tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19690178
Tiểu thuyết
19.01.2013
Hà Văn Thùy
Nguyễn Thị Lộ

Bọn người của cung Khánh Phương sau hơn nửa tháng bị giam giữ, ai cũng sợ mất vía, tưởng phen này không còn chỗ chôn. Chỉ cần chủ bị gán tội đại nghịch là hàng loạt người bị chết theo. Được thả về gặp lại nhau mọi người nước mắt ngắn nước mắt dài mừng khôn xiết kể. Ngô Tiệp dư tới điện Kinh Diên tạ ơn nhà vua. Nàng tới cổng, lính gác ngăn lại:


    - Bẩm nương nương, hoàng thượng đang bàn chuyện cơ mật, không cho ai vào!


    - Xin các người vào bẩm với hoàng thượng là ta xin vấn an người. Người lính gác đi vào, lát sau một công công bước ra:


    - Nô tài kính chào nương nương. Hoàng thượng có khẩu dụ nói rằng người không muốn gặp nương nương. Những gì cần nói người đã nói trong khẩu dụ, vậy xin nương nương hồi cung…


   Lủi thủi như chó bị cắt tai, nàng cúi đầu bước theo con đường mùa hè xanh rợp bóng cây, có hương sen ngan ngát. Cung nữ Xuân Trang lặng lẽ đi sau.


   Không được gặp mặt nhà vua, Ngô Tiệp dư lòng lo sợ vô hạn, nàng nghĩ rằng, tuy không truy cứu nhưng nhà vua vẫn nghi nàng ám hại thái tử, một cái án tử treo lơ lửng trên đầu mình. Một nỗi lo nữa cũng lớn không kém: kẻ nào hại mình đó, nay thấy mình yên lành trở về tất sẽ bày mưu khác. Mình ngoài sáng, họ trong tối làm sao mà đề phòng? Lo lắng, đau buồn khiến nàng bồn chồn ăn không ngon ngủ không yên. Xuân Trang nói với nàng:


      - Nương nương đừng nghĩ nhiều hóa quẩn. Phải thấy được như vầy là may rồi. Em tưởng đầu lìa khỏi cổ, chị em phải gặp nhau dưới suối vàng. Nhưng hoàng thượng lại không bắt tội, nương nương được trở về như trước còn em cũng được hầu hạ nương nương là phúc lớn rồi . Nương nương hãy tĩnh trí lại, cố ăn uống, thuốc thang, không chỉ vì sức khỏe nương nương mà còn vì cái thai trong bụng người…


    - Em nói phải, nhờ trời rồi tai qua nạn khỏi…


     Nói là nói vậy nhưng trong lòng nàng vẫn nơm nớp lo.


