tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18404338
03.12.2008
Nhiều tác giả
Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp (2)

HỌ TỘC


Trương Đăng Quế tự là Duyên Phương(1), tên hiệu là Đoan Trai, biệt hiệu là Quảng Khê, người làng Mỹ Khê, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Cuối thế kỷ XIX, huyện Bình Sơn tách làm hai huyện, làng Mỹ Khê thuộc huyện Sơn Tịnh, nay thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.


Tiên tổ Trương Đăng Quế vốn người huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Năm 1624, Trương Đăng Nhất(2) theo chúa Nguyễn vào cư trú tại Quảng Ngãi. Chúa Nguyễn vào Nam từ 1558, đến 1624 là 66 năm, thì phía Nam sông Gianh đã được xem thuộc các Chúa Nguyễn. Từ năm 1570, vua Lê chúa Trịnh đã cử Nguyễn Hoàng thay Nguyễn Bá Quýnh kiêm lãnh trấn thủ Quảng Nam, đến năm 1611, Nguyễn Hoàng mở rộng xứ Đàng Trong, lập thêm phủ Phú Yên gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa. Vả lại, từ năm 1613, sau khi Nguyễn Hoàng mất, người con là Nguyễn Phúc Nguyên lên kế nghiệp, tức chúa Sãi, thì phía Nam sông Gianh đã được xem như một vương quốc độc lập.


Trương Đăng Nhất sinh Trương Đăng Trường (hoặc Trưởng).


Trương Đăng Trường sinh Trương Đăng Hưng.


Trương Đăng Hưng sinh Trương Đăng Huỳnh.


Trương Đăng Huỳnh sinh Trương Đăng Giác.


Trương Đăng Giác sinh Trương Đăng Lượng.


Trương Đăng Lượng sinh Trương Đăng Phác.


Trương Đăng Phác sinh Trương Đăng Quế.


Từ thủy tổ Trương Đăng Nhất đến Trương Đăng Quế là 7 đời.


Nhưng về sau, kể từ thế hệ con Trương Đăng Quế, vì kỵ tên húy vua Kiến Phúc triều Nguyễn tên là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, lên ngôi năm 1883, nên họ Trương Đăng đổi thành Trương Quang như Trương Quang Trụ, Trương Quang Đản.


Trương Đăng Quế sinh năm 1793, đúng 169 năm, tính từ khi ông thủy tổ Trương Đăng Nhất vào cư trú tại Quảng Ngãi. Một dòng họ cư trú liên tục từ ba đời trở đi tại một địa phương nào thì là người gốc tại địa phương đó(1).


Đến Trương Đăng Quế thì dòng họ ông đã cư trú liên tục tại vùng đất Quảng Ngãi đã 6 đời, 169 năm. Đó là một cư dân Quảng Ngãi thuần thành, không còn chút gì của cư dân Hà Tĩnh. Vả lại, phần lớn dòng họ người Quảng Ngãi nào mà chẳng có nguồn gốc xa xưa từ Thanh, Nghệ, Tĩnh đã kinh qua nhiều thế hệ lai Chăm từ dòng máu, văn hóa, đến cách ăn ở sinh hoạt, giọng nói, từ vựng...


Họ Trương Đăng Quảng Ngãi nhiều đời làm quan cho các chúa Nguyễn, từ Nguyễn Phúc Nguyên, trải qua các chúa Nguyễn Phúc Tần, Nguyễn Phúc Chu, Nguyễn Phúc Khoát, Nguyễn Phúc Thuần, nhưng chỉ là những chức quan địa phương. Thời chúa Nguyễn, vùng đất phía Nam sông Gianh mới bắt đầu được khai phá, đất đai hoang hóa còn nhiều, dòng họ nào khai thác giỏi đều được phong quan chức để làm hiệu lệnh cho vùng đất đó. Họ Trương Đăng- Quảng Ngãi có lẽ là một dòng họ có thanh thế vào thời kỳ đầu khai phá và xây dựng vùng đất Quảng Ngãi.


Đến khi nhà Tây Sơn dấy lên thì họ Trương Đăng Quảng Ngãi mới thực sự đóng vai trò lãnh đạo quan trọng. Thời Tây Sơn, bản thân Trương Đăng Phác (cha Trương Đăng Quế) làm chức Tri phủ phủ Quảng Ngãi (khi đó Quảng Ngãi mới là phủ, chưa là tỉnh nên không thể gọi là chức Tuần vũ), người anh là Trương Đăng Chấn làm chỉ huy một cánh hải quân của anh em nhà Tây Sơn, người em là Tú đức hầu Trương Đăng Đồ làm đô đốc chỉ huy một cánh bộ binh.


Cuối thời Gia Long, qua con đường khoa cử, họ Trương Đăng Quảng Ngãi làm quan to cho Triều Nguyễn. Trương Đăng Quế là người Quảng Ngãi đầu tiên đậu hương cống (cử nhân), là người khai khoa của tỉnh Quảng Ngãi, Trương Đăng Trinh, con trai người anh của ông là người đỗ tiến sĩ đầu tiên của tỉnh Quảng Ngãi, người khai khoa tiến sĩ của tỉnh Quảng Ngãi.


Họ Trương Đăng Quảng Ngãi là một họ tộc có truyền thống hiếu học, và có danh vọng tại địa phương, liên tục có người được phong quan chức, đặc biệt vào thời Tây Sơn và Triều Nguyễn. Họ Trương Đăng Quảng Ngãi là một trong số các họ tộc đã có nhiều đóng góp trong bước đầu khai cơ lập nghiệp hình thành tỉnh Quảng Ngãi.


