tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19376842
Truyện ngắn
20.01.2013
Vũ Bằng
Bàn tay khô trả thù (1)

Anh Miên đặt ly rượu xuống bàn, cười mỉm rồi nói:


– Truyện anh vừa kể có thật không? Tôi nghe có vẻ phi thường quá.


Anh Bảng bực, trả lời:


– Chẳng biết có thực hay không, nhưng tôi biết chắc những di tích chưa tiêu tan của người chết, trước ngày Giải phóng vào đây, còn lưu trữ ở sở Quản thủ pháp viện Bảo Tàng Sài Gòn và nhân chứng của vụ ấy là ông Vương Hồng Sển – hiện giờ còn sống [1] – có thể nói rõ từng chi tiết mà ông đã được thấy lúc đào cái mả ở làng Hòa Hưng.


Theo lời ông Vương Hồng Sển, ngày mười sáu, tháng mười, năm 1953, nhân danh Quản thủ pháp viện Bảo Tàng Sài Gòn, ông đã đến một ngõ hẻm chi nhánh đường Lê Văn Duyệt [2] dự một vụ bốc mả vô thừa nhận để cho người mới tậu được chỗ đất ấy xây nhà. Sau khi lấy búa thầu và đục thép cỡ lớn ra phá cái hòm bằng gỗ huỳnh đàn, người ta thấy thịt của xác chết đã rã ra thành đất đen, nhưng xương nguyên vẹn, thâm xì. Mà lạ nhất là trên trán người chết còn nguyên một mảnh da người nhìn thấy rõ cả lỗ chân lông, gò má đỏ hực như nhuộm máu, làm cho người ta có cảm giác là cái tử thi ấy, lúc chết, bị đánh hay bị tai nạn xe cộ.


Căn cứ vào chiếc quạt tre phất giấy dầu ở trong tay người chết (có chữ viết bằng chất phấn kim khí ghi chú), đề “Gia Khánh đệ... niên”, người ta phỏng định người này đã chết trên dưới một trăm năm mươi năm rồi, ấy thế mà cái quạt giấy vẫn còn nguyên vẹn. Bao nhiêu cái gì chôn với người chết mà ta cho là trường cửu như vàng xi, nút áo bạc thì hóa ra tro bụi; trái lại, những vật ta cho là mau mục, dễ tan rã, như vỏ cau ăn trầu, cái chiếu lót xác chết, giấy tiền vàng bạc thì lại còn nguyên vẹn, không hư không mục, trông gần như mới, cũng như cái khăn đỏ gói hai cây bút lông, cái đẫy trầu thêu kim tuyến và cau ăn trầu... Râu đen, tóc dài của xác chết cũng còn nguyên với hai hàm răng nhuộm đen, cũng như cái khăn quấn tay chít trên đầu và bao nhiêu áo quần, xé ra nghe vẫn còn kêu tèn tẹt như đồ mới.


Thế là nghĩa làm sao? Một trăm năm mươi năm rồi mà bao nhiêu thứ chôn dưới đất không hư mục là nghĩa làm sao?


Anh Bảng, nâng ly trà đường lên thuật lại câu chuyện và không đưa ra một ý kiến gì.


Sở dĩ câu chuyện này được đề cập trong buổi anh em họp mặt hôm nay là vì các báo xuất bản lúc sáng vừa loan tin có một đại úy chết trong một cái hoa ly ở Thủ Đức đến khi có ròi có bọ bò ra ngoài thì người ta mới biết. Vụ này làm cho dư luận ở Sài Gòn xôn xao. Nhưng tựu trung không ai hiểu ra thế nào. Cái chết của con người chứa đựng nhiều cái bí mật không có cách gì giải nổi. Mà nếu đã giải thích được, sao lại còn gọi là bí mật? Có người chết cả trăm năm mà thịt xương không rã, nhưng có người chết một tuần hay vài ngày thì thịt tiêu ra nước liền. Sau khi đọc tin ông đại úy chết ở Thủ Đức rồi, lại nghe thấy chuyện cái xác chết ở Hòa Hưng, không ai biết phải kết luận ra sao nữa.


Một nữ ký giả, tên Thanh Tâm Yến, cùng đến họp với mấy cô bạn khác, ngồi ở bàn bên, nghe thấy, tiến lại chỗ chúng tôi ngồi, treo hai cặp mắt nhìn lên môi anh Bảng. Nghe thấy Bảng nói một cách trang nghiêm với những danh từ trịnh trọng, cả hai cô cùng ớn lạnh nơi xương sống, rùng mình, có lúc nắm chặt lấy tay nhau, có vẻ như sợ cái thây ma ở cái hẻm Lê Văn Duyệt bất thần nhảy tới, vồ lấy họ. Nhưng các cô cũng như trẻ con: nghe chuyện ma người lớn kể lúc đêm hôm thì sợ toát mồ hôi lạnh nhưng lại cứ muốn nghe, càng nghe càng sợ, đến cái độ không ngủ được, dù đã lấy mền che kín cả chân lẫn đầu.


