tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20019856
Truyện ngắn
21.01.2013
Vũ Bằng
Bàn tay khô trả thù (tiếp và hết)

Tôi nói:


– Người có bàn tay này nhất định phải mạnh lắm.


Ông Hai trả lời, từ tốn:


– Cố nhiên. Y mạnh như con cọp. Nhưng tôi còn mạnh hơn y. Tuy nhiên, tôi vẫn không tin tôi. Lúc nào tôi cũng tin là y chết rồi, nhưng biết đâu bàn tay y vẫn cứ có thể làm dữ được cho nên tôi phải đánh xích sắt xích nó lại cho yên lòng.


Tôi nhìn ông Hai cười mỉm, vì tôi cho là ông... đùa dai. Tôi hỏi:


– Không. Tôi chịu thua rồi. Quả là ông có một tưởng tượng phong phú. Ngày trước, lúc còn ở Hà Nội, tôi chơi non bộ và cây kiểng, tôi gắn những cái cầu, cái miếu, cái tháp, mấy ông lão ngồi đánh cờ trên đỉnh núi và tưởng tượng đó là Đế Thích đánh cờ với bạn lúc vừa vượt cây cầu Lưu Địa, trước khi thành tiên. Lại có người treo một cái lồng chim ở vườn kiểng, mở cửa lồng ra, trong không có con chim nào cả và họ tưởng tượng mình là ông tổ của tự do, đã thả con chim nuôi trong lồng ra cho nó tìm về cội... Tưởng tượng như thế lắm lúc cũng có ý nghĩa hay, tô điểm cho cuộc đời thêm đẹp, thêm ý vị. Nhưng... nhưng tưởng tượng rằng một bàn tay khô, một bàn tay đã chết queo rồi mà còn chạy trốn được, tụt từ trên tường xuống đất để xê dịch đi chỗ khác thì quả là tưởng tượng ấy vượt hẳn mức bình thường. Không, ai chẳng biết bàn tay ấy có chân đâu mà đi được, mà chạy được – nhất là lại là một bàn tay khô, một bàn tay đã chết. Thế mà đem xích lại! Mà xích bằng xích sắt! Có lẽ vì sợ xích bằng dây nhợ, dây thừng thì nó giựt đứt mất chăng? Hay là bàn tay này đã thành tinh rồi, đêm đêm nó biến ra ma quỷ, đi hút máu người để đến sáng lại trở về ngủ ở trên tường? Cho nên về vấn đề an ninh xã hội, ông phải xích nó bằng xích sắt cho nó không thể trốn đi đâu, vì lẽ xích này đã được luyện phép mầu, cầm chân ma quỷ lại như chỉ ngũ sắc của các thầy phù thủy?


Ông Hai Vinh gật đầu, uống một hớp rượu, không cười, nhưng nhìn vào mắt tôi một giây lâu, nghiêm sắc mặt lại, bảo:


– Ông cũng tin những chuyện ma quỷ à? Ông cũng nghe nói đến những sợi chỉ ngũ sắc có tính cách giữ tà ma quỷ quái lại, không cho lởn vởn đó đây để nhiễu hại người ta? Thú thực với ông: tất cả những chuyện ấy, tôi không tin là có, nhưng bảo là không tin hẳn thì cũng không đúng lắm. Từ nhỏ cho đến bây giờ, và rồi đây cả đến lúc tôi chết, tôi vẫn nghi nghi ngờ ngờ không biết thực hư ra thế nào. Tôi cho rằng khoa học phủ nhận tà ma, quỷ quái, linh hồn, tiền kiếp, phủ nhận những chuyện báo ân, báo oán, chẳng qua chỉ là vì khoa học chưa tìm ra được lẽ huyền bí của đời, vội kết luận đó là dị đoan, mê tín, để tự mình đánh lừa mình đấy thôi.


Nhưng tự đánh lừa mình mãi, đâu có được! Ngay bây giờ ở Đông cũng như ở Tây, ở Âu cũng như ở Mỹ, có biết bao nhà thông thái đã phải nhận rằng thế giới chưa chắc đã không có quỷ, có ma, có luân hồi tiền kiếp... Có người lại quả quyết có ma, có quỷ, có phép mầu mà người ta không lý giải được, hơn thế tôi có đọc một số báo “Je sais tout” trong đó có ba luật sư và một nhà văn danh tiếng nhất quyết người ta đã chụp được hình ma và có rất nhiều đồ vật như ly, chén, chai, lọ, bàn ghế ở trong những căn nhà nào đó tự động xê dịch từ chỗ này đến chỗ kia, từ căn này sang căn khác.


Bây giờ, nếu tôi bảo rằng tôi sợ cái bàn tay khô này xê dịch được, tôi thiết nghĩ đó cũng không phải là một lời nói vô lý hay điên khùng! Huống chi chính tôi lại biết chắc là nó tự xê dịch được. Tôi xích nó lại như thế, tưởng cũng chỉ là một cách đề phòng cẩn thận mà thôi.


– Ông nói nghe dễ sợ. Tự ông biết chắc là bàn tay khô này xê dịch được?


Mặt ông Hai Vinh nghiêm nghị hơn một chút. Ông nhấn mạnh từng chữ ông nói để cho biết là ông không giỡn:


– Phải, tôi nói để ông bạn biết, “nó” cứ tìm cách trốn chạy hoài, nhưng “nó” muốn làm cách gì cũng không thoát khỏi tay tôi. Cái xích sắt này cần thiết lắm.


 


Không. Đến như thế thì quá lắm. Tuy nhiên, mới quen nhau, tôi không dám nói điều gì thất thố, sợ làm phật ý Hai Vinh. Tôi chỉ nhìn vào mắt ông nửa giây rồi tự hỏi: “Hay là y điên? Chớ có ai lại đùa dai một cách vô duyên đến thế bao giờ!?”


Ghét nhất là nói như thế, mặt ông ta vẫn cứ trân trân ra cái vẻ nghiêm nghị, đứng đắn, không hề nhếch mép ra cười một lúc nào.


