tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19994696
Truyện ngắn
26.01.2013
Vũ Bằng
Có nhớ, em ơi, một buổi chiều

“Có nhớ, em ơi, một buổi chiều,


Rạt rào anh gửi chiếc hôn yêu


Trên làn môi thắm, em xinh quá


Lúc ấy, em ơi, gió rất nhiều


Đấy nhé, em ơi, anh nhớ rõ


Nhớ từ trận gió lướt qua ta...


Rung cành soan đỏ bên hồ vắng


Rớt xuống đầu em một cánh hoa.


Em gọi: “Anh ơi hoa đỏ quá


Màu hoa tôn hẳn sắc hoa lên”


Anh bảo: “Hoa kia tuy đỏ đấy


Nhưng còn kém đỏ sắc môi em...”


Có những ngày tháng buồn hiu, tôi không biết làm gì, xách một cái va ly nhỏ ra đi như một thằng điên. Tháng giêng năm 1952, tôi đến Nha Trang. Không có gì lạ, tôi đáp xe đi Đà Nẵng, mục đích là đến Sơn Trà vì nghe thấy ở núi này nhiều khỉ, rồi thẳng ra Ngũ Hành Sơn xem từ khi chiến tranh đến giờ nơi này biến đổi ra sao.


Nhưng hai ngày sau khi đến Đà Nẵng, trời mưa sậm sụt, không đi chơi núi và ra biển được, tôi đành nằm lì ở trong phòng, đợi đến giờ ăn cơm thì xuống nhà dùng bữa rồi lại lên đi nằm ép rệp. Một ngày còn chịu được, nhưng qua ngày thứ hai buồn rã rượi, ê ẩm cả mình, không cách gì chịu nổi.


Mặc dầu hãy còn mưa lai rai, tôi cứ đi tà tà ra thương cảng, dọc theo đường Bạch Đằng, vào một quán nhỏ kêu một ly rượu mạnh nhâm nhi một mình trong một góc phòng mờ mờ, ảo ảo. Chủ nhân là một bà người Quảng Nam. Các cô chiêu đãi, khoảng tám chín người đều là các cô gái Huế hay Sài Gòn, chỉ có một cô người Bắc. Thấy tôi là người đồng hương lại cô đơn, cô kiếm một cái ghế ngồi cạnh tôi cho có bạn.


Tôi vừa ý lắm. Kêu một ly nữa uống. Cô hỏi tôi đến đây có việc gì. Tôi hỏi cô vào đây đã lâu chưa và làm ăn có khá không. Toàn là những câu hỏi xã giao, nhạt nhẽo. Nhưng dần dần câu chuyện đậm đà hơn. Tôi để ý thì cô ta cũng dễ trông, mà ăn nói cũng ý nhị, lễ phép, mà lại có duyên, mặc dầu cách phục sức hơi... híp-py một chút: quần “din”, sơ mi “da du” tay cụt [1], tóc đuôi ngựa gắn một bông hoa trắng bên tay trái. Thôi, cũng được đi. Ở vào thời này, thỉnh thoảng cũng phải dễ tính hơn một chút. Bây giờ, anh hỏi thực Thùy Dương, nghe: em làm thế này ăn lương tháng của chủ hay là chỉ trông vào tiền sỉu chướng [2] của khách hàng?


Thùy Dương trả lời một cách hết sức tự nhiên, không chút gì e lệ:


– Em tự do mà! Ngay bây giờ, em muốn đi đâu cũng được.


Thế thì đi. Lúc ấy đã khuya. Tôi đưa Thùy Dương về phòng ngủ.


 


Hôm sau, trời hửng nắng. Tôi cùng nàng qua sông Hàn sang bãi biển Mỹ Khê. Nàng sống liền với tôi. Hôm sau nữa, lên thăm ngôi chùa nhỏ ở đỉnh núi Ngũ Hành Sơn, tôi cùng nàng quỳ xuống trước bàn thờ Phật. Lúc ra về, tôi hỏi:


– Khi nãy, em có cầu xin gì không?


