay làm thơ không?


       - Em thấy người đọc rồi viết nhiều, cũng có khi hứng lên, người ngâm ngợi một mình.


        - Vậy có khi nào người đọc thơ cho em nghe không?


        - Không, không có đâu, chưa bao giờ người đọc thơ cho em nghe cả!


        - Người còn hay đi dạo trong rừng thông không?


        - Có, nhiều buổi chiều người một mình chống gậy lên rừng thông, qua suối, có khi trăng lên mới về. Những ngày ấy em lo đến thắt ruột, chỉ sợ có chuyện gì xảy ra…


     Nắm tay Cẩm Vân, nàng lặng im, nghe lòng mình tê tái. Chàng thật cô đơn. Chàng sinh ra để cô đơn. Trước đây có mình là bầu bạn. Không có mình, chàng bầu bạn với ai? Thương chàng muốn thắt ruột.


    Buổi chiều, nàng lên chùa dâng hương trên bàn thờ Phật rồi xuống nhà tổ thắp hương trước linh vị Tam tổ Trúc Lâm và ông bà ngoại Trần Nguyên Đán. Rời chùa, nàng bước theo bờ suối. Sau những ngày mưa, nước ào ạt chảy, reo vui. Lội qua suối mát lạnh, đứng sững giây lâu trước hòn đá bàn lớn, nàng nhớ lại những ngày xưa yên ả. Sau khi tắm suối, Nguyễn Trãi lên nằm khểnh trên đá bàn, dưới bóng thông mát rượi nghêu ngao ngâm thơ.


    Theo lối mòn, dưới rừng thông, nàng tới viếng mộ của cha chồng. Ngôi mộ xây bằng đá núi. Những cây thông cổ thụ cao vút xòe cành lá như những ô những lọng che mát rượi. Gió miên man rì rào bài ca của vô cùng. Nàng thắp lên một bó hương. Hương trầm tỏa lan hòa với mùi hăng hắc của rừng thông. Làn khói xanh bay là là trên ngọn cỏ lưa thưa. Nằm dưới đất sâu là người cha chồng mà nàng chưa bao giờ gặp mặt. Một con người tài trí mà bất hạnh. Những năm dài bị chìm lấp dưới triều nhà Trần. Khi nhà Hồ lên, mở mặt với đời chỉ được mấy năm lại lâm vòng tù tội lưu đày, bỏ thân ở xứ người. Nhìn ngôi mộ đơn côi lưa thưa cỏ phủ lá thông nâu trong rừng vắng mang vẻ thê lương, nàng bỗng chạnh lòng buồn. Buồn cho người thiên cổ, lại càng buồn cho mình. Rời ngôi mộ, theo lối mòn lên cao, tới nơi có bàn cờ tiên, nàng quay lại ngắm nhìn toàn cảnh núi Kỳ Lân quen thuộc. Không biết bao lần nàng đã cùng Nguyễn Trãi lên đây. Mỗi gốc cây ngọn cỏ, mỗi hòn đá đều gợi nhớ đến người. Không hiểu sao hôm nay nàng cảm thấy cảnh cũ bỗng trở thành xa lạ. Như có cái gì đó ngăn cách với nàng, rời bỏ nàng, không thuộc về nàng…


   Trời đã chiều, nàng xuống núi trở về nhà. Sau khi tắm rửa thay quần áo, nàng ra sân đi vơ vẩn như ngắm cảnh, ruột nóng như đốt, nàng dõi nhìn con đường dài hun hút trong chiều muộn… Một người lính cưỡi ngựa dừng trước ngõ. Xuống ngựa, chạy vội vào, anh ta nói với  nàng:


    - Bẩm phu nhân, quan lớn sai con về báo với phu nhân rằng đêm nay quan lớn còn ở lại nghênh giá nên không về được!


    Đứng lặng như trời trồng giữa sân, nàng nhìn theo bóng người lính ra khỏi cổng. Vậy là đêm nay vắng chàng. Chàng không về. Thất vọng, nàng lặng lẽ bước vào căn nhà đang chìm trong hoàng hôn. Đêm ấy, sau khi chuyện trò với Cẩm Vân, nàng vào thư phòng của chồng. Đốt đèn lên, nàng tìm trong giá sách, chọn ra hai tập sách quen thuộc là bản thảo thơ Quốc âm thi tậpỨc Trai thi tập. Om hai tập bản thảo vào lòng, nàng thầm nói: “Đây chính là chàng, là tâm hồn là trí tuệ chàng. Thử xem những ngày xa ta chàng sống ra sao?” Mở tập thơ chữ Hán ra, lướt qua những bài quen thuộc cũ, nàng đọc bài mới:


                  HỨNG CHIỀU


   Nhà quạnh xóm cùng khổ vắng teo,


    Khăn thâm gậy trúc dạo quanh chiều.


    Bãi thôn bóng xế cây đeo ráng,


    Đường nội người thưa nước ngập kiều.


    Kim cổ không cùng, sông bát ngát,


    Anh hùng mang hận, lá veo veo.


    Trở về một chắc lan can tựa.


    Lạnh lẽo gương thiềm khoảng biếc treo.


 


    Nhắm mắt lại, nàng thấy như hiện ra trước mắt, một buổi chiều thu muộn, ráng in trên hàng cây bên đường vắng, trong xóm núi tiêu sơ hiu quạnh, chàng phong phanh áo mỏng khăn đen chống gậy trúc một mình dạo bước, ngắm dòng sông bát ngát, nghĩ tới sự vô cùng của trời đất, càng thêm sâu mối hận của người anh hùng. Trở về nhà, người đơn côi một thân một mình tựa lan can ngắm mảnh trăng lạnh treo chênh chếch trên vòm trời biếc. Cái tiêu sơ vắng vẻ của xóm núi này nàng quá hiểu. Nàng cũng hiểu nỗi cô đơn một mình một bóng của chàng. Nhưng càng ghê gớm hơn là nỗi cô đơn nỗi đau trong lòng người anh hùng ôm hận. “Chính mình làm đau thêm nỗi đau của chàng.” Nàng nghĩ.


     


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Thị Lộ. Tiểu thuyết lịch sử của Hà Văn Thùy. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
xem thêm »