Tôi quay lại, ngồi xuống ghế, uống rượu, thỉnh thoảng lại liếc trộm Hai Vinh. Bấy giờ, ông đã treo mấy cái ná lên tường rồi, còn hai cây kiếm ông tra vào vỏ, để lên trên mặt tủ. Cây súng săn dựa vào một góc tường. Tôi nói chuyện về săn bắn. Ông nói:


– Săn bằng súng, thực ra tôi không mấy thú. Tôi chịu người Thượng nghĩ ra cái ná, tập quen tay bắn trúng hơn, mà tương đối không tốn mấy như bắn bằng đạn. Ông bạn có bắn ná không nhỉ? Bắn chim, bắn thú nhỏ, dùng cái đinh dài chừng hai ba đốt ngón tay, con chim, con thú chết, mình lại thu hồi cái đinh lại để dùng lần khác. Còn bắn thú lớn hơn thời dùng tên. Mà muốn săn người, bắn cho nó chết, tôi nghĩ không hay gì hơn là dùng tên tẩm thuốc độc, bắn trúng một cái, thịt loét dần ra, thuốc độc thấm vào máu, đố ai sống nổi.


Trông thấy võ khí của ông treo la liệt trong nhà và nghe ông nói chuyện săn bắn một cách say sưa, tin tưởng, tôi có cảm giác ông là một tay chơi bây giờ đã “tu tỉnh”, nhưng nếu cần thì vẫn đủ ngón để đối phó với bất cứ ai “chơi” mình. Mà dường như có kẻ vẫn định “chơi” ông thì phải, vì tôi cảm thấy rằng mặc dầu ông bình tĩnh và ăn nói khoan thai, từ tốn, ông vẫn thỉnh thoảng tỏ ra hốt hoảng và có vẻ như sống trong một nỗi phập phồng lo ngại cái gì.


Sau cuộc hội kiến đó, tôi còn đi lại thăm ông nhiều lần nữa. Anh em mỗi ngày mỗi thân với nhau hơn. Qua nhiều buổi chuyện trò, tôi dần dần biết đại khái về đời ông hơn một chút – tuy ông không hề nói thẳng ra với tôi bao giờ. Xếp gọn lại những tình tiết nghe được bận này, bận khác rồi dựa vào đó mà suy đoán, bố cục và tưởng tượng thêm, tôi có cảm tưởng ông ta đã có một thời kỳ sống ở Sài Gòn ăn chơi huy hoắc.


Ấy là thời kỳ của các hoa khôi như “cô Ba con thầy thông Chánh”, đẹp không ai bì kịp, mà sau này người chép sách phải bịa xuống một câu “tóc dài chấm gót, bới ba vòng một ngọn, mươn mướt và thơm nức dầu dừa mới thắng, đẹp không vì son phấn giả tạo, đẹp đến nỗi Nhà Nước in hình vào con tem Nhà Thư Giây Thép, ngoài ra lại có một tiệm buôn xà bông xin phép họa hình làm mẫu rao hàng “xà bông cô Ba”. Đó cũng là thời kỳ của cô Ba Trà, Tư Nhị, Sáu Hương, Hai Thời v.v... đua nhau bán dang thuyền quyên, báo hại Bạch công tử, Hắc công tử Bạc Liêu, công tử Cầu Ngang (Trà Vinh) kình nhau phá nhà của cha mẹ để lại... Đó cũng là thời kỳ của các công tử, tiểu thư con nhà giàu có, chiều chiều lượn đảo trên các đường phố, hết chợ Bến Thành đến Catinat, trên xe Delage mui trần, tài xế vận y phục nhà có dấu hiệu, hay xe Huê Kỳ “cắt chỉ” mới trong hãng lấy ra buổi sớm, lên Thủ Đức ăn nem hoặc đến tắm suối Xuân Trường.


Tôi tưởng tượng ông Hai Vinh là một thứ công tử loại đó, không giàu như Bạch công tử, Hắc công tử, nhưng cũng là loại ăn chơi phá sản, có nhiều vợ, nhiều mèo và chưa biết chừng trong số lại có một hoa khôi... Không biết với người vợ nào, ông đã có một đứa con trai rất xinh xẻo, rất khôn lanh mà ông quý mến, tâng tiu hết sức.


Nhưng cũng như tất cả những người có tài có sắc, phàm được cái này thì thiệt cái kia, được cái tài thì thua cái mệnh, ông Hai đương sống một cuộc đời vui tươi, đầy đủ thì một hôm đứa con trai đau nặng, đông y bác sĩ chữa cách nào cũng không lành. Phần nhiều ông đông y cho là bệnh cổ, bệnh lại trong tứ chứng nan y, còn Tây y thì hạ một chữ “ung thư máu”. Không lẽ ngồi trông con chết, ông đành phải nghe theo lời mẹ nó cầu cứu đến một thầy mo ở trên một cái đồi nhỏ trên đường đi lên Ban Mê Thuột. Có tiếng là thầy hay, học được ở Sông Mao nhiều phép lạ, ông thầy ấy không chịu đi đâu xa. Vì thương con, người mẹ phải ẵm con lặn lội đến tận am của ông thầy nhờ chữa trị. Nhưng vì bịnh của đứa trẻ khá trầm trọng, không thể ngày một ngày hai hết được, đứa bé và mẹ nó phải ở lại am của thầy để tiện bề thuốc thang. Dăm ba bữa, thầy Hai lại đi xe lên thăm vợ con, mang theo tiền hay quà cáp. Như thế, được ít lâu. Bịnh đứa bé thuyên giảm thực.