THỜI NIÊN THIẾU


Trương Đăng Quế sinh ngày 01 tháng 11 năm Quý Sửu (1793), là con thứ ba, và là con út của Trương Đăng Phác. Năm 9 tuổi, Trương Đăng Quế mồ côi cha, là cậu bé chăm chỉ, thông minh, hiền lành nên được anh chị thương yêu đùm bọc. Qua tập thơ bằng chữ Hán “Trương Quảng Khê tiên sinh tập”, ông thường nhắc đến người chị rất đỗi thương kính, đã chăm lo cho ông từ việc nhỏ đến việc lớn:


TẠM BIỆT CHỊ


Chưa uống lòng đã say


Nâng ly bụng không đành


Sớm nay tạm biệt chị


Mai đây em lên đường


Gió bấc se se thổi


Trăng cuối thu còn non


Vào đời em xin hứa


Hươu vượn, nghe làm gì


Thơ Trương Đăng Quế “Trương Quảng Khê tiên sinh tập”, NXB Phương Đông, 2007, tr. 6


Và bài


ĐỂ LẠI CHO CHỊ


Phiền muộn nhiều sinh bệnh,


Chức cao dễ oán thù.


Thương thay bà chị họ,


Vì ta mà âu lo


Ngày ta mới ra đi


Chưa có chức tước gì


Mới thấy lòng chị qúi


Tốt xấu khó hợp hòa


Lòng mỗi người mỗi xa


Làm sao kết nhau được.


Thơ Trương Đăng Quế, Sđd, tr. 64


Khoảng năm 25 tuổi, ông được anh chị cho đi Huế ăn học. Có lẽ là việc đi tìm thầy giỏi chốn kinh đô ôn luyện một vài năm trước khi thi. Từ nơi thôn quê vùng biển thuộc giải đất miền Trung đơn sơ, thì Huế là nơi đô hội đầy quyến rũ mà cũng đầy cạm bẫy. Ông có hai bài thơ kể chuyện du học ở Kinh đô Huế mà thời bấy giờ thường được gọi là Tràng An:


DU HỌC Ở TRÀNG AN.


Khi ta rời khỏi nhà,


Nói là đi du học,


Vợ may cho áo mới,


Chị nắm cơm đi đường


Từ biệt ai cũng dặn


Phải nhớ ngủ cho ngon.


Vạn dặm đất khách xa


Cực khổ một thân ta.


Đột nhiên trong một sớm


Dậy trong lòng chí lớn,


Uống toàn rượu Đỗ Khang


Áo Thiên Tôn cho sang


Bạn mới, trang hiệp khách


Cố tri là phú thương


Dạo chơi khắp thành thị


Vui suốt chẳng ngày nghỉ


Ý khí thật mênh mông


Mênh mông mà rỗng không


Than ôi! Ta lo lắm.


Hỏng vì đời lông bông.


Thơ Trương Đăng Quế, sđd, tr. 487


 Với tâm tình của chàng trai trọ học nơi đất khách, mỗi lần tết đến, nhìn cảnh người ta đoàn viên ăn lễ tưng bừng, riêng mình buồn tủi nhớ nhà


TẾT ĐOAN NGỌ


Sống lâu ngày đất khách


Xuân đi tự bao giờ


Người bảo tết Đoan Ngọ


Sáng dậy ra ngoại ô


Người lấn chen hối hả


Có cô gái hàng hoa


“Răng nỏ mua bông nợ


Ngày tháng mô có chờ?


Ta cảm thấy ngường ngượng


Mua cô nàng chuỗi hoa


Hương thanh sực nức mũi


Xuân quả thật đã qua


Vấn vương quá bất ngờ


Hè nắng nôi khá rõ


Ta chẳng chút xôn xao


Quang cảnh thật ồn ã


Mua lễ cúng ông bà


Mời chào ta niềm nở:


Ngồi một chắc xụi lơ?


Phải sống răng cho sướng


Khắng túi moi tiền ra


Về treo trên giường ngủ


Rõ nhưng rồi tiệc hoa


Lần chuỗi hoa còn tủi…


Thơ Trương Đăng Quế, sđd, tr. 33


HỌC VẤN CỦA NHÀ NHO THỜI NHÀ NGUYỄN


Trước khi đi vào luận định một nhân vật trong lịch sử, cần tìm hiểu bối cảnh lịch sử mà nhân vật ấy đã sống và hoạt động, mà trong đó, phần quan trọng là môi trường giáo dục đào tạo mà nhân vật ấy được thụ hưởng. Tất nhiên, còn nhiều lãnh vực quan trọng khác nữa về chính trị, kinh tế, xã hội... liên quan đến cuộc sống của nhân vật ấy.


Gần đây, giới sử học tập trung nghiên cứu về nhà Tây Sơn, cũng như chú ý đến những đóng góp về kinh tế của triều Mạc. Đó là hai triều đại mà tư liệu sử học còn lưu lại quá ít vì bị các triều sau hủy phá gần hết, nên cần thiết phải khảo sát bổ sung nguồn tư liệu, ngõ hầu đánh giá cho tương xứng với sự nghiệp của hai triều đại đã tạo ra nhiều biến động trong lịch sử nước ta theo hướng tích cực về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội.