Thanh Tâm Yến, mặt tái như con gà bị cắt tiết, nhìn anh em và nói bằng một giọng hơi run:


– Mình sống đời thực tế, duy vật, khoa học, nhưng nghe cũng thấy lòng rờn rợn. Những chuyện như thế có tính cách “phi thường, quái đản”. Không bao giờ có thể lý giải được. Muôn đời nghìn kiếp sẽ vẫn là cái “bí mật” không ai hiểu nổi.


Anh Vượng, trước đây đã từng làm Chánh án ở Hà Nội, nhưng vì vào đây có dính líu vào một vụ đảo chánh, bị tội giam cầm bảy năm, phải lấy nghề viết để kiếm ăn, bấy giờ mới nhìn Thanh Tâm Yến [3] mà rằng:


– Muôn đời nghìn kiếp sẽ vẫn là bí mật không ai hiểu nổi. Nhưng danh từ “phi thường” mà chị vừa nói tới, hình như tôi không tán thành. Theo ý tôi, không có cái gì “phi thường” cả, chỉ có cái trí khôn của người ta thấp kém, u mê, ngu tối nên không lý giải được đấy thôi. Tôi nói thí dụ người chết ở Hòa Hưng mà anh Bảng vừa thuật đó là một tai nạn cố ý gây ra hay là một vụ án mạng gây ra vì thù oán. Chính nó có cái gì “phi thường” đâu, nhưng bởi vì cái tai nạn ấy, cái án mạng ấy, thực thi tài tình quá cho nên ta không thể lôi nó ra khỏi những trường hợp nan giải bao quanh nó.


Chính tôi đây lúc còn làm Chánh án ở Pleiku, lúc chưa xảy ra vụ đảo chánh mà tôi bị coi là một trong những người chủ chốt, tôi cũng đã gặp một vụ án khó khăn như thế, một vụ mà chị Thanh Tâm Yến gọi là “phi thường, quái đản”, mà chính đa số người dân tại đó lúc bấy giờ cũng cho là “phi thường, quái đản” như chị Thanh Tâm Yến vậy. Rốt cuộc, vụ này phải xếp lại, vì đúng như lời chị Yến vừa nói “nó là cả một bí mật không ai hiểu nổi”. Không hiểu được thì sao mà làm sáng tỏ được? Sao mà xử được?


Không cứ Thanh Tâm Yến và cô bạn, tất cả anh em có mặt ở đó lúc bấy giờ đều nhao lên:


– Thế thì còn đợi gì mà không kể cho anh em nghe. Kể đi! Và kể rất đầy đủ, nghe, anh Vượng!


Cuối đường Sương Nguyệt Anh, ở đầu một cái hẻm trông sang đường Phát Diệm và đường Ngô Tùng Châu [4], có một quán rượu ít người lui tới. Tại sao? Chúng tôi không hiểu. Cô chủ thì đẹp nõn nà, hầu bàn thì trẻ măng mà ăn nói lại lịch sự và có duyên đáo để, thêm vào đó đồ nhậu tốt mà rượu lại chính cống, không pha phách, giá lại tính phải chăng, cho đến bây giờ chúng tôi không hiểu tại sao lại vắng người lui tới.


Thấy phong cảnh và người ở đó hữu tình, chúng tôi ngày nào cũng đến họp mặt nhau ở đấy. Chúng tôi là những ký giả, văn nhân, viết lách cả đêm, đến sáng đi la cà ăn uống, nhậu nhẹt và trò chuyện với nhau để xả hơi: các ký giả thì trao đổi tin tức với nhau, các văn nhân thuật lại những cuốn sách đang thai nghén, hình thành những đoạn văn mới viết xong, còn thi sĩ thì ngâm thơ hoặc kể cho nhau nghe những giai thoại mới nhất trong tao đàn. Chẳng mấy lúc, quán nước “Hoa Sim” ở đường Sương Nguyệt Anh thành ra một thứ khách thính, ngày nào không đến họp mặt uống trà, cụng rượu với nhau thì buồn y như thể người ăn thuốc mà chưa được hút.


Ngày hội họp vắng nhất cũng có năm, sáu người. Hôm diễn ra câu chuyện kể trên kia, chúng tôi cả thảy có tám người ngồi uống rượu mạnh, thưởng thức lẩu lươn. Riêng có Bảng, Tam Ích, Lưu Phong không uống rượu bao giờ cũng chỉ kêu một ly trà Líp-tơn quậy với đường, vắt chanh, còn bao nhiêu người khác như Hoàng Ly, Anh Đô, Dê Húc Càn, Ông Chó, Trọng Miên thì đều sử dụng Uých-ky hay Mạc-ten.