Mừng quá, ông Hai khuyên vợ ở lại với con để nhờ thầy chữa trị cho thật hết. Trong khi đó, yên tâm hơn, Hai Vinh đánh thín câu, bài chún cả ngày, thét rồi có khi cả tuần không ra thăm vợ. Thế rồi một hôm kia, sực nhớ đến vợ con, thầy tạm gác công việc ra thăm thì cả người mẹ, đứa con lẫn ông thầy ngải đã đi đâu mất hút. Hỏi thăm hàng xóm thì họ bảo là bọn đó đi Sông Mao lấy ngải. Có người lại bảo họ đi Cửa Việt, thẳng lên Thành Cổ để cho đứa trẻ hứng gió vì lúc ấy là mùa gió thổi, mà ai lại còn không biết ở miền Trung cái gió này lạ lắm, thổi cứ ù ù, không khí dồn tụ lại thành những nếp trắng lờ lờ luôn luôn di động.


Mặc dầu sợ cái gió này hết sức, ông Hai cũng ra Trung tìm vợ và đi khắp đó thì đây, nhưng hết ngày ấy sang tháng khác, không thấy vợ con đâu hết. Đến cầu ga sông Thạch Hãn, có người ngỏ ý ngờ rằng ông thầy đã dùng ngải yêu quyến rũ vợ ông rồi vì say mê y quá một hôm người đàn bà ấy quên mất cả con, để cho gió cuốn nó đi xuống chân cầu Thạch Hãn, chìm vào trong những gò bụi, những bãi sình đầy lau lách và bèo Nhựt bổn.


Ấy là tôi suy diễn và đoán phỏng chuyện đời ông Hai Vinh như thế, qua những mẩu chuyện tâm tình khảng tảng của ông nói với tôi những khi đối diện đàm tâm. Suy đoán và xây dựng câu chuyện thế thôi, chớ tuyệt nhiên tôi không dám hỏi kỹ ông Hai Vinh bao giờ.


Về sau, tôi đi lại nhà ông nhiều bận, gần như một cặp bạn thân. Ông có vẻ không vui mạnh như trước. Trong thời kỳ này, ông uống rượu nhiều hơn. Một đêm khuya, ông hơi say, nói chuyện tâm sự thủ thỉ, tôi thấy là câu chuyện tôi suy đoán về đời ông và chính chuyện đời ông không khác nhau mấy chút.


Thế rồi, một dạo sau, tôi không đến nữa, một phần vì công việc tổ chức lại tòa án khá bộn bề, mà phần khác cũng vì quanh đi quẩn lại, chuyện trò giữa ông Hai và tôi không có gì mới lạ, nói mãi cũng chán. Thêm một lẽ nữa là ít lâu sau, có nhiều hôm ngồi nói chuyện với nhau, ông thần người ra như thể không nghe thấy tôi nói, hơn nữa, như thể không nhìn thấy tôi. Có phải tại ông không được mạnh? Ông bịnh gì mà giấu tôi chăng? Tại ông chán tiếp tôi? Hay tâm tính ông thay đổi, đến cái mức dửng dưng với mọi sự ở đời?


 


Cuối năm ở Pleiku buồn không tả được. Trời suốt ngày âm u và ẩm sẫm hơi nước, thỉnh thoảng không đâu lại đổ một trận mưa lãng xẹt. Bình thường những ngày trời nắng, đất đã dơ vì cát đỏ và bụi bặm, gặp những tuần mưa như thế thì sình lầy gớm chết, không ai còn muốn bước chân ra ngoài. Những ngày như thế, chỉ có cách uống rượu giải khuây rồi nằm đọc sách báo nhảm nhí, ví có muốn đi tìm chỗ khiển hứng cũng không biết đâu mà tìm. Ấy là nói thí dụ thế thôi, chớ ở tỉnh nhỏ, chưa làm gì người ta đã biết cả rồi, tôi, nhân danh một thẩm phán, không đạo đức cũng phải làm ra mặt đạo đức, không dám chơi bời, nhậu nhẹt xô bồ mang tai mang tiếng.


Tính ra tôi lên Pleiku đã được ngót hai mươi bảy tháng, mà biết ông Hai Vinh cũng đã ngót một năm. Mặc dầu không gặp ông luôn, thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ đến ông. Mà nhớ đến ông việc đầu tiên là nhớ đến cái bàn tay khô treo trên tường, phải lấy xích sắt xích lại.


Chính vào một buổi sáng cuối năm, thức giấc nhưng vẫn nằm lười biếng ở trên giường suy nghĩ vẩn vơ như thế thì người giúp việc nhà vào, báo một tin bất ngờ. Người ấy vừa đem dĩa bánh mì vào cho tôi ăn sáng vừa nói:


– Chắc ông chưa biết...


– Gì vậy?


– Hồi bốn giờ sáng nay, ông Hai Vinh bị ám sát.


– Ám sát? Có thật không? Ai ám sát? Hay là ông ta tự tử?


– Không, đích là bị ám sát.


Tôi choàng dậy, không kịp ăn sáng, mặc quần áo đi vội vàng lại đường 2I vào nhà ông Hai. Lúc ấy, viên trưởng ty cảnh sát và hai nhân viên cùng một vài người trong ban mật vụ đã có mặt tại đó rồi. Thấy tôi, người bõ già của ông Hai đưa tôi vào cái gian tôi vẫn thường ngồi chơi: rồi chỉ cái thang lên gác. Phòng ngủ của ông Hai trên đó. Các nhân viên công lực đứng xem xét lố nhố. Đèn đuốc sáng trưng. Người bõ già của ông Hai không lên. Vừa đây, trông cặp mắt và nghe giọng nói ông ta, tôi cảm thấy là ông ta đã khóc chủ khá nhiều. Tuy nhiên, vì sự méo mó của nghề nghiệp, tôi ngờ ngay rằng ông ta bịp bợm. Rất có thể ông ta là thủ phạm cũng nên...


Ngay sau đó, ông bõ già này bị dẫn về ty cảnh sát rồi chuyển sang Tòa án để hỏi cung, nhưng trong gần một tuần, dở đủ các mánh ra để hỏi, người ta vẫn không thấy một tí, một ly chứng cớ gì tỏ ra rằng ông ta liên hệ đến vụ ám sát. Phải, ông ta có vẻ một người vô tội...