Còn triều Nguyễn, triều đại sau cùng đã từng tồn tại trong lịch sử dân tộc hơn một thế kỷ. Tất yếu, triều Nguyễn kế thừa và phát triển việc quản lý đất nước của các triều đại phong kiến trước đó về các mặt hành chính, bang giao, quân sự, giáo dục, sản xuất, thuế khóa và pháp luật (lục bộ: Lại, Lễ, Binh, Học, Công, Hộ, Hình). Cho nên, có thể nói triều Nguyễn đã đạt đến trình độ hoàn thiện và tinh vi nhất nền cai trị kiểu phong kiến ở nước ta, so với các triều đại Đinh, Lê, Lý Trần, Lê trước đó.


Ở đây, chỉ khảo sát việc học thời nhà Nguyễn, để tìm hiểu phương pháp đào tạo nhân tài thời phong kiến.


Một chế độ giáo dục đào tạo những nhà chính trị mà nhà văn Pháp Nobel văn học 1965, Albert Camus đã từng đánh giá:


“Hòa bình thế giới có thể bảo vệ, nếu những người có thiện chí ở các nước thành lập được một thứ hội đoàn quốc tế theo kiểu các sĩ phu Nho học và dựa trên cơ sở học thuyết của Khổng Tử”.


 Đối với Albert Camus, Nho giáo là một học thuyết như mọi học thuyết khác, nhưng người ta tìm thấy ở đây một căn cứ để mở tầm nhìn rộng lớn đối với con người và đối với vũ trụ. Đối với người Việt Nam, Nho giáo còn hơn là một thứ học thuyết ghi chép trong sách của thánh hiền, đó là một di sản của lịch sử, một di sản lịch sử để tiếp thu, để chống lại, để vượt qua trong quá trình chuyển biến lịch sử mà đất nước đang phải trải qua trong thời kỳ hiện nay(1).


 Nhận định của một nhân vật tầm cỡ như Albert Camus, chúng ta không thể xem thường, nhưng tại sao những con người được đào tạo theo phương pháp ấy đành chịu thúc thủ trước phương Tây. Không chỉ ở Việt Nam, mà cả đến cái nôi là Trung Quốc, lúc bấy giờ đã có số dân đông áp đảo?


Chúng ta tuần tự khảo sát xem học gì.


I. Giáo dục nhà Nho:


Nho giáo là học thuyết chính thức sử dụng trong thi cử ở nước Việt Nam xưa. Kỳ thi đầu tiên mở năm 1075 và kỳ thi cuối cùng vào năm 1919. Trong mười thế kỷ, học thuyết đó là giềng mối tri thức và tư tưởng của người Việt Nam. Nhà nước phong kiến tuyển chọn quan lại cao cấp qua các kỳ thi, mở ra cho mọi người tham gia, không phân biệt tầng lớp, giai cấp (chỉ trừ phụ nữ và phường hát).


Trước tiên, người học chữ Nho phải học qua các sách giáo khoa thông thường như Nhất thiên tự, Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Sơ học vấn tân, Minh tâm bảo giám, Minh đạo gia huấn, Tam tự kinh. Đó là các sách ban đầu dạy tiếng một, đặt thành câu có vần cho dễ nhớ, rồi tiến tới dạy các sách cho trẻ con biết luân thường đạo nghĩa. Các sách ấy đặt theo lối văn vần, cho dễ học dễ nhớ, “thành ra trẻ con học thuộc những câu ấy, tuy lúc nhỏ chưa hiểu rõ nghĩa lý, nhưng khi lớn lên nhớ ra, ôn lại thời dần dần cũng vỡ vạc thấm thía các nghĩa lý ấy, coi những câu ấy như châm ngôn trong việc tu thân xử thế”(1) rồi mới học đến Tứ thư, Ngũ kinh, Bắc sử, Cổ văn.


1. Tứ thư gồm 4 sách: Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh Tử.


- Đại học: Sách dạy về tôn chỉ của người quân tử, phương pháp và cách thực hành, gồm hai phần: Kinh (chép lời của đức Khổng Tử) và Truyện (giảng giải của Tăng tử vốn là học trò giỏi của đức Khổng Tử). Đó là luận lý học Tám bước:


* Cách vật: khảo sát, nghiên cứu các lẽ mọi vật.


* Trí tri: để biết cho thấu đáo cùng cực.


* Thành ý: thì ý mới có thể thành thật.


* Chánh tâm: thì tâm mới được chánh.


* Tu thân: phải năng sửa mình (chủ yếu là sửa mình cho chánh tâm).


* Tề gia: rồi mới chỉnh đốn được việc nhà.


* Trị quốc: thì mới có khả năng cai trị đất nước.


* Bình thiên hạ: và bình thiên hạ.


 - Trung dung: do cháu đức Khổng Tử là Tử Tư chép những lời tâm pháp do học trò ngài truyền lại. Sách này luận thuyết về đạo làm người quân tử. Trung là không cực đoan, không thiên lệch, dung là thường có, không thay đổi. Đạo Trung dung là đạo dạy phải hành xử đúng mực, không thái quá, không bất cập, phải có ba cái đạt đức là Trí, Nhân, Dũng. Trí, để biết rõ các sự lý, Nhân, để hiểu điều lành mà làm theo, Dũng, là cái khí cường kiện làm điều lành cho đến cùng. “Sách Trung dung nói cái đạo của thánh nhân căn bản ở Trời, rồi diễn giải ra hết mọi lẽ, khiến người ta phải giữ mình cho kính cẩn trong khi hành động và khi im lặng một mình. Suy cái lý ấy ra cho đến sự nhân nghĩa, để khiến cho cả thiên hạ được bình trị và lại tán dương cái công hiệu linh diệu của đạo ấy cho đến chỗ tinh thần vô thanh, vô sắc mới thôi. Thật là một quyển sách triết lý rất cao”.(1)


- Luận ngữ: Sách chép lời đức Khổng Tử dạy học trò và lời nói chuyện của Khổng Tử với những nhân vật đương thời về các vấn đề: luân lý, triết lý, chính trị, học thuật do các môn đệ của ngài thu thập biên soạn. Đây là sách dạy làm người quân tử trong thực tế, phác họa mẫu mực hoạt động cho người đời sau theo. Đó là người có phẩm cách cao thượng, hồn hậu, thành thực, khiêm cung, khoáng đạt...