Tám người có mặt hôm ấy ở quán “Hoa Sim” lúc anh Vượng nói chuyện đã bắt đầu chuếnh choáng. Vì thế, nghe thấy Vượng nói, họ nhao cả lên để giục “Kể đi và kể rất đầy đủ, nghe!”.


Anh Vượng cười một cách trịnh trọng, ra cái vẻ một ông cựu chánh án, nâng ly rượu một cách chậm rãi, rồi nói:


– Tôi xin các bạn một điều. Là nghe xong câu chuyện này, các bạn chớ nên cho rằng tôi đã tin ở trong đó có một cái gì “phi thường”. Tôi không tin dị đoan. Tôi cho rằng thay vì chữ “dị đoan”, ta phải dùng danh từ “bất khả giải” nghĩa là không thể hiểu được, không thể giải thích được. “Phi thường” là bất khả giải. Có lẽ nói như thế đúng hơn.


Dẫu sao, trong vụ mà tôi sắp thuật lại cho các bạn nghe đây, tôi không cảm xúc, tôi không kinh ngạc vì chính nội dung câu chuyện, nhưng tôi kinh ngạc, cảm xúc vì những sự kiện phụ, những trường hợp dính líu đến câu chuyện đó.


Thôi, nói đã dài dòng rồi. Bây giờ, xin đi thẳng vào câu chuyện.


 


Câu chuyện “Bàn tay khô trả thù” do anh Vượng thuật cho anh em nghe, đầu đuôi như thế này:


– Từ miền Bắc di cư vào đây, mấy năm đầu, tôi vẫn làm chánh án. Vì ở Sài Gòn và các tỉnh lân cận, các thẩm phán đông đủ, ai có chỗ của người ấy rồi, tôi ngồi chơi xơi nước ở Sài Gòn mất mấy tháng rồi mới được đi làm thẩm phán ở miền cao nguyên. Lúc ấy, Pleiku hãy còn hoang vu và lộn xộn lắm, chớ chưa đẹp đẽ, trù mật như bây giờ. Tòa án không có tới sáu nhân viên, tống thư văn không có, ông chánh án phải kiêm cả công việc của biện lý, hỏi cung. Hàng ngày, chúng tôi ngồi chơi, tán róc, có người lại bỏ cả sở vào rừng, tìm người Thượng nào đi săn được lộc nai thì mua rẻ gửi về Sài Gòn biếu bà con hay mua nấm, măng và thịt rừng làm món nhậu để chiều chiều quây quần lại với nhau đánh chén.


Có khi cả tuần mới có đôi ba việc thưa kiện nho nhỏ, như lấy nấm mà không trao muối, người ở vùng này đem bà con sang phá nhà của người ở vùng kia vì những chuyện thù hằn “lũy thế” mà chính những người đương sự cũng không biết rõ bắt đầu từ đâu và bắt đầu từ bao giờ.


Nhưng ở được một năm, tôi mới biết rằng những vụ trả thù ngầm, những vụ đổ máu để báo oán không tầm thường, lặt vặt như tôi vẫn tưởng. Họ giết nhau, thanh toán nhau kín nhẹm lạ lùng. Mà chính gia nhân của những người bị hại cũng lịm đi, không trình báo lôi thôi, cái đó mới thực lạ lùng hết sức.


Để ý thăm dò, trò chuyện với các ông già, bà cả địa phương, tôi biết rằng trong những vụ báo oán, trả thù đó, có những vụ rất lâm ly, có khi ai oán não nùng, có những vụ tàn ác không tưởng tượng được mà cũng có những vụ anh hùng lẫm liệt đáng cho người ta sợ hãi nhưng thán phục. Mỗi ngày, tôi lại được nghe thêm một ít chuyện trả thù rùng rợn mà óc người không thể quan niệm được, những vụ trả thù truyền kiếp lắng dịu đi trong một thời gian, nhưng tự nhiên không hiểu vì lẽ gì lại bộc phát, sôi động, những chuyện âm mưu ghê gớm, những kế hoạch hết sức hiểm độc, những chuyện ám sát ngầm, vứt xác xuống lòng khe, làm chết vài người trong nháy mắt, mà cũng có khi làm chết cả chục người mà tuyệt nhiên không tìm thấy xác ở đâu.


Thế rồi, ở được một năm rưỡi thì tại những miền rừng rú đèo heo, tôi chỉ nghe, thấy nói đến “nợ máu” – cái nợ buộc người biết suy nghĩ, có liêm sỉ, phải thanh toán bất cứ kẻ nào làm nhơ bẩn núi rừng, phải trả thù kẻ nào cậy thế “văn minh” khinh bỉ và nhục mạ họ, và nếu cần giết luôn cả con cháu những người ấy nữa. Thú thực, có một lúc thấy nói đến những vụ trả thù, giết chóc ghê gớm đó, tôi ngán ngẩm vô cùng và đã nhiều lần tôi đã tính vận động để được đổi về làm việc ở vùng xuôi, nhưng một mặt vì không có tiền để chạy chọt, mặt khác lại thiếu vây thiếu cánh, tôi đành chịu ở lại “đối phúc cùng trời”. Vả chăng, tôi cũng có điều an ủi và yên ổn lương tâm một chút là từ khi ra đời, tôi chưa làm việc gì bất nhân, bạc ác khả dĩ làm cho thần hờn, người oán. Mà lục lại gia phả ra coi thì ông cố nội, bà cố nội tôi đều là con nhà nho, tử tế, hiền lành cả, nếu không giúp đỡ được người khác thì thôi, chớ quả là chưa có hại bất cứ một người nào cả.