– Em chỉ biết lễ, chẳng cầu gì cả.


– Anh thì khác, anh cầu xin nhiều lắm.


– Cầu gì dữ vậy?


– Anh cầu cho hai đứa mình lấy được nhau và sinh rất nhiều con như truyện thần tiên.


Thùy Dương cười rũ. Đêm ấy, xuống nhà hàng ăn cơm xong, rồi lên trên phòng trò chuyện, tôi thấy nàng kém vui. Nói câu chuyện sáng ngày, hứa hẹn trăm năm kết tóc, bản tâm tôi chỉ định đùa. Thấy tự nhiên nàng sửa bộ mặt âu sầu, tôi nghĩ ngay là Thùy Dương sắp đưa ra một “màn” mới lạ gì đây, mà có nhiều phần chắc chắn là “bám riết” để mong tôi lấy thật.


Nhưng tôi lầm.


– Em biết anh là người khách qua đường, gặp nhau rồi xa nhau, nhưng không hiểu sao em lại có cảm tình với anh hơn nhiều người khác, cho nên thành thực muốn quên hết bao nhiêu chuyện cũ để tìm cái vui ảo tưởng cho lòng. Không ngờ câu nói của anh sáng nay lại nhắc cho em thực tế phũ phàng, em không thể quên được nữa, mà lại còn thấy tủi nhục hơn.


Anh ơi, em là gái giang hồ thật, nhưng không giống các cô gái khác đâu. Biết là mình vô phúc, em không bao giờ dám nghĩ chuyện làm bạn với bất cứ người đàn ông tử tế nào – nhất là đối với anh – nói thí dụ là sáng nay anh không nói giỡn, anh thành thật muốn lấy em làm vợ.


– Sao em bi quan vậy?


– Không phải thế đâu, em tin tưởng thế.


– Bất quá em cũng như các cô gái không may khác, sinh vào nhà nghèo, không nơi nương tựa, phải đi làm để nuôi mẹ và mấy đứa em, chớ gì! Hay là vì cảnh chồng con trắc trở nên dấn thân trong một lúc quá giận mất khôn? Dẫu sao đi nữa, người ta vẫn có thể hoàn lương được...


– Những điều anh vừa nói đều là những bài vở soạn sẵn của các cô gái lỡ bước muốn kiếm chỗ yên thân. Không. Em không thể. Em không nghèo khổ, em không có mẹ và một lũ em để nuôi, nhưng em không muốn lấy chồng vì tự nhiên em... muốn thế. Mà không phải em thích thú nghề này đâu. Kỳ lắm anh à, nó như là cái nghiệp, muốn tránh không được, muốn thôi không được, muốn sống tử tế cũng không được nữa. Hình như từ lúc ra đời, có một ông trời đã quyết định mình phải như thế, không khác được. Hình như mình cố chống lại thì có một sức mạnh kỳ bí lạ lùng run rủi, xô đẩy, tạo nên những trường hợp buộc mình lại phải làm vợ khắp người ta. Em linh cảm sẽ cứ phải sống như thế mãi cho đến chết cũng như con thuyền đứt dây, đành phải theo dòng nước đưa đi.


Lên cái mặt chiến sĩ hăng say, tôi nói:


– Thế là chiến bại. Mình sống phải chiến đấu, chống lại thiên nhiên, chống lại trời – thí dụ có một ông trời.


– Em biết anh sẽ khuyên như thế. Song lẽ ở đời có những sự kỳ quặc mà người ta không hiểu nổi. Muốn nói gì, mặc, em vẫn tin rằng con người ta có số mệnh an bài. Tây thì bảo đó là may, rủi, là “c'est écrit”, em thì bảo là số mệnh, là phần số.