- Mạnh Tử: Sách do Mạnh Tử biên soạn. Mạnh Tử (sống sau Khổng Tử khoảng 300 năm) phát triển mở rộng Nho giáo có từ thời Khổng Tử. Ông đề xướng thuyết Tính Thiện (Nhân chi sơ tính bản thiện), cho rằng phẩm cách của người quân tử mà ông gọi là đại trượng phu, là người có đủ bốn điều Nhân, Nghiã, Lễ, Trí. Ông mở sự quan tâm của người quân tử sang địa hạt kinh tế. Ông nói:


“Người có hằng sản thì mới có hằng tâm. Ông chỉ cho các bậc vua chúa thời bấy giờ các phương lược phát triển trồng trọt, chăn nuôi, công nghệ”.


Tứ thư là bộ sách cốt yếu của đạo Nho, mà bất cứ nhà Nho nào cũng phải nghiên cứu, nghiền ngẫm và lấy đó làm kim chỉ nam cho mọi suy nghĩ, hành vi suốt đời mình.


2. Ngũ kinh: là năm bộ sách do đích thân Khổng Tử biên soạn.


- Kinh Thi: là sách sưu tập ca dao vùng nông thôn và nhạc chương nơi triều miếu trong xã hội Trung Quốc thời cổ đại. Khổng Tử sưu tầm đượ ba ngàn thiên, chọn ra 305 thiên sắp xếp thành bốn phần là Quốc phong, Tiểu Nhã, Đại Nhã, Tụng.


* Quốc phong: là những câu ca dao nơi nông thôn từng nước, lại chia ra: chính phong (các bài hát từ trong cung điện hoàng đế Trung Hoa, vua các nước chư hầu truyền ra), biến phong (ca dao tại mười ba nước chư hầu).


* Tiểu Nhã: những bài hát trong cung đình, thường dùng trong các cuộc tiệc tùng.


* Đại Nhã: những bài hát dùng trong các trường hợp quan trọng như khi thiên tử họp các vua chư hầu, hay khi tế miếu đường.


* Tụng: những bài ngợi ca các vua anh minh thời trước dùng để hát nơi miếu đường.


- Kinh Thư còn gọi là kinh Thượng Thư: ghi chép Điển, Mô, Huấn, Cáo, Thệ, Mệnh của nhà vua và bề tôi tại các triều đại nước Trung quốc từ thời Nghiêu Thuấn đến thời Đông Chu.


 +Điển: những chế độ kiến thiết về đời Đường (Nghiêu) và đời Ngu (Thuấn).


 + Mô: điều trần của các quan đời Ngu.


 +Huấn: Lời vua tôi khuyên nhau điều hay, lẽ phải.


 + Cáo: Lời răn bảo của vua khi bổ nhiệm họ sắp đi làm quan


 + Thệ: Lời thề, cũng như bài “ hịch “ trước khi chinh chiến.


 + Mệnh: Sắc lệnh của vua.


Ý tứ lời của vua răn bầy tôi, lời bầy tôi khuyên vua trong một đất nước thái bình hạnh phúc, đựơc gọi là thời đại hoàng kim, là xã hội lý tưởng của mọi thơì đại (1).


- Kinh Dịch: sách lý giải lẽ biến hóa của trời đất và hành động của muôn vật, là một công trình rất lạ trong văn học thế giới, chỉ là những nét vạch ngang (hào), một liền, một đứt, chồng lên nhau, sắp xếp thành ba vạch (quẻ đơn), sáu vạch (quẻ kép), thay đổi không trùng lặp mang những ý nghĩa khác nhau, gắn kết nhau theo quy luật, thể hiện khái quát mọi lẽ biến dịch(2).


- Kinh Lễ còn gọi là Lễ ký: là sách chép các lễ nghi trong gia đỉnh, hương đảng và triều đình.


- Kinh Xuân Thu: là quyển sử nước Lỗ, viết theo thể biên niên trong thời gian 243 năm. Là cuốn sử đề cao thuyết Chính danh. Ngày xưa, nhà Nho cho rằng giá trị sách Xuân Thu lớn lắm, và giá trị kinh Xuân Thu ở chỗ “chính danh định phận”, “ngụ bạo biếm, biệt thiện ác”. Nói cách khác, giá trị kinh Xuân Thu ở chỗ tác giả gởi gắm tâm trí, trình bày một cách gián tiếp, quan điểm đánh giá nhân vật và sự việc. Khổng Tử nói: “ Người biết ta chỉ ở Xuân Thu, người trách ta cũng ở Xuân Thu”. Nam Sơn phu tử Nguyễn Đức Đạt (thầy Nho nổi tiếng xứ Nghệ thế kỷ 19), đánh giá “Kinh Xuân Thu là gấm là hoa, kiêm cả Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Dịch”(3).