Cô bạn gái của Thanh Tâm Yến sốt ruột, không chịu được, kéo ghế ngồi sát lại anh Vượng và hỏi:


– Thế thủ phạm là ai? Ai giết Hai Vinh?


Anh Vượng cười, nói chọc:


– Làm gì nóng thế? Cứ thủng thẳng, việc đâu có đó mà!


– Phải gió anh này! Cứ ngâm mãi làm cho người ta sốt ruột.


Anh Vượng uống một hơi rượu mạnh, đáp:


– Cho đến tận nay, vẫn không ai biết thủ phạm là ai.


 


Anh Vượng thuật lại tình tiết câu chuyện tiếp theo:


– Lúc tôi lên đến trên gác là phòng ngủ của Hai Vinh, việc tôi nhận thấy đầu tiên là cửa trông xuống đường đóng kín và có chấn song sắt. Chấn song vẫn còn nguyên. Ở cầu thang đi lên, cũng có một cái cửa bằng gỗ, nhưng thấp mà không khóa, một người cao lớn có thể trèo qua, không có gì khó khăn. Giữa phòng là một cái giường trải chiếu, có dăng mùng. Bên cạnh giường là một bàn nhỏ và hai cái ghế thấp. Bên này giường, có một tủ áo lớn có gương. Lúc ấy, mùng vẫn còn buông rủ, nhưng một phía vén lên, gối ôm và gối nằm tụt xuống chân giường.


Xác ông Hai không ở trên giường nhưng nằm còng queo trên sàn gác, đầu gục xuống ngực mà hai tay thì co quắp lại. Áo lạnh của ông – lúc đó trời lạnh, thường thường đi ngủ người ta vẫn mặc áo lạnh chớ không cởi trần hay mặc áo thun như ở Sài Gòn – bị xé rách, một tay áo bị giựt tòi ra khỏi bàn tay. Một người, không hay biết gì về công cuộc điều tra, thoáng trông cũng nhận thấy là trước khi ông Hai chết, đã có một vụ xô xát gay go lắm.


Nhất định ông Hai Vinh bị bóp cổ. Mặt ông ta tím bầm, sưng lên một cách ghê tởm.


Nhìn đôi mắt lồi ra, mở trừng trừng, và cái miệng há hốc ra như đang kêu cứu, tôi có cảm tưởng là trong khi vật lộn với “thủ phạm”, ông ta sợ hãi hết sức. Nhìn kỹ hơn, tôi thấy ở trong miệng ông có một vật gì nho nhỏ. Còn cổ ông thì có máu khá nhiều rướm ra từ năm cái lỗ con sâu hoắm, y như thể bị đóng đinh hay bị đánh bằng một quả đấm ăng-lê có móc sắt.


Tôi đang cùng ông trưởng ty cảnh sát ghi nhận và bảo nhân viên ghi vào biên bản thì một ông y sĩ bước vào, tiến lại phía chúng tôi, hỏi chuyện. Đoạn, ông ta cúi xuống xem xét, một hồi lâu, đo từng vết thương, đo từng cái dấu tay trên xác chết, rồi đứng im lặng một hồi lâu.


Ông trưởng ty hỏi:


– Thế nào? Bác sĩ có ý kiến gì không?


Ông y sĩ gật đầu nhìn chúng tôi:


– Kỳ lạ! Ông này bị bóp cổ. Nhưng sao lại có vẻ như bị một cái thây ma, một bộ xương nó bóp cổ, chớ không phải là một người sống... thế là nghĩa là sao? Khó hiểu quá chừng!


Nghe thấy ông y sĩ tuyên bố như thế, tự nhiên tôi thấy như có ai trút một kí nước đá vào xương sống. Đến lúc đó, tôi mới chợt nhớ là lúc vào nhà ông Hai Vinh, đi qua phòng khách để lên trên gác, tôi quên không nhìn xem cái bàn tay khô treo trên tường. Bỏ mọi người đứng đó, tôi trèo vội hai bực thang một xuống nhà, ra phòng khách.


Bàn tay khô có xích sắt xích lại không còn đó nữa! Bàn tay khô biến đâu mất rồi! Chỉ còn cái xích sắt đứt tung ra!


Chưa bao giờ tôi lại sợ đến thế. Tôi nhớ lại trước đây, làm báo, tôi đã tường thuật một vụ phù thủy báo hại nhà nọ ở phố Hàng Điếu Hà Nội: người chết chôn rồi, tự nhiên có tiếng khóc ở trong hòm, mở ra thì có một bàn tay gỗ vọt ra ngoài, vả lia lịa vào mặt mũi con cháu của người chết. Sự thực, câu chuyện ấy tôi chỉ nghe mấy người thân thuật lại, chớ thật mắt tôi không hề thấy. Đằng này, cũng là chuyện một bàn tay, nhưng chuyện bàn tay này, chính tôi được thấy, chính tôi được biết, và bây giờ chính tôi lại thấy cái bàn tay biến mất, cái xích sắt vẫn tòn teng kia, mà ông Hai Vinh lại chết đơ ra đó, cổ có năm cái lỗ, mặt thì sưng lên, không sợ làm sao được?


Tôi run quá, không dám đứng ở phòng khách, tưởng chừng như đứng đó một giây nữa thì chính tôi cũng bị hại lây. Tôi vội trèo thật lẹ lên gác cho yên lòng. Và tôi thấy yên lòng thực. Tôi nói với ông y sĩ:


– Hình như ở trong miệng người chết có một cục gì. Ông có thấy không?


Ông trưởng ty và ông y sĩ cùng cúi xuống gần cái xác chết để coi.


Ông trưởng ty nói:


– Đúng đấy, có cái gì trong mồm người chết.


Ông y sĩ đeo kính lên mắt, lấy ở trong cái túi đựng dụng cụ một cái đèn bấm, chiếu vào mồm xác chết. Rồi la lên:


– Có một cục gì như miếng thịt.