     Một buổi chiều, Xuân Trang chờ tới khi chỉ còn hai người trong phòng mới đưa cho Ngô thị phong thư niêm kín, phong bì không ghi người gửi cũng như người nhận. Cầm phong thư, nàng băn khoăn nỗi lo của con chim bị tên sợ cả cành cong, không biết lành hay dữ. “Ai đưa cho em?” nàng hỏi. “Một cung nữ trong cung Lễ nghi học sĩ kín đáo đưa cho em, bảo khi không có ai hãy đưa cho nương nương, dặn nương nương đọc xong phải đốt ngay.” Nghe đến Lễ nghi học sĩ, nàng thấy bình tâm trở lại, mở thư đọc: “Qua sự việc vừa rồi, thấy nương nương ở lại trong cung không ổn, thần đã bàn với hoàng thượng đưa nương nương đi trốn. Sáng mai nương nuơng cho người thân tín mang tư trang quần áo thật nhẹ nhàng tới chỗ hẹn đưa cho người mang thư này. Xem xong đốt ngay.” Đốt lá thư xong, nàng ngồi thừ người ra suy nghĩ. “Đúng như mình nghĩ. Trong cung bây giờ là miệng hùm hang sói không biết đâu mà lường. Trốn khỏi nơi đây là thượng sách. Nhưng một mình mình thân gái dặm trường lại bụng mang dạ chửa thì làm sao mà trốn? Có Lễ nghi học sĩ giúp cho thì yên tâm. Lâu nay, được nàng ưu ái dạy cho ngón đàn giọng hát rồi được nàng yêu thương, Ngô thị coi nàng như mẹ. Từ khi biết bà dan díu với hoàng thượng, nàng thực sự đau lòng, như bị mất đi một cái gì thiêng liêng. Không phải nàng ghen vì làm sao mà ghen trong cung với hàng trăm người con gái mà người nào thì cũng của nhà vua. Nhưng nàng muốn thấy bà trong hình ảnh đẹp, một người mười phân vẹn mười. Việc bà dan díu với nhà vua, có gì đó trái luân thường đạo lý. Bà còn lớn hơn tuổi mẹ hoàng thượng… Nàng không chịu được điều đó, nàng đau khổ thất vọng. Tuy vậy ở hoàn cảnh nàng, biết nói sao? Nhưng nay, trong cơn hoạn nạn này, nàng hiểu, chính bà đưa bàn tay cứu vớt mẹ con nàng. Đêm hôm đó nàng cho tư trang vào trong cái tay nải nhỏ, sáng ra đưa cho Xuân Trang: “Em đem cái này đến chỗ gặp người hôm qua, đưa cho người ta. Phải kín đáo, đừng để ai biết!”  Trở về, Xuân Trang nói với nàng: “Theo lời nương nương dặn, em đã trao tay nải cho người cung nữ hôm qua. Người đó dặn em nói lại với nương nương là vào giờ ngọ, nương nương ăn vận bình thường, đi một mình kín đáo đến cung Học sĩ, sẽ có người đón!” Y lời dặn, đầu giờ ngọ nàng ra khỏi cung, theo con đường liễu. Đi theo sau nàng là một cung nữ tin cẩn. Vừa tới cửa cung Học sĩ, liền có người đón dẫn nàng vào trong. Người cung nữ đi theo dừng lại nhìn xung quanh một lát rồi quay về.


    Người cung nữ dẫn Ngô thị vào một phòng vắng, nói: xin nương nương ngồi đợi một lát, bà tôi sẽ tới ngay. Nói xong cô đi ra, khép cửa lại phía sau. Lát sau, từ chiếc cửa phía trái, Thị Lộ bước ra, nghiêng mình chào. Khi cả hai yên vị, người hầu gái bưng ra một khay trà. Thị Lộ rót nước mời khách, nói:


    - Sự việc vừa qua rất nghiêm trọng. Mưu hại thái tử chẳng qua là cái cớ để hại mẹ con nương nương. Lần này nhờ từ tâm của hoàng thượng, nương nương tránh được tai nạn nhưng mưu hại chưa phải đã hết. Nếu còn ở trong cung, mối nguy sẽ khó lường, thần lĩnh ý thánh thượng, đưa nương nương lánh tới một nơi kín đáo. Nay thần thỉnh nương nương tới đây rồi chúng ta đi.


   - Tiệp dư xin đội ơn. Thấy người cùng thánh thượng lo cho như vậy là kế vạn toàn, nếu không, mấy hôm nay trong cung ta cứ nơm nớp lo, đến héo hon! Tiệp dư sẽ nghe theo chỉ bảo của người.


    Sang giờ mùi, Ngô thị lên kiệu từ trong nhà để kiệu. Kiệu được khênh ra sân, bà Lộ lên kiệu, xuất cung.


    Đến chùa Huy Văn, một vị hòa thượng đón họ tại cổng chùa, sau đó cổng được đóng lại, vị hòa thượng dẫn kiệu vào một góc khuất nẻo, sát bên một cái cửa. Thị Lộ xuống kiệu cùng với người đàn bà buông tấm vải màu nâu che kín người. Nhà sư dẫn hai người đi theo hành lang dài rồi ra khoảng vườn rộng. Ơ cuối khu vườn, trên bờ hồ là ngôi nhà ngói nhỏ thanh tịnh sạch sẽ. Gian ngoài kê chiếc bàn đặt sẵn ấm trà. Nhà sư nói:


      - Mời hai vị thí chủ an tọa, lát nữa hoà thượng trụ trì sẽ tới vấn an hai vị.