Có một hôm, em đi xem bói, xem một ông thầy thông thạo Dịch, thông thạo tử vi. Đừng cười, anh ơi. Hôm ấy, em đến thì đã có một cô xem trước rồi. Em ngồi đợi ở bên ngoài, song những lời ông thầy nói ở bên trong, em vẫn nghe thấy rõ. Xủ quẻ, thánh không ứng, ông thầy trả lại tiền. Theo lời ông ta nói với em sau này, cô nọ đến xem lần này là lần thứ ba. Em hỏi tại sao có quẻ thánh lại không ứng thì ông cười, nói nhỏ: “Thực ra, có quẻ thánh ứng mà cũng có những quẻ thánh không ứng, nhưng trong trường hợp cô khách vừa coi, tôi phải nhận là tôi nói dối. Sở dĩ phải nói dối như thế, không phải là vì tôi hiểm, nhưng chính là vì lòng nhân, tôi sợ nói thật thì cô ta tuyệt vọng, có thể sinh ra liều lĩnh. Là vì cô ta đã ba mươi hai tuổi mà chưa có chồng, bây giờ có người hỏi nữa, nhưng nhất định lại không xong. Cố nhiên tôi không thể nói ra điều đó, mà tôi cũng không bao giờ dám nói nhà cô ấy đã hết phúc đức rồi, con trai không thể lấy vợ, con gái không thể lấy chồng”.


Em chịu lời ông thầy hết sức vì chính em biết rõ gia đình ấy: bố làm quan tuần phủ, giàu súc tích, con trai học trường Tây, đẹp trai, con gái xinh xẻo lại ăn nói dịu dàng, lễ độ. Bình thường, thiên hạ phải đổ xô lại để xin làm sui gia, nhưng trái ngược lại, con gái chết già, còn con trai thì bỏ vợ hay sống độc thân suốt đời.


Bây giờ, ai cũng chủ trương phải sống thực tế, khoa học, nhưng em hỏi anh tại sao có những người có đủ các đức tính và bề thế để lấy vợ, lấy chồng mà lại sống cô độc suốt đời như thế? Tại sao có những người không có tư thế gì cả mà lại sống yên ổn với chồng con trong hạnh phúc? Tại sao có người hiền hậu nết na mà cứ phải sống đau khổ bên cạnh một người chồng vũ phu trong khi có những người đàn bà khác lăng loàn, cờ bạc mà vẫn được chồng con chiều chuộng và kính nể? Có phải đó là may và rủi không? Riêng em cho đó là cái số. Em không sợ gì mà phải giấu diếm: em tin nơi số mệnh.


– Thầy bói bảo em thế nào mà đến nỗi em bi quan như vậy?


– Không phải em chỉ tin thầy bói. Em sống và tin những kinh nghiệm của chính em. Xin lỗi, em nói như thế có điều không phải, vì em còn nhỏ tuổi, nhưng tương đối em đã sống hơi nhiều rồi.


Ngay từ lúc mới lớn lên, em đã tiên cảm như lời em nói với anh. Tiên cảm như cô Kiều ngày trước biết là đời mình sẽ gian nan vất vả. Em nghe thấy những tiếng nói bảo em như thế cũng như bà Dixon, cố vấn của tổng thống Eisenhower trông quả cầu mà biết những sự việc sắp xảy ra. Thoạt đầu, em không chịu tin, nhưng không tin không được: em đã lấy ba đời chồng, cả ba đời khởi đầu đều thơ mộng và tươi đẹp, ấy thế mà không vì lý do gì hay chỉ vì những lý do rất tầm thường, không đáng kể, chúng em đã bỏ nhau.


Tuy nhiên, tất cả những cái đó vẫn chưa là điểm chính. Điểm sau này mới thật làm cho em mất hết tin tưởng nơi một cuộc đời bình thường của những người lương thiện (bởi vì em biết em là một người lương thiện): em cảm thấy là cái dòng nhà em nó thế. Nói ra thì khổ tâm hết sức, nhưng hôm nay buồn, em muốn dốc hết cả nỗi lòng ra cho anh biết, bởi vì khó có một ngày em lại gặp được anh – anh, một người mà em thấy có một tình thương sâu sắc. Phải. Cái dòng nhà em nó như thế thực đấy, anh.