Suy tư như thế ngày ấy sang ngày khác, tôi tự thấy cũng yên tâm được phần nào.


Một bữa kia, nhân ngày nghỉ, tôi đi dọc tỉnh lỵ, đến gần ty cảnh sát thì có một người bạn làm trong ty cho biết khu phố chính đã vui hơn trước và mấy hôm nay, đã có mấy ông đến thuê căn phố lầu ở bìa hẻm 2I, tức là con đường đằng sau ty cảnh sát. Căn phố này bỏ vắng từ khi xảy ra vụ lộn xộn ở Sài Gòn, Ngô Đình Diệm dẹp Bình Xuyên. Ở Pleiku, không đổ máu. Nhưng vì chủ căn nhà nói trên, giữa lúc khói lửa bùng lên lại ở Sài Gòn và bị hại vì tên bay đạn lạc, nên căn nhà ấy bỏ phế, không ai ở. Cho đến mãi tận nay ông mới đến ở mới gặp em bà chủ nhà ở Sài Gòn, điều đình thuê lại và bắt đầu dọn đến ở từ ba ngày hôm nay. Vì là người lạ ở nơi khác tới, chưa ai biết ông ta tên là gì. Họ gọi ông là ông Hai. Ông Hai chở một xe bò đồ đạc tới căn nhà lầu ở bìa hẻm 2I. Không có vợ con, chỉ đem theo một bõ già đi theo ông từ Bắc vào – bởi vì ông Hai là người Bắc. Có người bảo rằng trước đó, ông ở Ban Mê Thuột làm đồn điền cà phê, nhưng vì lẽ gì không hiểu, ông bán đồn điền về tính chuyện lập nghiệp ở đây, làm cúp, trồng tỉa và chăn nuôi gì đó, chưa ai biết.


Có người cho rằng ông là một chánh khách chủ trương cơ hội, Tây ở thì theo Tây, Nhật đến thì theo Nhật, Tàu trở lại thì theo Tàu, bây giờ gặp lúc loạn ly cách mạng sợ bị thanh toán nên trốn lên để sống nốt những ngày tàn ở chỗ khỉ ho cò gáy.


Lại có người quả quyết đã biết ông từ khi ở miền Bắc và hồi đó ông làm hiến binh cho Nhật, mà Nhật lúc ấy ác có tiếng, ai lại còn không biết? Ruộng người ta đang cấy lúa họ bắt nhổ lúa đi để trồng đay, có những người đói quá phải ăn cắp cám dành cho ngựa Nhật để ăn, họ nhét cám vào trong bụng rồi chôn sống, còn ai lỡ lời xúc phạm đến Thiên Hoàng, họ lấy gươm tống vào mồm, thọc sâu xuống bao tử rồi rạch ra cho máu phun phì phì như vòi rồng.


Tất cả những lời đồn đại về ông Hai chỉ là “nghe đồn”, tuyệt nhiên không có gì làm chứng. Ai cũng nghe nhưng không có ai tin. Một người nói:


– Thôi đi, xin các ông các bà chớ có đề cao quá nhân vật ấy làm gì. Theo tôi, đó chỉ là một gián điệp của Đồng minh, lên ở trên này để lấy tin tức cung cấp cho quân Đồng minh đổ bộ lên Việt Nam, đuổi quân đội Thiên Hoàng về nước.


 


Chẳng mấy lúc cả tỉnh lỵ Pleiku đều chú tâm đến nhân vật lạ kỳ này. Người quái quỷ gì mà lại sống một thân một mình với một bõ già, chẳng thấy thò mặt đi đâu bao giờ? Thế thì ông ta suốt đời sống độc thân hay đã có vợ rồi vợ chết, hay vợ bỏ nên chán ghét đàn bà, không chịu tục huyền?