     Theo lối đi vỉa gạch từ chùa xuống, vị hòa thượng già bước vào, chắp tay trước ngực:


   - Nam mô a di đà Phật. Bần tăng xin kính chào nhị vị thí chủ. Hai người đứng dậy đáp lễ.


-                            -Nam mô a di đà Phật, chúng tôi xin kính chào trụ trì.


  Thị Lộ nói:


    - Thưa nương nương, đây là thầy Viên Giác chủ trì chùa Huy Văn, người tin cẩn. Quay sang hòa thượng, nàng tiếp, thưa thầy, theo hẹn trước với thầy, nay tôi đưa nữ thí chủ đây tới nương bóng Phật, mong nhà chùa hết lòng giúp đỡ.


  - Xin nhị vị thí chủ yên tâm. Chùa đây vốn là chỗ thân tình với quan Hành khiển. Bần tăng cũng được thư đại quan, nhờ lo việc trọng đại này. Về việc bảo mật, bần tăng xin lo chu tất. Chỉ muốn biết chỗ ở này có thuận tiện với các vị không?


    Tiệp Dư nói:


  - Thưa lão tăng, đương lúc khó mà được chỗ ở như thế này là may lắm rồi, chúng tôi không dám đòi hỏi gì hơn. Chúng tôi chỉ lo nhất là việc an ninh.


  - Điều này xin thí chủ yên tâm. Hòa thượng nói. Họ nhìn ra sân, hai người được dẫn đến, đó là cung nữ Xuân Trang và một thái giám trong cung Lễ nghi học sĩ được cử đi chăm sóc Tiệp dư. Họ đi theo đường khác nên đến sau.


    Căn dặn hai người tâm phúc ở lại trông coi săn sóc Ngô Tiệp dư, Thị Lộ chia tay nàng rồi chào hòa thượng Viên Giác ra về. Chiếc lá bồ đề khô đậu nhẹ xuống sân chùa vắng teo.


 


                                     *


                                 *       *


 


   Bước vào Đông cung, hoạn quan Đinh Thắng mặt tái mét, giọng lo lắng nói với Nguyễn phi:


    - Bẩm nương nương, nô tài không tìm được người đạo sĩ hôm nọ. Nô tài đến chỗ cũ bên hồ Thiền Quang thì thấy đạo quán đóng cửa. Hỏi thì người xung quanh nói là thày trò đạo sĩ đi khỏi năm sáu ngày rồi. Họ không biết là đi đâu ạ.


   - Vậy là khó rồi đó, tên đạo sĩ thấy động nên bỏ trốn. Nó trốn cũng là mối đe dọa không nhỏ!


    Hai người đang rì rầm thì Đinh Phúc bước vào:


   - Bẩm nương nương, trong cung Khánh Phương có tin là Ngô thị vì sợ tội nên bỏ trốn rồi ạ!


   - Bỏ trốn? Nguyễn phi hỏi lại.


   - Dạ thưa, đúng vậy, y thị sợ tội bỏ trốn…


   - Thôi được, trời cũng giúp ta một việc. Không khảo mà xưng, sợ tội bỏ trốn sẽ chẳng còn cơ hội trở lại. Phi quay lại nói với hai người:


    - Hai ông vẫn phải lo hai việc ấy: tìm tung tích tên đạo sĩ cùng tung tích Ngô thị. Nếu gặp, tốt nhất là khử chúng đi. Ngô thị giờ đã là kẻ có tội đào tẩu, nếu có chuyện chi với thị, chắc hoàng thượng cũng không bắt tội đâu. Nhưng nhớ là phải làm cho thật gọn gàng, tránh để lại dấu vết.