Bây giờ, hỏi mẹ em là ai, em không biết. Em chỉ biết lúc ba em mất, em có hai người chị. Thế là có tất cả ba chị em sống với nhau. Nhà cũng đủ ăn. Còn nói về học, thì cũng không đến nỗi kém quá đâu. Người chị lớn làm giáo học, phải bỏ nghề về buôn tần bán tảo nuôi hai đứa chúng em tiếp tục học hành. Em đậu tú tài bản xứ phần I thì người chị lớn lấy chồng là một viên thẩm phán, song chưa được ba tháng anh ấy chết trong một tai nạn xe hơi. Lấy người chồng thứ hai cũng bất đắc kỳ tử, chị em không hiểu vì tội tình gì kiếp trước, lấy một anh chồng thứ ba nghiện hút, phá tán tất cả vốn liếng của chị dành dụm được trong mấy năm trời. Chị buồn quá, đánh bài, theo trai, bị hết đứa này đến đứa kia lừa, rút cục lấy một thằng Phi luật tân nó chơi rồi nó bỏ, để lại kỷ niệm một căn bịnh trầm trọng không thuốc chữa trị rồi chết trong một bệnh viện ở một tỉnh xa xôi.


Chị hai em, thấy vết xe cũ, tìm hết cách để tránh, với hy vọng chân thành tạo một cuộc đời trong sạch với một gia đình êm vui. Nhưng có ma quỷ nó dắt lối, đưa đường anh ạ. Ngay mối tình đầu của chị đã không may rồi: chị cặp một công chức có địa vị, có tiền, những mong thành vợ thành chồng thì trước hôm cưới một ngày, ý trung nhân của chị lái xe đâm xuống một cái hồ cạn nước, sình lầy chui vô miệng anh nhiều quá, chở vội về bịnh viện mổ ra thì chết. Đến người chồng thứ hai, vẫn không may: hai bên thỏa thuận cưới xin đâu đó rồi thì anh ta bỏ đi mất với một người yêu khác. Rồi người thứ ba, thứ tư cũng không xong, chị đi làm vũ nữ, cặp một quân nhân cấp tá cho chị rất nhiều tiền xài. Chẳng may người quân nhân ấy lại có vợ thuộc vào “thứ dữ”: do biết chồng mình say mê chị, bà ta mượn người tạt a-xít vào mặt và cổ chị. Chữa chạy sống được chị thành một thứ người cùi gớm chết, lâu lâu những vết phỏng lại chảy nước vàng hôi hám không chịu được. Chị bỏ nhà ra đi. Bây giờ không biết sống chết ra thế nào.


Còn em. Chắc lúc mới gặp em, anh không tưởng tượng em đã trải qua ba đời chồng. Thực đấy, anh à. Thấy gương tầy liếp, em cố giữ tròn bổn phận làm vợ cả với ba người chồng ấy, nhưng đúng nó là cái dòng, muốn chịu đựng cách mấy trời cũng không cho yên ổn, chẳng chuyện này thì cũng chuyện khác, khiến chia cây rụng lá. Người thứ nhất thương em lắm, nhưng mẹ và em y không chịu vì... vì em là người Bắc, bắt y phải bỏ. Người thứ hai ghiền rượu, lấy em chừng ba bốn tháng thì một hôm đi chơi khuya về bị thượng mã phong. Còn người thứ ba đi lính làm ở sở Quân cụ mới ăn ở với em được mấy tuần thì bị tử trận ở Daksong. Với hai người chồng sau, em có làm giấy hôn thú hẳn hòi cho nên lúc họ chết, gia sản về tay em cả. Vì thế cho nên em thưa với anh là em không khổ, nhưng vì trời bắt tội nên em mắc phải cái nghiệp giang hồ, muốn sống tử tế không được... hình như có một cái gì run rủi, xô đẩy em phải sống làm vợ khắp người ta, và mãi mãi!.