Ông vừa nói vừa lấy tay rút cục đó ra. Bởi vì tôi đã biết và đã thấy bàn tay treo trên tường, tôi kêu:


– Một ngón tay! Đúng là một ngón tay!


Cục thịt đó, thực vậy, là một trong năm ngón của cái bàn tay khô treo trên tường “đã phá cái xích sắt ra để trốn”. Nói là một ngón tay, không đúng, phải nói là hai đốt ngón tay vì đến đây thì nó bị đứt rời ra, còn một đốt nữa thì không thấy. Hình như trước khi chết, ông Hai Vinh có cắn một ngón của cái bàn tay ấy, nhưng chỉ cắn được hai đốt, còn một đốt nữa, hình như vẫn còn dính ở bàn tay đó.


Xem xét cái xác chết và chụp hình đâu đó để cho vào biên bản xong xuôi, chúng tôi bắt đầu xem xét chỗ xảy ra án mạng. Hai chuyên viên nghiên cứu các tấm ván ở sàn gác, các cánh cửa, mái nhà; tuyệt nhiên không có gì khả nghi. Mái nhà không bị rỡ ngói, trần nhà không có vết bị cưa, không có cái cửa nào bị cạy. Mà con chó nằm trong cái cũi ở ngoài vườn, suốt đêm ấy, ngủ ngon, không sủa!


 


Đây là lời khai của người bõ già mà Tòa án đã thẩm vấn trong suốt một tuần:


“Vào khoảng hơn một tháng trở lại đây, ông chủ y có vẻ cáu kỉnh, quạu quọ.


Ông uống rượu nhiều hơn, thỉnh thoảng lại hỏi có người nào đến kiếm ông không hay lảng vảng ở chung quanh nhà ông không. Ông dặn y phải canh chừng cẩn thận, nhất là nếu ông đi khỏi thì không mở cửa cho ai vào – dù là bạn thân nào muốn vào ngồi chơi.


Còn một điều đặc biệt nữa từ lúc về đây, ông không nhận được bức thư nào, nhưng gần đây, ông nhận được tới ba, bốn lá viết trên giấy bản, đọc xong lá nào ông lại đốt liền, thành thử không biết thư của ai gửi và trong thư nói gì.


Thường thường, đọc xong những thư ấy, ông sầu rũ ra, có vẻ như lo sợ mà lại có vẻ như tức giận. Y có cảm tưởng có khi ông thức trắng đêm, đi đi lại lại trong nhà, nói một mình, và có một đêm, không hiểu thấy gì, ông lấy một cái roi gân bò ra đánh dữ dội cái bàn tay khô treo trên tường.


Có lẽ vì mất ngủ, ông sút ki-lô trông thấy. Nhiều đêm, ông đun nước, ăn bánh mì khô trên gác và trước khi đi nằm, bao giờ cũng tự tay khóa cửa rồi xem xét súng săn, kiếm và nỏ treo trên tường cẩn thận. Ông ngủ phập phồng, thỉnh thoảng lại thức giấc. Ấy là những lúc ông nằm mơ thấy cái gì sợ lắm. Ông dậy nói một mình, mà nói to, y như thể chửi nhau với một người nào vậy.


Đêm hôm xảy ra án mạng, ông không nói gì hết, mà cũng không đi đi lại lại trong nhà. Chỉ mãi vào khoảng hơn bốn giờ sáng, người bõ già của ông nghe thấy tiếng rên chạy lên gác coi thì thấy ông nằm đó thoi thóp thở. Không, y không ngờ ai cả. Y chẳng biết gì hết. Mà chủ y cũng không hề nói với y có ai thù ghét ông ta hay ông ta băn khoăn, lo sợ gì”.


 


Tuyệt nhiên không biết thủ phạm là ai. Hồ sơ bị “xếp” cho đến tận bây giờ.


Nhưng câu chuyện không phải đến thế mà hết đâu: Hồ sơ vụ ám sát ông Hoàng Thế Vinh bị xếp, nhưng đối với riêng tôi thì chưa xếp hẳn.


Bảy tháng sau khi ông Hai bị giết, có một đêm chưa ngủ hẳn mà cũng không thức hẳn, tôi thấy cái bàn tay khô hiện về rõ ràng trước mắt tôi, rồi vụt một cái bò như một con nhện khổng lồ lên các màn cửa nhà tôi, rồi chuyền sang các bức vách rồi leo lên trên trần nhà, các ngón tay đi như thể là chân cẳng vậy.


Tôi không ngủ được nữa. Ba giờ rưỡi sáng, tôi bật hết cả đèn ở trong nhà, pha nước uống, hút thuốc vặt cho đến sáng, trông cho mau đến tám giờ đi làm việc. Đến sở, vừa ngồi được một lát thì có người gác nhị tì xin vào. Y đưa cho tôi một cái túi. Mở ra coi thì là cái bàn tay khô – đúng là cái bàn tay khô ở nhà ông Hai Vinh, cái bàn tay khô đã bẻ xích sắt ra chính vào cái đêm ông Hai bị giết ở trong căn nhà đóng cửa kín bưng.


– Ủa, anh thấy cái này ở đâu vậy? Mà tại sao anh lại đem đến cho tôi?


– Thưa, tôi đem đến trình là vì tôi biết ông đang điều nghiên vụ này – vụ ám sát ông Hoàng Thế Vinh mà cái bàn tay khô được coi là một “nhân vật” quan trọng số một. Là một người gác nhị tì, tôi đã thấy bàn tay này tối qua, trên mộ của ông Hoàng Thế Vinh.


Tôi đặt cái bàn tay khô lên bàn, đeo kính, xem thật kỹ: ngón tay trỏ của bàn tay bị cụt mất hai đốt! Ờ, tại sao lại có chuyện quái đản, lạ kỳ như thế nhỉ!