Nói là ông ta không thò mặt ra ngoài, có lẽ không đúng lắm. Thỉnh thoảng, ông ta cũng nai nịt gọn gàng, cắp một cây súng vào rừng săn bắn, mà hình như ông cũng là một tay thiện xạ nên lần nào cũng có một xâu chim đem về. Có lần ông lại bắn được cả một con nai, làm thịt, đem biếu những người chung quanh đó, không hết, lại còn cho người bõ đem ra chợ bán. Duy có một điểm đặc biệt là ông ít nói và hình như không muốn nói chuyện cả với người quen, kẻ lạ. Ông chỉ quanh quanh quẩn quẩn ở trong nhà, chiều chiều lại tưới vào cái cây ở trong mảnh vườn nhỏ trước nhà, còn buổi sáng thì đều đều vào khoảng sáu giờ hơn một chút, ông lại đi mấy đường quyền ở trên góc sân, thỉnh thoảng lại múa kiếm vun vút, thỉnh thoảng lại hô lên những tiếng rởn ốc, kiểu lính Nhật ngày trước vẫn hô lúc xung phong trên chiến địa.


Mỗi ngày, thấy ông Hai kỳ bí, lạ lùng hơn, dân chúng trong vùng đặt ra nhiều giả thuyết về ông. Có người nói ông là “Việt Nam mới”, nghĩa là một thứ người Nhật sau khi thua trận đã hóa trang thành người Việt, đồng hóa với người Việt, để chờ một ngày kia gặp cơ hội thuận tiện thì tập hợp đồng bào của ông ta lại, chiếm cứ một vùng, xưng hùng xưng bá như kiểu sứ quân xưa. Có người cho rằng ông là một nhân vật cao cấp trong chánh phủ Bảo Đại, nhân khi thất thế, đã bỏ Bắc vào Nam vì sợ chánh phủ mới lên trả thù. Lại cũng có người quả quyết ông đã theo kháng chiến, lấy tiền của kháng chiến về thành làm kinh tài, nhưng bị bả phù hoa cám dỗ không trở ra nữa và lấy luôn số tiền cơ quan đã trao cho. Lại cũng có người cho rằng ông trốn tránh ở vùng sơn cùng thủy tận này sau khi đã can vào một vụ ám sát kinh hồn táng đởm. Ôi thôi, những chuyện đồn đại về ông Hai kể lại làm sao cho xiết, mà tin làm sao cho nổi?!


Nhân danh là một thẩm phán, có trách nhiệm về an ninh nhiều ít của cả vùng, tôi gặp riêng ông trưởng ty cảnh sát thảo luận với nhau kín đáo, tìm biết một vài chi tiết về nhân vật đó. Tuy nhiên, chúng tôi không thể biết gì hơn, một phần vì cả Pleiku không thấy rõ ông bao giờ, phần khác vì những cuộc binh biến kế tiếp nhau, đã làm mất hết cả những hồ sơ quan trọng, kể cả những bản sao căn cước. Chúng tôi đành phải áp dụng phương pháp cổ truyền của công an là cho người theo dõi ông Hai. Rút lại, sau hơn một tháng, nhân viên chỉ điểm cũng chẳng thấy điều gì mới lạ.


Một hôm, chúng tôi đành phải quyết định mời ông đến ty cảnh sát, yêu cầu ông, vì vấn đề thủ tục, khai vào một tờ giấy in sẵn, về họ hàng thân thích, nghề nghiệp của ông.


Tên: Hoàng Thế Vinh


Biệt hiệu: Ông Hai


Tuổi: 46


Nghề nghiệp: Thương gia


Họ hàng thân thích: Không có ai.


Nguyên quán: Thái Bình (Bắc Việt)


Di cư vào: Tháng chín 1954


Dựa vào tờ khai đó, chúng tôi gởi thư mật về Sài Gòn, tương đối còn đầy đủ hồ sơ (kèm thêm một tấm hình), thì ít lâu sau, biết rằng Hoàng Thế Vinh có một tên nữa là Yoshita trước đây đã làm hiến binh cho Nhật ở Ban Mê Thuột. Tài liệu của Sài Gòn còn cho biết thêm rằng, Hoàng Thế Vinh tức Yoshita còn dữ dằn hơn cả hiến binh Nhật nữa. Thấy nói Vinh dữ dằn như thế, tôi nẩy ra một ý kiến là thừa một cơ hội nào đó, kiếm gặp ông ta để hiểu biết về ông ta thêm chút nữa.


Tôi chờ đợi mãi mới gặp một cơ hội tốt. Nhân thấy ông hay đi bắn ở gần Suối Bạc, một hôm tôi cũng vác súng vào vùng đó. May sao hôm ấy tôi lại bắn được bốn, năm con sảnh và gà gô ở dưới mắt ông Hai Vinh. Tôi cười, lễ phép đến trước ông, đưa ông coi mấy con chim thoi thóp và xin ông vui lòng nhận một cặp sảnh “để làm duyên tao ngộ”.