Rất có thể anh sẽ bảo em là một thứ người dâm loạn, một thứ người bị sinh lý đòi hỏi thường xuyên, một thứ người chỉ có thể thỏa mãn với nhiều người đàn ông. Nếu anh nghĩ như thế thì lầm. Anh đừng nên căn cứ vào những đêm chúng mình ân ái với nhau mà tưởng em là một thứ... hỏa diệm sơn. Đó là một trường hợp đặc biệt xảy ra trong đời em từ khi em dậy thì. Có lẽ là vì em thương anh nhiều, có lẽ vì em không có gì khác cho anh mà có lẽ cũng vì em sắp chết, như ngọn đèn gần tắt thì ngọn lửa bùng lên vậy.


 


Nghĩ đến thân mình mang cái nghiệp văn bút tròn một nửa thế kỷ mà vẫn chẳng đến đâu, thêm nữa lại còn làm khổ lây cả đến con, đến vợ, tôi đã buồn lại nghe thấy những câu tâm sự của Thùy Dương, lại càng não nề, rầu rĩ quá.


Cả đêm ấy, chúng tôi không ngủ. Trời tháng giêng ở Đà Nẵng về đêm lạnh. Trùm mền, chỉ để hở mặt ra, tôi quay sang nhìn Thùy Dương nằm ờ giường bên kia xem nàng đã ngủ chưa thì thấy dưới bóng đèn mờ, nàng lấy khăn tay lau nước mắt. Tôi nói:


– Thôi, ngủ đi em, ngủ đi em... Khóc làm gì? Nghiệp dĩ đã như thế, nghĩ mãi cũng thế thôi, không hơn gì.


– Vậy anh cũng tin nghiệp dĩ sao?


– Tin lắm chứ, có điều là buồn quá không muốn nói đấy thôi.


Đã mang lấy nghiệp vào thân


Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.


Thùy Dương nói đúng: anh tìm các cách để tạ từ nghề văn bút mà không thể được, cũng như em, muốn bỏ nghề lá gió cành chim mà cũng không xong. Cái nghiệp ấy, theo anh, chẳng qua chỉ là cái tội mình gây ra trong kiếp trước mà kiếp này phải trả. Có khi không phải thế, cái tội ấy chưa chắc là do mình làm kiếp trước hoặc kiếp này, nhưng do ông, bà, cha, mẹ mình tạo nên để cho kiếp này mình gánh, trong khi chính mình không làm chi nên tội. Đối với tất cả những người ấy, ta không nên khinh ghét mà chỉ thương thôi.


Anh có biết trường hợp một người bạn quen biết từ hồi ở Bắc cũng mang lấy cái nghiệp như chúng ta, lúc chung cục bị chết một cách đau thương. Chính ra anh ta là một người trí thức hiểu biết hơn ai về lễ nghĩa thánh hiền, nhưng cũng như em vừa nói “hình như có cái gì run rủi, xô đẩy làm điều càn rỡ để sau đây nhận lấy một cái chết thảm khốc, bị thiên hạ khinh khi, phỉ nhổ.


Sinh thời người bạn ấy, anh cũng phỉ nhổ, khinh khi hắn, nhưng bây giờ thì anh hiểu: những người như thế chỉ đáng thương, không đáng giận, mình có bổn phận khuyên nhủ họ. Nếu họ không cải hóa được, ấy cũng là tại cái nghiệp nó khiến ra như thế. Cái nhân xấu thì cái quả phải xấu, cái nhân tốt thì quả sẽ tốt, đó là tự nhiên.


Trời về gần sáng, lạnh quá, muốn ngủ cũng không ngủ được. Thùy Dương ơi, hay là chúng mình dậy, uống một cái gì cho ấm bụng đi, em.