 


                                          


 


        


 


 


 


 


 


 


 


 


                       CHƯƠNG NĂM


 


   Lễ nghi học sĩ vào cung nay đã sang năm thứ tư. Được nhà vua trọng dụng, nàng đem hết tâm lực chỉnh đốn hậu cung. Ngoài những việc dạy cung nữ, nàng còn cho tìm những danh ca danh cầm của triều trước cùng những người có tài thanh luật khắp nơi về cung vừa dạy cung nữ vừa giúp nàng sưu tầm những bài hát, bản đàn, điệu múa trong dân gian để dần dần khôi phục nhạc múa cung đình. Nàng nhớ lại lời Nguyễn Trãi: “Trước đây ta không làm được nhạc cho nhà vua, chính vì thời cơ chưa chín. Nhà vua còn quá trẻ, thấy nói chế nhạc thì thích chứ chưa biết nhạc như thế nào và việc làm nhạc khó khăn ra sao. Ta cần một nền quốc nhạc tương xứng với văn hiến Đại Việt. Nhà vua thích một thứ đồ chơi. Do vậy một kẻ dốt nát và liều mạng như Lương Đăng được tin dùng. Nay đồ chơi ngài đã có. Nhưng tiếng dị nghị cũng nhiều. Dần dà nhà vua sẽ thấy ra cái sai của mình. Không được đụng đến cái vảy ngược của con rồng. Nàng tuyệt đối không được mảy may bóng gió chê nhạc của Lương Đăng mà việc phải làm bây giờ là chế ra thứ nhạc mới, hoàn hảo để dần dần thay cho âm nhạc hổ lốn của y. Để dạy cung nữ múa hát, nàng cho tìm những nhạc sư, danh ca danh cầm về cung. Trong số họ, nàng chọn những người tâm phúc, cùng họ bàn thảo để chế ra các loại nhạc. Ta đưa cho nàng những cuốn sách về nhạc từ nhà Chu đến nhà Đường để nàng tham khảo. Nhớ là chỉ tham khảo thôi bởi nhạc là hồn người. Lương Đăng chết ở chỗ, lúc thì bắt chước nhạc lễ của người Tàu, chỗ lại dùng nguyên xi nhạc thôn dã… Cả hai cách đều không ổn. Bắt chước ngoại bang thì bị ngoại lai, còn rập khuôn nhạc dân dã lại quá thấp, không xứng nhạc cung đình. Phải là sự hòa hợp, hòa hợp với lỗ tai với cái hồn người Việt, và vì là nhạc lễ, cũng không được quá nôm na mà phải nâng cao lên, uy nghiêm, trang trọng. Đây, ta nhớ tên vài nhạc sư, danh ca danh cầm, nàng cố tìm họ…”


     Theo danh sách của Nguyễn Trãi, nàng dò tìm từng người. Danh cầm họ Phạm, danh ca họ Đào là hai người nổi tiếng trong cung của Thuận tông nhà Trần, sau đó vào trong nhà của Hồ Nguyên Trừng. Khi nhà Hồ mất, họ lưu lạc trong dân gian bán dạo giọng ca, tiếng đàn độ nhật, sinh kế khó khăn. Khi được mời vào cung, họ mừng lắm, nhất là khi được biết bà Lễ nghi học sĩ, vợ quan Hành khiển Nguyễn Trãi chủ xướng công việc. Không còn phải lo đời sống, được trọng vọng và được làm công việc mình thích, ai cũng vui, nên ráng sức cống hiến đồng thời tiến cử những người quen biết. Khi nhân tài đã tạm đủ, nàng nói với họ: “Ngoài việc dạy cung nhân, bản quan còn muốn các vị bỏ tâm lực nghiên cứu xây dựng một đội nhã nhạc của cung đình, một ban ca vũ với âm nhạc xứng cùng tầm vóc Đại Việt, có thể làm vui lòng hoàng thượng và bá quan trong những dịp lễ hội. Trong các vị ở đây, có người thấu đáo nhạc luật thời Chu thời Hán, thời Đường. Có vị thông hiểu nhạc luật thời Lý Trần… Nay chúng ta không theo nhà nào mà góp cái hay của mọi nhà thành nhạc của Đại Việt thời Lê.” Nghe vậy, nhạc sư họ Phạm thưa:


     - Thưa Lễ nghi học sĩ, lời dạy của quan lớn chính hợp ý chúng tôi. Dạy cung nữ là một việc nhưng trong thâm tâm, chúng tôi muốn chung sức xây dựng nền âm nhạc của Đại Việt thời Lê ta. Những năm lưu lạc trong dân gian, chúng tôi tích cóp được nhiều điều bổ ích. Chúng tôi trộm nghĩ không bằng lòng lắm với lễ nhạc do quan Đô giám trung thừa Lương Đăng làm. Nay quan Học sĩ có chủ trương như vậy, chúng tôi rất mừng, nguyện sẽ hết lòng!