Phải nói rằng, mặt đối mặt với ông lần đầu, tôi ngạc nhiên hết sức, vì con người mà Sài Gòn ghi là “dữ dằn, độc ác hơn cả hiến binh Nhật” đứng trước tôi, lại có vẻ hiền lành, tử tế và nói cười duyên dáng lạ thường. Ông ta nhỏ con, tóc hớt cua, mặt no tròn, nhưng nhìn đôi vai, cái cổ và hai cánh tay rắn chắc ai cũng có thể nhận ngay ông thuộc vào cái hạng không có mỡ, chỉ có gân và bắp thịt, dai sức, rất mạnh mà lanh như một con beo. Ông nói chậm rãi, từ tốn, như đắn đo từng chữ. Tôi không thấy ghét ông chút nào. Tôi coi ông cũng như tất cả những người khác mà tôi đã gặp.


Trong vòng một tháng, chúng tôi trò chuyện với nhau năm, sáu lần.


 


Thế rồi, một buổi chiều kia, đi coi chiếu bóng về qua nhà ông ta, tôi thấy ông ngồi trên ghế vắt chân chữ ngũ, hút thuốc lá phì phèo. Tôi cúi đầu chào. Ông giơ tay, vẫy tôi lại và mời tôi vào trong nhà “uống một cái gì mạnh mạnh”. Không đợi cho ông phải kèo nài, tôi đẩy cửa bước vào nhà luôn.


Nhà ông trang trí đơn giản, nhưng đẹp mà nhã lắm. Ở cái đất Pleiku, mà tủ rượu có tới bốn năm thứ cũ của Pháp, Anh để lại, cứ kể đã là sang, nhưng tôi ưa cách xử thế tự nhiên, lịch sự của ông còn hơn cả rượu. Ông mời tôi ngồi một cách trịnh trọng nhưng không vì thế mà kém thân mật và hết lời ca ngợi Pleiku. Sài Gòn nóng và đông đảo quá, Dalat, Ban Mê Thuột và Pleiku hợp với ông hơn. Tôi hỏi:


– Ông đã ở mấy nơi đó rồi?


– Còn chỗ nào mà tôi chưa ở, thưa ông. Chính thực ra, tôi bỏ quê hương vào đây từ lúc chưa có chợ Bến Thành, chỗ xây nhà thương Chợ Quán bây giờ hãy còn là làng mạc hoang vu kêu là “Phú hội thôn”.


– Ồ, thế ra ông đã vào đây lâu lắm rồi sao?


– Tôi vào từ lúc mới ba tuổi mà! Tính ra đến nay trên dưới được hơn bốn mươi năm, nhưng tôi không ở liên tục. Tôi ở Nam rồi lại ra Bắc, ra Bắc rồi lại vào Nam, đi Trung rồi lại ra Bắc một thời gian rồi tôi lại vào đây. Lúc ấy, đã làm gì có “Pointe des blagueurs”? Ở đó, chỉ có một cái cột cờ, cho nên mới gọi là “Cột cờ Thủ ngữ”. Trên chót ngọn cờ, người Pháp treo ám ngữ, ban đêm đốt một ngọn đèn để báo hiệu cho tàu bè đi lại trên sông Sài Gòn. Còn cái chỗ Thư viện Quốc Gia thì ngày trước là sở Ngân Khố và nhà Bưu Điện... Ối, đất nước đổi thay choành choạch, nói sao cho xiết. Chính tôi cũng đã lên voi xuống chó nhiều rồi, nhưng biết làm sao được, hở ông? Phần số nó xui cho mình vất vả, đành phải chịu...


Tôi gạn hỏi một cách lễ phép về sự sống của ông, về dự tính làm ăn của ông khi dời về đây. Ông cười mà đáp:


– Trời sinh voi sinh cỏ. Thế nào mà chẳng sống được? Có khác là sống phong lưu hay thiếu thốn. Nhưng dù sao, ai cũng chỉ đến một ngày hai bữa... Cái thân làm tội cái đời... Phải không, ông bạn? Hà hà...


Tôi trở lại chuyện săn bắn. Ông nói một cách say sưa về những vụ đi săn trước đây ở Dalat, Ban Mê Thuột, Rừng Sác, Đồng Tháp Mười, Takeo, Battambang... đội đèn đi bắn hoẵng, cọp, khỉ đột, cá sấu...


Tôi nói:


– Thú thực với ông bạn, tôi không dám liều như vậy. Tôi chỉ dám bắn tằng tằng thôi. Những con thú ông bạn vừa nói dữ lắm, bắn không giỏi, chúng quần cho phải chết!


Ông Hai Vinh cười:


– Đúng. Chúng dữ lắm. Nhưng đến bây giờ, ngồi kiểm điểm và cân nhắc lại, tôi thấy con người mới thực là dữ nhất.


Nói đến đấy, ông cười lớn, cười một cách hồn nhiên và thành thật, tiếp:


– Dữ lắm. Chính tôi cũng đã từng đi săn người rồi. Có nhiều người dữ hơn cả beo, cọp, mình không cao tay, phải chết. Làm thế nào khác được? Luật đời vẫn vậy: mạnh được, yếu thua.