3. Bắc sử, Cổ văn: là sử và văn học Trung Quốc. Sử từ thời Ngũ Đế đến Nguyên-Minh. Cổ văn Trung Quốc thì phỏng theo sách “Bội văn vận phủ” của Trung Quốc mà bổ sung, làm thành sách. “Thu tóm cả xưa và nay vào túi, vét cả lớn bé vào rọ, nhờ đó học vấn được thịnh”.


Cái chung nhất, cái cơ bản nhất của Nho giáo là cương thường, đó là: Bát điều mục, Cửu trù, Thiên mệnh, Chính danh, Tùy thời, Nhân trị, quân tử và tiểu nhân... được các nhà Nho mọi thời đại xem là chân lý vĩnh cửu, là “Đạo”, là “thiên địa chi thường tình, cổ kim chi thông nghị”, “thiên địa bất biến, đạo diệc bất biến”(1).


Nam Sơn phu tử bảo:


“Tóm hết sự biến đổi trong thiên hạ, thông suốt tình hình trong thiên hạ, không sách nào rõ bằng Kinh Dịch. Nêu lên chế độ trong thiên hạ, bồi thực cái gốc cho thiên hạ, không sách nào rõ bằng Kinh Thư. Thu thập trí tuệ của thiên hạ, giúp đỡ việc trị an cho thiên hạ, không sách nào rõ bằng Kinh Thi. Chấn chỉnh quyền bính trong thiên hạ, không sách nào rõ bằng Kinh Xuân Thu. Châm chước điển tác trong thiên hạ, định ra đạo chí cực cho thiên hạ, không sách nào rõ bằng Kinh Lễ”.


Chúng ta phải công nhận công lao to lớn của Khổng Tử trong việc thiết lập nền trật tự, dẫn đến sự yên vui cho quần chúng, đã mang đến cho họ bao nhiêu nguồn hạnh phúc nho nhỏ. Lập luận của Khổng tử nếu ta thấu suốt được thì giá trị con người sẽ được nâng lên, quan niệm về cuộc sống sẽ trở nên rộng rãi và độ lượng biết mấy(2).


II. Cái học Nho giáo trong thời Nguyễn.


Thế kỷ 18, Lê-Mạc, rồi Trịnh- Nguyễn phân tranh, chế độ phong kiến bị khủng hoảng nặng nề, ảnh hưởng đến toàn bộ xã hội, trong đó có việc học hành thi cử. Cuối triều Lê- Trịnh, việc học việc thi đã trở nên suy đồi.


“Khảo thí cốt để chọn người tài giỏi, xưa nay lệ thi Hương chưa bao giờ nghe nói lấy tiền thay thế khảo hạch. Từ trung hưng (Lê Lợi đánh đuổi quân Minh trung hưng đất nước) trở về sau, cách thức tinh mật, không còn chê vào đâu được. Các đời sau noi theo, đều lấy được thực tài, những người cắp sách đi học thì biết khoa trường là trọng. Từ khi kẻ nịnh thần đề nghị đổi phép thi, thì hạng “sinh đồ ba quan”, đầy cả thiên hạ...” (1)


Các vua đầu triều Nguyễn đều hết sức chú trọng đến việc học và thi, nghĩa là việc đào tạo và tuyển lựa nhân tài cho chế độ. Họ đều nhận rõ vai trò trọng yếu của văn hóa, giáo dục, tư tưởng trong việc củng cố chính quyền. Họ muốn, họ quyết làm như nhà Tống: tập trung mọi quyền hành, thống nhất chính trị, thống nhất tư tưởng. Trừ Gia Long là người rất tự mãn về võ công của mình, các vua đầu triều Nguyễn đều là những nhà Nho khá uyên bác, hơn nữa, họ là những nhà thơ, nhà văn say mê văn học, có nhiều sáng tác. Chính Gia Long là người ra chỉ thị:


“Học hiệu là nơi chứa nhân tài, phải giáo dục có căn bản thì mới có thể thành tài, trẫm muốn bắt chước người xưa, đặt nhà học để nuôi học trò ngõ hầu văn phong dấy lên, hiền tài đều nổi, để cho nhà nước dùng”. (2)


Minh Mạng bàn với đình thần Lương Tiễu Tường:


“Trẫm từ khi thân chính đến nay, chưa từng lúc nào không lấy việc đào tạo nhân tài làm việc ưu tiên... Đế vương ngày xưa dùng người có tài có phải vay mượn nhân tài ở đời khác đâu”(1).


Minh Mạng ra Dụ cho bộ Lễ:


“Đạo trị nước tất phải lấy việc gầy dựng nhân tài làm việc ưu tiên, mà phương pháp gây dựng thì trước hết phải nuôi cho có sẵn. Đời xưa, con trưởng các công khanh đại phu và những đứa tuấn tú con nhà dân, đến 15 tuổi phải vào đại học”(2).


Thiệu Trị ở ngôi có bảy năm mà mở đến 11 khoa thi, tự hào là chấn hưng văn trị. Lâm Duy Thiếp cho là “Từ cổ, đặt chế độ, mở khoa thi, lấy nhân tài, không đời nào thịnh bằng đời này”. Tự Đức tiếp tục sự nghiệp giáo dục, văn học của ông của cha. Bản thân Tự Đức là người học rộng, nhớ nhiều, sáng tác nhiều. Tự Đức tự tay ra nhiều đề thi và tự tay chấm các bài đối sách thi Đình, những bài thi cấp cao thường có quan hệ với thời cuộc chính trị, trưng cầu kiến giải của thí sinh nhằm phát hiện nhân tài. Tự Đức lại bắt buộc các hoàng thân, các đình thần, hai ngày mỗi tháng, tập hợp cùng nghe giảng kinh điển với nhà vua. Giảng viên là những danh nho như Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản, Trương Quốc Dụng...