Gió thổi mạnh làm cho cánh màn cửa reo phần phật. Tôi uống rượu. Thùy Dương pha cà phê. Nhìn những giọt nước màu huyền đặc quánh nhểu từng giọt, từng giọt xuống ly, Thùy Dương ngồi sát vào tôi cho đỡ lạnh:


– Buồn quá là buồn. Anh nói chuyện gì cho vui đi.


– Biết nói gì bây giờ?


– Anh nói chuyện ông bạn anh mang cái nghiệp dĩ gì mà lúc chung cục bị chết đau, chết đớn, bị thiên hạ khinh khi, phỉ nhổ đó. Em thích nghe những chuyện như thế vì biết rằng ở đời cũng còn có nhiều người khổ như mình hay hơn mình vì số kiếp, vì nghiệp dĩ, em cũng thấy lòng vợi buồn khổ đi phần nào.


Tôi rót thêm một ly nữa rồi kể chuyện người bạn văn nghệ như sau:


 


Cách đây khoảng ba chục năm, ở Bắc Việt, tôi sống về nghề viết văn, làm báo.


Làm thư ký cho một tờ tuần báo, đồng thời quản lý cho một nhà xuất bản, tôi có dịp giao thiệp với nhiều nhà văn, nhà thơ hoặc gửi bài đăng báo hoặc có bản thảo muốn in. Trong số các bạn văn tối tối thường đến nhà tôi mạn đàm về văn chương, nghĩa lý, có một nhà thơ ký bút hiệu là Chiêu Dương. Tên thật của anh là gì, tôi không rõ, nhưng tôi có cảm tình đặc biệt với anh, không những vì thơ của anh hay, kiến văn của anh rộng, lập trường của anh vững chắc mà còn vì, ở anh, hình như tiết ra một thứ điện gì nó thu hút những người gần anh. Có lẽ đó là cái duyên.


Lân la đi trà rượu với nhau chừng một năm, tôi mới biết anh là một thầy tu xuất. Tôi thường đùa, bảo anh: “Anh không có căn tu có lẽ vì cái duyên. Chắc hẳn chị ở nhà ghen anh lắm, phải không?”. Chiêu Dương cười, không đáp. Nhưng sau này, nghe mấy bạn văn cho biết, thì Chiêu Dương không có vợ – nói là bỏ vợ thì đúng hơn. Ở nhà tu ra, anh sống một cuộc đời hoa mộng như điên, trẻ có, sồn sồn có, mà già cũng có. Cô nào, bà nào bập phải anh sau một thời gian kỳ dật lạc cũng bị thất vọng não nề vì anh quất ngựa truy phong, nhưng không bao giờ anh lấy thế làm điều tội lỗi, viện cớ chính các bà, các cô ấy tự tay đưa tiền cho anh tiêu và tự ý ngã vào cánh tay anh, chớ không phải do anh cám dỗ.


Vì đào hoa quá, anh có cùng một lúc nhiều bà, nhiều cô cung phụng, vì thế nhiều khi anh quên mất cả những buổi hẹn hò, thành thử ra đã có mấy lần bà này chạm trán cô kia, gây ra những vụ cãi lộn, ấu đả mang tai mang tiếng.


Thấy thế, tôi hết lời khuyên can, nhưng Chiêu Dương coi như “pha” và bảo: “Anh băn khoăn những chuyện vặt ấy làm gì. Đời là một màn hài kịch. Xem họ ghen nhau, thú lắm. Mà kỳ hết sức, anh à, tôi cứ tưởng rằng, thấy tôi mèo mỡ bê bối như thế, họ ngán, không ngờ họ lại càng cay, mà càng cay lại càng say, họ ganh nhau đem tiền đến cho tôi xài và lại càng bám tôi riết hơn lên.”