Kế đó, ông nói về các kiểu súng săn, súng lục. Ông bảo:


– Bây giờ, chúng là đồ quốc cấm chớ ngày trước, tôi dùng thường lắm. Bắn ra tiếng có, bắn không ra tiếng cũng có. Hiện, ở trong nhà tôi chỉ có hai khẩu súng săn và mấy cái ná bắn tên của đồng bào Thượng. Với lại hai cây kiếm này.


Phòng khách của ông – chỗ chúng tôi uống rượu và trò chuyện – quét vôi xanh và căng màn màu tím sậm. Trên tường, có treo ba cái gùi lớn, nhỏ khác nhau. Ở ngay chỗ cửa ăn thông với cái thang lên gác, có đặt một bàn thờ Bạch Hổ, mắc hai ngọn đèn đỏ rực như lửa chiếu vào bức tranh vẽ con cọp trắng, hai mắt to và sáng quắc như mắt con cọp thật.


Tuy nhiên, ban thờ ấy không làm cho tôi chú ý nhiều. Tôi chú ý hơn đến một vật treo trên tường, ngay ở phía trên ban thờ. Trong ánh sáng của ngọn đèn ban thờ chiếu lên, thoạt tiên tôi tưởng đó là cái mặt hổ phù bằng gốm mà các nhà giàu ở Sài Gòn vẫn treo để trang trí ngoài sân hay trước cửa. Nhưng không phải. Tự nhiên, tôi bị vật đó ám ảnh. Tôi cố nhìn kỹ hơn. Vẫn không trông ra cái gì. Xin lỗi, tôi đứng lên, bước lại gần để coi.


Thì ra là một bàn tay, một bàn tay người! Một bàn tay người, đã khô rồi, da dẻ thâm xịt lại, nổi gân, còn nguyên đủ móng tay vàng khè, một bàn tay có vẻ như bị chặt từ khuỷu ra, chặt bằng một đồ vật gì sắc bén lắm. Nhìn kỹ thì có những đốm đen – chắc chắn là máu đặc lại, để lâu ngày thành ra một thứ đất.


Thú thực, trên đường đời, tôi đã gặp lắm người kỳ lạ sưu tầm những đồ vật quái quỷ. Có người chơi đầu lâu, sọ khỉ, đầu trâu, đầu bò, đầu rắn, đầu beo, có người ngâm kỳ nhông, kỳ đà, tắc kè, rắn, rít, thuộc đi rồi nhồi trấu vào trong để bày chơi, lại có người đặt ở giữa nhà một bàn thờ thắp đèn tỏ tỏ, mờ mờ, thờ một con tê giác, một con cù lần, một con cá sấu, một con vượn đuôi dài lê thê...


Nhưng chơi một bàn tay khô còn dính máu đã khô cứng, treo lên tường, ở ngay chỗ ngồi chơi, rồi vừa uống rượu vừa ngắm cái bàn tay khô ấy – thật quả tôi chưa thấy ai loạn óc mà chơi lạ kỳ như vậy!


Lập tức tôi cảm giác đây là một nhà phù thủy dùng bàn tay khô này sai âm binh như ta vẫn thấy tả trong những chuyện hoang đường quái đản, hay ít ra đây cũng là nhà của một tên ăn trộm ban ngày sống rất đàng hoàng nhưng đêm đến lại thay hình đổi dạng đi đào tường khoét ngách. Là vì, theo truyền thuyết, những tên bất lương sống về nghề đạo chích vẫn thường đi đào mả người chết, lấy một bàn tay người đàn ông chết về thờ. Rồi mỗi tối, trước khi đi hành nghề, tên trộm đó lễ cái bàn tay ấy, bàn tay sẽ xoay đi xoay lại một hồi lâu rồi đứng lại, bàn tay ngừng phía nào tức là hướng ấy tốt, tên trộm cứ việc theo đường đó mà đi, có nhiều phần chắc chắn sẽ làm ăn khá.


Óc tôi rối mù lên. Tôi không còn biết ông Hai thuộc hạng người gì và ông treo bàn tay ấy là để chơi, trang trí cửa nhà cho ngộ hay là ông thờ bàn tay ấy như người Mường, người Mán thờ ma xó hay nhà chiêm tinh thờ thần Vishnu có con rắn quấn vào mình... Mà biết đâu đây lại không phải là bàn tay của một người mà trước đây, lúc còn làm hiến binh cho Nhật, ông đã chặt đứt rời ra, nhưng về sau, vì hối hận, ăn năn sao đó, ông lượm về ướp thuốc rồi treo lên tường để hàng ngày trông thấy mà sám hối tội ác do mình đã tạo ra?