Cụ Phan Bội Châu kể việc học thời của cụ, vào cuối thế kỷ 19:


“Năm lên sáu tuổi, cha dắt tôi đến trường, trao cho tôi sách chữ Hán, mới ba ngày đã đọc trầm (thuộc) hết quyển sách “Tam Tự kinh”, không sót một chữ. Cha lấy làm lạ, đem “Luận ngữ” cho tôi đọc, tập làm văn trẻ con, và khiến viết trầm những sách đã đọc, mỗi một bài học phải viết đến mười tờ. Vì nhà nghèo không mua được nhiều giấy, thường lấy tàu chuối thay giấy, viết vào đọc, đọc thuộc thì đốt ngay.


Năm tôi lên bảy, bắt đầu đọc các kinh truyện, thảy đều biết được ý nghĩa sơ sơ. Thường nhái sách “Luận ngữ”, làm bản “Phan tiên sinh Luận ngữ” có nhiều lời chê cười các bạn học, cha thấy được, đánh đòn thật đau. Lên tám, đã hay làm những văn ngắn theo thời tục, đi thi tiểu khảo ở hương lý phủ huyện đều đỗ đầu.


Lên mười ba tuổi, đã làm được các thức thi văn, hoặc lối cận lối cổ, nhiều câu các thầy già ở hương thôn không cắt ra nghĩa. Lúc bấy giờ cha tôi đã không ưng dạy tôi nữa, muốn khiến tôi đi học ở các trường đại gia, nhưng vì xã thôn gần miền không có trường lớn, lại khổ vì nhà nghèo không thể đi học xa được, nên phải học ở trường cha, mà lại đến thỉnh nghiệp với Nguyễn tiên sinh ở xã Xuân Liệu. Tiên sinh là ông Nguyễn Kiều, Hán học thông lắm, đậu cử nhân, bổ Biên tu, chốc bỏ quan về nhà, gặp lúc nước loạn, ẩn dạy học trò. Tôi đến học, được tiên sinh khí trọng lắm, thường mượn sách vở các nhà đại gia cho đọc nên văn chương Hán học của tôi mới sở đắc được nhiều. Nhưng tiếc thay, lúc bấy giờ chỉ đua đuổi bằng văn khoa cử, không có gì đáng chép...”(1).


Triều Nguyễn sau các triều Lý, Trần, Lê, Trịnh, tất nhiên là triều đại kế thừa và phát triển các triều trước, kể cả trong việc học và thi. Hầu như đại bộ phận các nhà văn nhà thơ nổi tiếng trong Văn học sử nước ta xuất hiện trong thời nhà Nguyễn.


“Ngoài các sáng tác tập thể của các cơ quan nhà Nguyễn, cá nhân các nhà Nho cũng viết khá nhiều, nhiều hơn lúc nào hết. Các vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức là ba nhà thơ viết rất khỏe, tác phẩm của họ còn là những bài Luận, Dụ quan trọng, chứa đựng một số nét tư tưởng độc đáo so với lúc ấy. Đình thần, tỉnh thần, các nhà Nho riêng lẻ viết nhiều trên nhiều loại sáng tác từ tư tưởng, lịch sử, địa dư, đến thơ văn, tiểu thuyết, tuồng hát, y học...Trong số đó có những nhà văn đại tài, những tác phẩm trứ danh, những học giả uyên bác, thuộc vào loại nhất trong lịch sử văn hóa ngàn năm của nước ta từ trước đến đó. Hiển nhiên là có những bông hoa sinh nụ từ Lê mạt, Tây Sơn nay mới nở, và cũng phải nói rằng, hiển nhiên có nhiều bông hoa văn hóa tự nó sinh ra, chứ không phải nhờ triều đình chăm sóc, dù là gián tiếp”.(1)


Nhưng trong khi bên trời Tây, người ta đã tìm ra Tân thế giới, rồi phát kiến sức mạnh của hơi nước, chế được máy hơi nước, mở ra nhiều môn học mới phát triển công nghiệp, nâng cao kỹ thuật và đời sống, thì tầng lớp trí thức nước ta chưa có gì mới:


“Tại Việt Nam tên tuổi của những người, những tác phẩm đã đóng góp vào việc nâng cao trình độ học thức của người Trung Quốc luôn luôn được truyền tụng. Nhưng đối với các nhà Nho học của ta, khi nghe các ông bàn luận, thì dường như chỉ biết có một mình ông Khổng Tử. Người có học, đương nhiên đều tôn kính Khổng Tử. Người da vàng tưởng nhớ và biết ơn Khổng Tử, nhưng những bậc cao siêu thì rất ngần ngại khi phải chấp nhận nhà đạo đức, nhà triết gia của quảng đại quần chúng này, là người thầy, người hướng dẫn con đường trí tuệ và tinh thần của mình