Vì bị bám riết quá, Chiêu Dương không dám ở nhà nữa, phải thuê phòng để tiếp các người yêu. Ngoài thời giờ đó ra, anh đến ở chung với một người bạn thân như ruột thịt ở Lao Kay về làm việc ở nha Bưu Điện. Hai bữa anh ăn ở đấy, tối ngủ ở đấy, mỗi tháng đưa cho vợ bạn ít tiền để chi tiêu. Thế rồi không hiểu dở đòn phép gì ra, anh “cuỗm” luôn vợ bạn mang đi. Người bạn đi kiện bỏ vợ tại tòa. Anh không bị liên can gì hết, nhưng chính vào lúc Tòa tuyên án thì anh chán cô vợ Thái trắng lúc ấy đã có thai bảy tháng. Ngày nào vợ chồng cũng cãi nhau như quân hằn quân thù.


Bấy giờ, việc gì cũng đã muộn mất rồi, có muốn quay về với chồng trước cũng không được nữa – ông ta đã có vợ mới – cô đành ngậm đắng nuốt cay ở lại với Chiêu Dương, với hy vọng là đẻ xong sẽ trả con cho ảnh rồi đâm đầu xuống chuôm xuống ao tự tử. Nhưng việc đời đâu có dễ dàng như thế được. Cây muốn lặng, gió chẳng dừng. Dù cô ta nhịn nhục cách nào, anh ta cũng kiếm ra cớ để mà bắt bẻ, chửi bới, hành hạ. Kết cục, cô ta đẻ non rồi chết. Đứa con ấy – một đứa con gái – ảnh đem cho bà xơ nuôi.


Với một người đàn ông khác, trường hợp ấy cũng bắt người gây tội phải suy nghĩ phần nào, hoặc hối hận, hoặc tu tỉnh lại, nhưng Chiêu Dương không thế. Ngựa cứ theo đường cũ. Có một vài cô thất tình vì anh, viết thư hăm dọa tự tử, anh không đếm xỉa, hơn thế lại còn thách đố và, tàn ác hơn nữa, lại còn cho họ trông thấy anh đi cập với những cô nhân tình mới.


Chính tôi không biết có bao nhiêu người chết vì anh, nhưng chắc chắn có một thanh niên đã chết vì anh cướp vợ y. Thanh niên này, một thương gia giàu có, dạm hỏi một nữ sinh trường Sư Phạm cả mấy năm trời. Cô dâu, chú rể cũng bằng lòng nhau. Hai họ sửa soạn đám cưới linh đình lắm. Bất thình lình, đến hôm cưới, mất cô dâu, tìm đâu cũng không thấy. Mãi nửa tháng sau, mới có lá thư của cô dâu gửi về báo cho nhà trai biết “phi cao đẳng bất thành phu phụ”, cô không thể lấy một người lái buôn. Nếu hai họ bằng lòng hủy cuộc hôn nhân, cô sẽ về, bằng không cô sẽ tự tử vì “không thể lấy một người mà cô không yêu”. Sau một cuộc điều đình, cuộc hôn nhân hủy bỏ, cô dâu lại trở về. Từ đó, trên các đường phố Hà thành, ai cũng thấy cô đi cặp kè với Chiêu Dương.


Đau đớn vì bị chạm lòng tự ái, chàng thương gia nọ chán đời, uống hai ống thuốc ngủ tự vẫn, trước sự thản nhiên của cô nữ sinh trường Sư Phạm và Chiêu Dương. Họ chung sống với nhau như không có gì xảy ra. Một năm sau, họ sinh được một đứa con gái nhưng cũng từ lúc đứa con gái ấy ra đời thì Chiêu Dương chán vợ, bỏ đi hoang. Người vợ đem con về ở với mẹ đẻ ít lâu, lấy chồng khác, nhưng sau không hiểu mèo mỡ với một sinh viên thương mại ra sao, bị chồng giết trong một phòng ngủ ở đường Hàng Nâu.


Sau vụ này, tôi tức giận Chiêu Dương, tôi tức giận Chiêu Dương không để đâu cho hết. Tôi gắt:


– Anh là người có học, anh có biết làm như thế là tội lỗi không? Hơn nữa, anh đã từng đi tu, hẳn anh biết làm tội thì phải đền tội, nếu không ở kiếp này thì lúc chết xuống địa ngục cũng bị trầm luân, khổ ải.