Anh Vượng uống một hơi hết cả nửa ly rượu, ngửa mặt lên rồi nói một mình:


– Ấy đấy, thưa các anh em chị em, chuyện của tôi như thế đấy. Có sao nói vậy, không thêm, không bớt. Rất có thể trong các anh em đây có người cho là tôi bịa đặt, nhưng cái đó không cần. Tôi chỉ xin nói trong đời tôi có rất nhiều chuyện tôi kể rất thật thì thiên hạ cho là nói láo, trái lại, có nhiều chuyện khác tôi bịa ra thì thiên hạ lại cho là có thật!


 


Nghe xong câu chuyện anh Vượng kể, Thanh Tâm Yến và hai anh Hoàng và Lưu đồng kêu lên:


– Thế là hết à? Rồi chuyện nó phải ra sao chớ?


Anh Vượng lắc đầu:


– Nó chỉ có thế thôi. Chẳng ra sao cả.


Người bạn gái của Thanh Tâm Yến nói:


– Như thế, không thể được. Đêm nay tôi sẽ mất ngủ, nếu tôi không biết kết cục ra sao. Ít ra, với tư cách thẩm phán, anh cũng phải cho chúng tôi biết, theo ý anh, thực chất của câu chuyện ra thế nào.


– Phải đấy! Phải nói tại sao mới được. Chuyện ấy chính thực nó ra sao? Anh mà không nói rõ, chúng tôi băn khoăn quá.


Vượng mỉm cười, nói một cách nghiêm nghị:


– Tôi nghĩ thế nào ư? Tôi nghĩ một cách tầm thường lắm. Nhưng nói huỵch toẹt ý nghĩ của tôi ra, tôi e rằng sẽ làm cho những giấc mơ hãi hùng của anh chị em sẽ kém lý thú đi... Tôi nghĩ rằng...


– Thì cứ nói phăng ra. Trù trừ mãi, sốt ruột quá đi!


– Tôi nghĩ rằng người chủ của cái bàn tay khô, cái bàn tay bị ông Hai Vinh chém đứt, người chủ của cái bàn tay khô ấy có thể lăn ra chết ngay khi bị ông Hai Vinh hạ, nhưng sau đó tỉnh lại dần và... còn sống. Y theo dõi Hai Vinh. Biết đích chỗ ở rồi, y gửi thư đến đòi cái bàn tay, Hai Vinh không trả. Y bèn mang cái bàn tay còn lại đến tìm Hai Vinh để đòi, nhưng y đòi thế nào, làm thế nào vào được nhà Hai Vinh và giết Hai Vinh, tôi chịu, không thể biết. Đó là một thứ báo thù, trả oán mà người ta không thể nào hiểu nổi...


Anh Hoàng nói:


– Không có lý gì như thế được.


Cô bạn của Thanh Tâm Yến cũng tiếp:


– Ở trong, hẳn có một cái gì huyền bí lắm mà ta chưa hiểu đấy thôi.


Anh Vượng kêu một ly rượu mạnh nữa, cười rồi kết luận:


– Thì đấy, tôi đã yêu cầu các bạn đừng bắt tôi nói ý kiến của tôi mà! Tôi biết trước là không ai chấp nhận ý kiến của tôi. Nhưng – bởi vì bao giờ cũng có chữ nhưng – nhưng tôi chưa nói hết. Ý kiến tôi vừa đưa ra đó chỉ là ý kiến của một phần cá nhân tôi: ý kiến của một viên thẩm phán, vì những lý do bắt buộc cũng có mà vì lý do tiêm nhiễm phần nào khoa học mới cũng có, không cho phép thừa nhận những sự vật gì không rờ thấy, không trông thấy, hoặc không chứng giải được theo duy vật sử quan.


Ngoài cái “tôi thẩm phán” đó, ở trong tôi còn một cái “tôi” khác nữa: cái tôi tầm thường, cái tôi hủ lậu, cái tôi tự do tư tưởng, tự do suy xét. Theo cái “tôi” ấy, thì câu chuyện cái bàn tay khô của ông Hai biến mất lúc xảy ra án mạng mà ở trong miệng ông lại có hai đốt của cái bàn tay khô, câu chuyện có một nguồn gốc, một ý nghĩa khác hẳn mà khoa học không thể hay chưa thể lý giải nổi. Hẳn các bạn đã biết, những chuyện ma quỉ, người chết hiện hồn, mà báo oán, những chuyện chài, ếm, những chuyện bùa mê, thuốc lú, những chuyện phù thủy, âm binh... hiện giờ ở nhiều nước văn minh cũng chưa dám quyết là không có, còn cần phải cứu xét, nghiên cứu, học hỏi để tìm ra những câu trả lời dứt khoát, quyết định thực hư ra thế nào.


Đối với câu chuyện bàn tay khô rứt xích trả thù rồi hiện lên trước mắt tôi trong khi tôi nửa thức nửa ngủ, bò lổm ngổm trên màn cửa, trên tường, trên trần nhà như con nhện, tôi cũng nghĩ như vậy: đó là một sự việc mà óc ta không hiểu nổi hay chưa hiểu nổi đó thôi. Trong khi chưa hiểu, tôi ưa tưởng tượng tiếp câu chuyện đó như thế này:


Sau khi biết đích xác rằng vợ mình đã bị tên thầy mo kia cho ăn ngải yêu, bị lú lấp ruột gan, ôm con đi theo nó, Hai Vinh nhai một khối uất hận mông mênh. Ông bỏ cả công danh, sản nghiệp, đi lang thang khắp đó đây, hết lên núi lại xuống đèo, hết lên rừng lại xuống biển để kiếm cho được người vợ cũ và tìm biết đích xác xem đứa con trai duy nhất của mình có thật bị gió chướng cuốn đi chăng. Rồi mùa thu này tàn, mùa đông khác tiếp... ngày tháng cứ trôi. Tiền nong của Hai Vinh cạn dần, quần áo rách rưới, Hai Vinh làm đủ các nghề khổ cực để có phương tiện tìm vợ kiếm con, mà chẳng thấy vợ con đâu. Thế rồi biến chuyển chánh trị diễn ra liên tiếp trong suốt thời gian đó: Hai Vinh làm việc cho Pháp, làm hiến binh cho Nhật, làm việc cho Đồng Minh, mục đích không có gì khác hơn là để cho có phương tiện đi khắp mọi nơi, vào được thâm sơn cùng cốc mà không bị cơ quan hữu quyền làm khó dễ.