Điểm mấu chốt trong học thuyết của Khổng Tử nằm trong con người, trong việc tự tu dưỡng bản thân của mỗi người. Nó đòi hỏi trước nhất phải thấu hiểu tường tận nguyên nhân và cội rễ của mọi hành động của con người. Nói khác hơn, am hiểu hành vi con người tức là nắm được công lý vậy. Hãy hiểu người ta trước khi xét đoán, hãy phân tích cặn kẽ rồi hãy phán đoán. Mà rồi, thử hỏi ai là người có thể luận tội và kết án một hành động mà mình tự cho là đã nắm được căn nguyên cội rễ? Khoan dung, độ lượng, vị tha trở thành kết quả đương nhiên của một nguyên tắc sống như vậy. Con người bớt khắc nghiệt với người khác hơn là với chính mình, sẽ đòi hỏi ở bản thân mình nhiều hơn là ở người khác, sẽ chỉ đòi hỏi ở bản thân mình mà thôi”. (1)


Đó là cái học còn ở dạng hướng nội, nằm ở tầng triết học không còn phù hợp với tình hình thế giới thế kỷ 19, đang biến chuyển rất nhanh. Tình hình xã hội thực tế đã vượt quá xa sở học của nhà Nho. Nguyễn An Ninh vạch ra thế thua của tư duy giới nhà Nho triều Nguyễn, lẽ tất nhiên phải gánh chịu sự thảm bại nghiệt ngã của lịch sử, hoàn toàn bó tay trước sức tiến công của văn minh tư bản phương Tây. Thời Tự Đức, nước ta phải đương đầu với một sức mạnh tầm cỡ thế giới là thực dân Pháp mà cả triều đình lúc ấy còn hiểu rất mơ hồ, xem họ như là đám thương nhân hạ cấp, để rồi bị đám thương nhân ấy đánh cho thất điên bát đảo, thua hết trận này đến trận khác, để phải bị hết nhượng bộ này đến nhượng bộ khác gần như liên tục, đến nỗi, phải nhục nhã cắt đất, dẫn đến mất nước, mất luôn nền độc lập dân tộc.


Giúp việc cho Tự Đức là những nhà Nho ưu tú được tuyển lựa hết sức nghiêm ngặt theo chế độ thi cử tuyển chọn nhân tài ra làm việc cho nước. Quả thật, phần lớn các danh nhân nước ta thế lỷ 19 đều là những người đỗ đạt, đa số ra làm quan, phục vụ triều đình, phục vụ đất nước.


(còn tiếp)


Nguồn: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. NXB Văn học. 1-2009







(1) Xin thống nhất tên tự này, vì có người đọc sai âm, tối nghĩa.




(2) Nên đọc là Trương Đăng Nhất, đọc đúng giọng miền ngoài, nơi ông chào đời và trưởng thành.




(1) Ngày nay, ở Âu Mỹ, Hiến pháp qui định ứng cử viên Tổng thống của một quốc gia, chỉ cần sinh ra trên nước ấy và cư trú liên tục từ 10 năm trở lên, tức là họ cho rằng chỉ cần hai thế hệ là đủ điều kiện làm công dân của nước đó. Ở ta hiện còn cơ chế lý lịch ba đời, ngoài nơi sinh của bản thân, còn có mục nguyên quán, tức nơi sinh của người cha, tức là tính đến thế hệ ông nội. Ngày xưa, nhà viết sử của ta thường nhắc đến nguồn gốc lâu đời của nhà vua mở triều đại, như nguồn gốc tộc người Hoa của Sĩ Nhiếp, của nhà Trần, nhà Hồ, nhà Nguyễn. Người ta viết rằng tổ tiên Trần Thái tông qua Việt Nam sinh sống đã năm thế hệ, Sĩ Nhiếp thì sáu thế hệ, ông tổ Sĩ Nhiếp qua đất Việt sinh sống từ thời loạn Vương Mãng. Trường hợp Hồ Quý Ly còn xa hơn nữa, ông tổ họ Hồ qua đất Việt từ thời nhà Hậu Hán (947-950) tới khi Hồ Quý Ly ra đời (khoảng năm 1350) là gần bốn trăm năm, mười sáu thế hệ. Nhà Nguyễn lại càng quá xa, từ thời quan Thái thú Nguyễn Phu, thế kỷ thứ 3.


Thật ra thì sao? Trần Thái Tông, Hồ Quý Ly, Nguyễn Hoàng cũng giống như những nhà vua mở triều đại nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý. Sự nghiệp của họ hoàn toàn giống nhau trên lập trường lãnh đạo nhân dân quyết liệt chống lại ách xâm lược từ phương Bắc. Về mọi phương diện, họ đã được sinh ra và lớn lên trong môi trường Việt, không còn chút ảnh hưởng nào của ông tổ xa xưa trong tư duy cũng như trong mọi cung cách sinh hoạt của họ nữa. Họ hành động như mọi người trong cộng đồng các dân tộc Việt. Nhưng những nhà viết sử Trung Quốc thời phong kiến luôn nhắc đến nguồn gốc ấy, cũng như họ coi nước ta là một nước chư hầu của họ, giống như nước Việt, nước Sở... thời Xuân Thu chiến quốc bên Tàu, là chư hầu của hoàng đế nhà Chu. Cái cớ họ dựa vào là triều đại nào của ta cũng do họ phong vương. Tất nhiên, ngày nay chúng ta hiểu đó là sách lược ngoại giao của ông cha ta phải xin cầu phong nước lớn để rảnh tay xây dựng đất nước.“ Chứng cớ là sứ Tàu đến rồi phải đi, chứ không được ở lại hoặc để làm mật thám, hoặc để gây mâu thuẫn nội bộ trong nước ta, hoặc để áp chế hay yêu sách theo cách này hay cách khác. Phải nhận rõ là vua nước ta chỉ là một ông vua nước nhỏ, còn vua Tàu là ông vua nước lớn. Phải cần cho khỏi có ngoại xâm ở phía Bắc…” (theo Nguyễn Thiệu Lâu, Quốc sử tạp lục, tr. 143).