Chiêu Dương cười sằng sặc:


– Anh mà cũng nói chuyện địa ngục, thiên đường hay sao? Tôi tưởng để cho tôi nói thì đúng hơn. Này, anh bạn, tôi nói thực: chính vì tôi không tin có địa ngục, thiên đường cho nên tôi mới thành một thầy tu xuất như anh thấy. Không. Tôi thực tế hơn ai hết. Sống được bao nhiêu là lãi. Khôn thì ăn người, dại thì người ăn. Được ngày nào, ta triệt để hưởng lạc ngày đó, nằm xuống, buông xuôi hai tay, muôn chung nghìn tứ cũng là không. Đấy, anh xem có biết bao nhiêu người làm nên đỉnh đàng to tát, thu bạc vàng cả nước vào tay, mà đến lúc chết có mang theo được gì.


Tôi hỏi anh: đâu là thiên lý? Người làm tội ác tầy trời sống phây phây, người làm ăn lương thiện thì cực khổ. Thế là có trời ư? Những chuyện tiền kiếp, luân hồi, báo ân, báo oán, tôi cho là láo toét. Tôi mong chết trước anh. Nếu được thế, nếu người chết vẫn có thể cảm thông được với người sống, tôi sẽ hiện về báo cho anh biết là tôi nghĩ đúng: Không có thiên đường, không có địa ngục, không có gì hết, chết là hết, thế thôi.


Biết là có khuyên răn, tranh luận đến mấy đi nữa cũng vô ích, tôi chào thua. Từ đó, đoạn giao với Chiêu Dương. Đúng thế, không có cách gì cải hóa được người vô đạo ấy. Theo dõi y, về sau tôi lại thấy y dính dấp vào một vụ đê hèn khác: lần này y ăn cắp cả tiền lẫn tình của một quả phụ tàn tật.


Có một bà kia lấy chồng, nhưng ăn ở với nhau được ít lâu thì cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt, bà ta ly dị, lấy một ông bác sĩ già, có làm hôn thú hẳn hòi. Hai vợ chồng này, lúc còn là nhân nghì nhân ngãi yêu thương nhau lắm, nhưng đến khi chung sống với nhau lại luôn luôn bất hòa. Vợ thì đổ cho chồng có vợ lẽ con thêm, chồng lại bảo vợ bạc bài, đĩ thõa, không có ngày nào không có xô xát trong gia đình. Thế rồi một hôm kia, uất ức không chịu được, người chồng đổ cả một ấm nước sôi vào vợ. Chở đi nhà thương chữa trị cả mấy tháng trời, mới hết, nhưng người đàn bà ấy, do đó, bị hư cả người từ mặt cho đến ngực. Người chồng bị kết án tám năm tù ở. Vào Chí Hòa ít lâu, ông ta được đi Côn Đảo. Ra ngoài đó, không hiểu ân oán giang hồ ra sao, ông bị các tay anh chị đánh bị thương, chở về đến Sài Gòn thì chết.


(còn tiếp)


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học, 2002.


www.trieuxuan.info







[1]    Tức sơ mi ngắn tay (BT).




[2]    Pourboire.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Anh Nhoàng - Triệu Văn Đồi 07.07.2017
Thần sông - Trịnh Bích Ngân 30.06.2017
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
Nghĩa địa bên sông Chanh - Ngọc Toàn 07.06.2017
Hoa khôi xứ Mường - Ngọc Toàn 01.06.2017
Ông chéo ngà, Bà rách tai - Ngọc Toàn 01.06.2017
Kẻ vô ơn - Ngọc Toàn 01.06.2017
Đầu Phạm Nhan - Ngọc Toàn 01.06.2017
Rắn hổ mang chúa - Ngọc Toàn 01.06.2017
xem thêm »