Có công lặn ngòi noi nước để kiếm tìm như thế thì tìm kiếm gì mà chẳng thấy? Một buổi chiều kia, đi với một lũ tay sai càn quét trong một khu hẻo lánh ở Đồng Tháp, Hai Vinh thấy một căn nhà sàn dựng trên một mỏm đất cằn cỗi, chung quanh toàn là dừa nước và thốt nốt.


Theo các tài liệu mà quân đội viễn chinh phát cho các nhân viên mỗi khi tiến vào các vùng hóc hiểm, Hai Vinh cho rằng đó là một vùng của người Miên và Chăm sanh sống, không có gì đặc biệt. Thoạt đầu, Hai Vinh và các đàn em đã tính không vào, nhưng không hiểu một sức mạnh gì lạ lắm cứ như đẩy Hai Vinh tiến mãi, tiến mãi... Và ông ta đã thấy trong nhà sàn, dưới ánh đuốc nhựa trám cháy leo lét ở bên trong bóng một người đàn bà Việt ăn mặc theo Chăm, nhưng đầu vẫn “bới ba vòng một ngọn” theo lối các hoa khôi thời trước ở Sài Gòn.


Quả đó là một sự run rủi kỳ lạ, không thể tưởng tượng được, chỉ có Trời xếp đặt được thôi: người đàn bà ấy quả là vợ cũ của Hai Vinh sống hẩm hút với tên phù thủy thầy mo – một tên phù thủy to lớn, vạm vỡ, mắt sáng quắc như mắt rắn.


Thế rồi câu chuyện xảy ra sao?


Khỏi nói, anh chị em cũng có thể tưởng tượng ra sao. Bao nhiêu năm trời lặn ngòi noi nước, lấy nước mắt làm canh, lấy uất hận làm cơm bữa, bây giờ được dịp tiết ra mới rùng rợn làm sao. Hai Vinh giết vợ rồi giục xác xuống sình lầy cho diều tha quạ mổ hay tha chết cho người đàn bà ấy vì lẽ y thị bị tên thầy mo làm ngải, chưa chắc y thị đã là người trắc nết, hư thân – cái đó không quan hệ lắm bằng cái việc ông phải đối phó với tên thầy mo cao lớn, hung dữ, khỏe mạnh như một tên tướng cướp. Bao nhiêu uất hận đúc lại, làm cho Hai Vinh khỏe lạ thường. Ông đuổi tất cả đàn em ra, quyết tâm tự một mình mình trả cái nợ máu với y. Dùng súng? Dùng gươm? Không. Hai Vinh nhất định phải tự tay mình giết thằng thầy mo. Ông xông vào nắm lấy nó, nhưng nhanh như cắt, nó đã lùi lại dùng một thế võ nửa Chăm nửa Tàu, xông lại đánh Hai Vinh trước. Hai Vinh ngã xuống như một trái cây chín rụng, chân vướng vào một lùm rễ cây. Tên thầy mo nhảy lại rút dao ra đâm, Hai Vinh xoay một vòng, rễ cây tung ra, tên thầy mo xấn lại nữa, Hai Vinh lộn ngược lại, đá một cái như trời giáng vào tay y. Con dao rớt ra, tên thầy mo loạng choạng, Hai Vinh thừa dịp nhảy lại, ghì chặt lấy eo ếch y, vặn đàng trước ra đàng sau, thừa dịp móc hai ngón tay vào mắt y. Tên thầy mo kêu lên như một con heo bị cắt tiết, ngã vật ra. Máu ở mắt y nhểu ra, Hai Vinh nhảy lên ngực y, chà đạp, vặn cổ y cho tới khi y chết cứng, không cục cựa được nữa mới thôi. Tuy nhiên, vẫn sợ y giả chết, Hai Vinh lừ mắt cho đàn em đem một cây kiếm lại và chặt một bàn tay y từ khuỷu ra. “Mày phải chết, mày phải chết. Mà dù mày có sống chăng nữa thì cũng như chết, chẳng làm ăn gì được nữa”. Nói xong, cho bàn tay vào một cái túi rết, cùng đàn em ra về. Xác tên thầy mo cứng đơ trong rừng tối âm u lạnh như địa ngục. Còn người vợ cũ? Thừa dịp Hai Vinh giao tranh với tên thầy mo, nàng đã chạy như điên vào trong bóng tối âm u. Không ai biết nàng còn sống hay đã sa xuống một khoảng sình lầy nào đó, chết không ai biết.


Trở lại câu chuyện bàn tay khô bẻ xích sắt và mấy bức thư viết trên giấy bản mà Hai Vinh nhận được trong những ngày cuối của ông ta. Theo tôi, như đã nói với các anh chị em khi nãy, tên thầy mo ấy không chết. Đến sáng, y tỉnh lại, kiếm lá cây và luyện thuốc chữa trị một thời gian thì lành vết thương, nhưng uất hận không sao lành được. Y cũng theo dõi Hai Vinh. Mấy bức thư viết trên giấy bản là thư của y gởi cho Vinh, trong đó dọa dẫm hay đòi lại bàn tay bị chặt, chẳng quan trọng gì cho lắm. Quan trọng là bàn tay khô xê dịch được và bàn tay ấy đã bóp cổ, đã cấu xé Hai Vinh bởi vì ta có thể chắc chắn là chính bàn tay ấy đã giết Hai Vinh, chớ không thể là tên thầy mo giết vì cửa ngõ y nguyên, trần nhà, tường vách không bị cạy, phá hay đục khoét.