Thật sự, trên mọi phương diện, nước ta là một nước hoàn toàn độc lập. Sử gia của ta ngày xưa bị ảnh hưởng lối viết sử kiểu này, nhấn mạnh những yếu tố rất phản khoa học, bởi vì họ bị ảnh hưởng cái học nhà Nho đến mức sùng bái, khiến cho có những điều họ hành xử một cách vô thức như phát hiện của Tâm phân học Freud. Viết sử Việt mà lại đi ca tụng Mã Viện, người đánh diệt Hai Bà Trưng, cướp bóc châu báu chở về mấy xe, bị cáo giác rồi bị vua nhà Hán khép tội, tịch thu tài sản, đày đi biên ải phía Tây, vĩnh viễn không được về. Thế mà trong văn học ta viết lời ca tụng Mã Viện là da ngựa bọc thây, mà quên mất cái tội tày đình của Mã Viện đối với sự nghiệp Hai Bà và nhân dân ta. Đó là cách đánh đồng cái học Nho giáo với các triều đại phong kiến của Trung Quốc. Cũng cần nên biết, trong tác phẩm “Trung Việt Văn hóa luận tập”, một quyển sử cận đại Trung Quốc vào đầu thế kỷ XX, viết rằng những dòng họ làm vua ở nước ta như Sĩ Nhiếp, nhà Tiền Lý Nam đế, nhà Ngô, nhà Lý, nhà Trần, nhà Hồ, nhà Nguyễn đều là người Trung Hoa hết cả. Họ đã không chứng minh được nguồn gốc nhà Đinh và nhà Lê, nên họ cho là tổ tiên hai họ này là người Việt.


Ngày nay, chế độ chúng ta thừa nhận rằng, một người có nguồn gốc xa xưa thuộc bất kỳ tộc người nào, Mường, Thái, Kinh, Hoa, Chăm, Khmer..., nếu người ấy đã sinh ra và lớn lên tại Việt Nam thì người ấy hoàn toàn thuộc cộng đồng các dân tộc Việt Nam.


Các nhà khoa học Mỹ đã làm trắc nghiệm và khảo sát khoa học trên mẫu rất cụ thể, cho biết rằng người da đen gốc Phi không khác gì người da trắng gốc Âu về mặt sinh học, chỉ khác nhau ở trình độ giáo dục và định kiến xã hội mà thôi. (Robert V. Kail và John C. Cavanaugh, Human Development, United States of America, 2000).




(1) Nguyễn Khắc Viện: Bàn về đạo Nho. NXB Thế Giới. 2000. tr. 3, 4




(1) Dương Quảng Hàm: Việt Nam Văn học sử yếu. tr.29-31




(1) Trần Trọng Kim, Nho giáo, q1, tr. 279-285




(1) Thẩm Quỳnh: Kinh Thư, tr.8.




(2) Ngô Tất Tố: Kinh Dịch, tr.13.




(3) Trần Văn Giàu: Hệ ý thức Phong kiến và sự thất bại của nó trước các nhiệm vụ lịch sử. NXB Thành phố Hồ Chí Minh 1993. tr.82-83.




(1) Trần Văn Giàu: sđd, tr.95.




(2) Nguyễn An Ninh: Lý tưởng của thanh niên An Nam. Sách “ Nguyễn An Ninh”. NXB Trẻ.1996. tr. 78.




(1) Phan Huy Chú: Lịch triều Hiến chương loại chí, Tập 2, Khoa mục chí. NXB. KHXH. 1997 tr.170.




(2) Trần Văn Giàu: Hệ ý thức Phong kiến...sđd. Tr.99




(1) (2)  Trần Văn Giàu: Hệ ý thức Phong kiến...sđd. Tr.99- 100




 




(1) Phan Bội Châu: Tự Phán. Tr. 20-21.




(1) Trần Văn Giàu: Hệ ý thức Phong kiến...Sđd. Tr.107.




(1) Nguyn An Ninh: Sđd. Tr. 78.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Khó, dễ Nguyễn Tuân - Đào Nguyên 22.03.2017
Ở nơi “con chim bay bạc đầu chưa tới” - Ngô Vĩnh Bình 22.03.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt. 1: Cuộc truy bắt ma túy đẫm máu - Hoàng Điệp – Mai Vinh 22.03.2017
Lê Văn Thảo, người lữ hành lặng lẽ - Nguyễn Xuân Hưng 21.03.2017
Hoa của đất: Nhà toán học lỗi lạc của quê hương Gò Nổi - Kỳ Lam - Hàm Châu 19.03.2017
Không khóc ở Mỹ Sơn - Inrasara Phú Trạm 16.03.2017
Mười ngày rung chuyển thế giới (11- tiếp và hết) - John "Jack" Silas Reed 15.03.2017
Hoàng Đạo Thúy với những trang viết về Hà Nội - Hoài Anh 13.03.2017
Danh sỹ Hà Nội: Hoa Bằng - Hoài Anh 13.03.2017
Đoàn Giỏi – Hầu như nhân vật “Đất rừng phương Nam” đều về trong rượu của anh - Trần Thanh Phương 11.03.2017
xem thêm »