Nghĩ lan man như thế một hồi lâu, tôi cầm ly rượu uống một hơi cho hăng, nhưng vẫn cứ thấy rét từ trong bụng rét ra. Rồi tưởng tượng thấy bàn tay khô tự nhiên động đậy. Trời! Chơi cái trò gì quái ác đến thế thì thôi! Tuy nhiên, sợ thì sợ, băn khoăn thì băn khoăn, tôi vẫn không dám mở miệng hỏi chủ nhân tại sao lại chơi như thế – cái bàn tay khô ấy có nghĩa gì? Tại sao, vì có gì, trong trường hợp nào ông ta lại có cái bàn tay khô ấy?


Muốn tự an ủi, tôi cho rằng đây là một thứ đồ vật làm bằng mủ dùng treo chơi trong nhà, như ta chơi mặt nạ hay làm bằng sành, bằng sứ, như kiểu mấy chữ nho “Phúc, Lộc, Thọ”, hoặc là đồ bằng bột, tráng men, như kiểu những cái đầu đàn bà, con gái mà ta vẫn thấy treo ở các tiệm buôn đường Lê Lợi, Tự Do...


Tôi nói:


– Tài! Tài thật! Họ làm khéo quá. Trông y như thật.


Ông Hai Vinh trừng mắt, nhìn tôi:


– Ủa, ông nói gì? Ông tưởng đây là bàn tay giả hay sao?


– Chớ gì!


– Đâu có! Bàn tay thật đấy. Bàn tay của người thật đấy! Vệt máu là thật đấy.


– Trời đất ơi, ông Hai chơi cái gì lạ vậy? Mà lại còn cái gì tòn teng đây?


Tôi nhìn kỹ hơn nữa. Quả là ông Hai không giỡn. Đó là một bàn tay người thật. Nhưng kỳ lạ hơn là ở chung quanh cổ tay ấy lại có một cái xích sắt rất lớn chằng lấy, hai đầu xích dính vào hai cái bù-loong đóng rất chặt vào hai cái tắc-qua bằng sắt.


Tôi tiếp:


– Tôi chịu! Tại sao ông bạn lại chơi kỳ cục thế này?


Ông Vinh lặng lẽ trả lời:


– Có gì lạ đâu! Đó là bàn tay kẻ thù thân mến nhất của tôi đấy, ông bạn à. Tôi đem nó từ Ban Mê Thuột về. Bàn tay bị chặt bằng một lưỡi kiếm đứt rất gọn, đem ngâm nước muối, rồi lại ngâm phoóc môn [5] rồi phơi nắng cả mấy tuần. Ồ, hay lắm, tốt lắm.


– Tốt cái gì chẳng thấy đâu, riêng tôi trông ghê quá.


– Người ta chơi nhiều thứ ghê hơn nhiều. Tôi chơi cái bàn tay khô: thú lắm, nhất là khi uống một vài chén, ngà ngà say.


Tôi lấy ngón tay khẽ rờ vào cái bàn tay bị xích ở trên tường. Nhất định người có bàn tay này phải cao lớn lắm, bởi vì nó lớn hơn hẳn bàn tay người thường. Năm ngón dài thòng, khô đét lại, nhưng vẫn hằn lên những đường gân rất bự, có một hai chỗ lại trầy mất cả da. Cái bàn tay nhìn mà sởn ốc, nhìn mà ghê tởm. Cái bàn tay nứt nẻ, trầy trụa... Tự nhiên tôi nghĩ ngay đến một vụ trả thù nào đó của những người sống ở trên núi, ven rừng, một vụ trả thù nào đó của những người dã man, khát máu.


(còn tiếp)


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học, 2002.


www.trieuxuan.info







[1]    Lúc tác giả đang viết truyện.




[2]    Đường Lê Văn Duyệt từ ngày 14-8-1975 đổi tên là đường Cách Mạng Tháng Tám (BT).




[3]    Vì một lý do dễ hiểu, các tên phụ nữ ở đây phải thay đổi. Tên các bạn văn nhân ký giả nam, đa số ghi đúng, nhưng cũng có vài trường hợp phải giấu, vì có lời yêu cầu trước.




[4] Đường Phát Diệm, từ ngày 4-4-1985 đổi là đường Trần Đình Xu. Đường Ngô Tùng Châu, từ ngày 4-4-1985 đổi là đường Lê Thị Riêng. (BT).




[5]    formol: một thứ nước khử trùng.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (3, tiếp và hết) - Khái Hưng 26.05.2017
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (2) - Khái Hưng 26.05.2017
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (1) - Khái Hưng 26.05.2017
Nỗi niềm gối trắng - Dạ Ngân 25.05.2017
Cây đòn nóc và chiếc bình vôi - Triệu Văn Đồi 18.05.2017
Biển vỡ - Triệu Văn Đồi 29.04.2017
Hạ bệ - Bình Nguyên Lộc 25.04.2017
Ba con cáo - Bình Nguyên Lộc 25.04.2017
Hai chị em/ Bức chân dung/ Nước mắt/ Bức phù điêu - Văn Biển 10.04.2017
Chuyện ga xép/ Huyền thoại cổ tích mất tăm - Văn Biển 10.04.2017
xem thêm »