Tại sao bàn tay khô ấy lại làm được công việc ghê gớm như vậy?


Các bạn còn nhớ mồ ma ông Hai Vinh lúc sống, ông có vài lần nói với tôi là bàn tay khô ấy xê dịch được. Tôi nhớ rành rẽ ông đã nói “... nó cứ tìm cách trốn chạy hoài... Cái xích sắt này cần thiết lắm”.


Thế mà rồi “nó” bẻ xích sắt, bóp cổ ông Vinh cho đến chết. Chắc có bạn tự hỏi như thế. Tôi cũng tự hỏi như thế và đây là những suy nghĩ của cái “tôi” tầm thường, hủ lậu, cái tôi tự do tin tưởng, tự do suy xét. Cách đây lâu lắm, trong Thư viện Hà Nội, tôi có đọc một cuốn sách nói về chài, ếm do ba giáo sư có tiếng viết (trong đó có giáo sư Huard là thầy học của nhiều bác sĩ danh tiếng của Việt Nam). Theo ba giáo sư đó, chài, ếm có thật vì các vị ấy đã được mắt thấy rõ ràng: một người bịnh vào nằm nhà thương, bụng mỗi ngày một phình lớn ra. Chích thuốc thì kim tiêm gãy, chiếu điện thì trong bụng bịnh nhân tối mò. Cả ba ông chủ trương phải mổ. Gia đình người bịnh không chịu, xin đem về, tìm thầy ngải chữa. Thầy ngải bảo là con bịnh bị chài, trong bụng có miếng da trâu. Chữa được ít lâu, miếng da trâu nhỏ chỉ bằng đồng trinh, thầy ngải lấy ra và bịnh nhân sống được. Đưa vào nhà thương chiếu điện lại thì bây giờ bụng người bịnh như thường, trông thấy bao tử, ruột gan như thường. Tôi chắc chắn có bạn sẽ hoài nghi cả ba giáo sư đó, cho là bịa, nhưng phần tôi thì tôi tin có thật.


Phải, nếu các thầy mo, thầy phù thủy, thầy ngải có thể “chài, ếm” được người ta thì tại sao tên thầy mo cụt một bàn tay của chúng ta lại không thể chỉ huy được cái bàn tay bị chặt? Dù sao, cái bàn tay ấy cũng vẫn là một phần trong thân thể y, tại sao các thầy phù thủy, thầy mo, thầy ngải, thầy chài chỉ huy được lòng, bụng, bao tử, gan, lá lách của người khác mà tên thầy mo cụt tay lại không lấy tinh thần, lấy sức mạnh kỳ bí của khối óc, lấy pháp thuật riêng ra mà ngồi một chỗ chỉ huy bàn tay khô của chính y ở nhà Hai Vinh? Nói như thế, chắc chắn lại có bạn cười chế nhạo tôi nữa, nhưng tôi không vì thế mà phải thay đổi ý kiến về những sự việc kỳ bí trong cuộc đời. Gần đây, tôi có đọc một cuốn sách của Anh Mỹ nói về thuật di chuyển (transportation): một người ngồi ở Úc có thể vận động trí óc sai khiến một người ở Anh, hơn thế, có thể đem một cái chìa khóa nhét vào trong túi một người đang ngủ ở Pháp, hơn thế nữa, vẫn với sức vận động của óc, người ta có thể đưa một cái tàu biển từ Mỹ qua Nam dương quần đảo. Tất cả những thí dụ liên quan đến việc lấy tinh thần di chuyển sự vật, theo tác giả cuốn sách, có thực chớ không phải là giả tưởng như truyện của Jules Verne. Ta vẫn có quyền không tin, nhưng ai cấm ta nghĩ rằng phù thủy, thầy mo, thầy ngải cao tay rất có thể sai khiến âm binh. Riêng với tên thầy mo cụt tay, tôi ngờ rằng y vận dụng óc liên lạc được với bàn tay khô bị chặt và bàn tay khô ấy xê dịch được chính là vì pháp thuật của y đã khiến được nó, buộc nó phải làm theo lịnh của y rồi bẻ xích mà trốn chạy. Nhưng bóp cổ Hai Vinh chết rồi, trốn chạy được rồi, tại sao cái bàn tay khô ấy lại không trở về với tên thầy mo, lại bò lên tường nhà tôi, rồi trèo lên nằm trên mả Hai Vinh, cụt mất hai đốt tay, thực quả tôi không hiểu.


Nói đến đây, anh Vượng cười khà:


         Không hiểu cũng không có gì lạ. Đấy, xem câu chuyện của anh Bảng vừa kể về cái tử thi ở hẻm chánh đường Lê Văn Duyệt, da mặt, quạt giấy, vỏ cau ăn trầu chôn dưới đất một trăm năm mươi năm vẫn còn nguyên, mà suốt cả thời gian Pháp đô hộ nước ta, sở Quản thủ pháp viện Bảo tàng Sài Gòn nghiên cứu, học hỏi mà vẫn không hiểu ra sao, thì cái cá nhân kém học của chúng ta lại đòi tìm ra chân lý về cái bàn tay khô, có lẽ, cũng là quá nhiều mặc cảm tự tôn và cũng hơi... bất tự tri một chút.


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học, 2002.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Anh Nhoàng - Triệu Văn Đồi 07.07.2017
Thần sông - Trịnh Bích Ngân 30.06.2017
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
Nghĩa địa bên sông Chanh - Ngọc Toàn 07.06.2017
Hoa khôi xứ Mường - Ngọc Toàn 01.06.2017
Ông chéo ngà, Bà rách tai - Ngọc Toàn 01.06.2017
Kẻ vô ơn - Ngọc Toàn 01.06.2017
Đầu Phạm Nhan - Ngọc Toàn 01.06.2017
Rắn hổ mang chúa - Ngọc Toàn 01.06.2017
xem thêm »