  - Cảm ơn các vị, Thị Lộ nói, chúng ta đồng lòng làm nhạc nhưng việc này ta làm một cách lặng lẽ, không nên ồn ào, e rằng có ai đó gây khó cho chúng ta, xin các vị lưu ý.


   Nhờ vào những người này, Thị Lộ đã dần dần chế ra nhã nhạc cung đình với những nhạc công, vũ công ưu tú. Một hôm nhạc sư họ Phạm nói: “Thưa Lễ nghi học sĩ, nương theo nhạc các thời trước, chúng tôi khôi phục điệu múa Chư hầu đến chầu.  Am nhạc hài hòa, trong sáng, những lối múa dịu dàng uyển chuyển. Có thể nói là ta đã nâng nghệ thuật của tiền nhân lên một bước. Tuy vậy chúng tôi còn có điều chưa toại lòng là chưa làm ra điệu vũ nhạc của riêng triều Lê ta. Vì vậy, chúng tôi đã bàn nhau làm một điệu vũ nhạc dựa trên tinh thần bài “Đại cáo bình Ngô” của quan lớn Hành khiển Lê Trãi, lấy tên là Bình Ngô phá trận. Đây là bản phác thảo của điệu vũ nhạc đó, xin đại quan đọc rồi cho chúng tôi những lời chỉ dạy.” “Cảm ơn, rất cảm ơn các vị có lòng nghĩ đến việc lớn của nước nhà. Tôi nghĩ rằng hoàng thượng sẽ rất mừng về việc này. Tôi tuy không thành thạo lắm về âm luật nhưng cũng cố gắng xem, rồi sau đó sẽ bàn kỹ với các vị. Sau khi chúng ta bàn bạc xong, tôi sẽ trình lên thánh thượng. Xin các vị suy nghĩ tiếp cho hoàn chỉnh thêm và có thể triển khai cho từng bài nhạc hay điệu múa cụ thể.” Nguyễn Thị Lộ đọc bản phác thảo. Sau khi nghiền ngẫm thật kỹ ý đồ của nhạc sư họ Phạm, nàng nói: “Phác thảo của các vị phần tráng thì được nhưng bi chưa đủ. Tôi biết các vị cũng hiểu điều này nhưng còn e dè, sợ rằng đưa phần bi nhiều sẽ xái. Điều này không lạ, cũng là suy nghĩ thường tình đẹp tốt phô ra, xấu xa đậy lại. Nhưng trong nghệ thuật lại không thể như vậy. Trong nghệ thuật cần sự tương phản, tương phản càng mạnh, hiệu quả càng cao. Theo tôi, phần nỗi đau khổ của dân ta dưới ách quân Minh cần tô đậm hơn. Phần Hội thề Lũng Nhai nên giảm bớt không khí phấn hứng, thể hiện nỗi phẫn uất mãnh liệt được kìm nén lại. Và không khí bi được đẩy tới tận cùng ở cảnh Lê Lai cứu chúa: sự bất lực đến đau đớn của Thái tổ cùng sự hy sinh bi tráng của Lê Lai. Cảnh Ai Chi Lăng như phác thảo là được: chiến công lừng lẫy với quân reo ngựa hý sĩ khí bừng bừng, đầu giặc bêu trên mũi dáo! Cảnh cuối Hội thề Đông Quan nên cho tưng bừng hơn, biến thành bài ca chiến thắng của hòa bình cùng lòng nhân ái…” “Quan lớn Lễ nghi học sĩ dạy rất phải, nhạc sư họ Phạm gật gật đầu xác nhận. Lời của quan lớn khiến chúng tôi nhìn rõ hơn vào chiều sâu của bản vũ nhạc. Quan lớn cũng giúp chúng tôi gỡ bỏ những e dè trong việc nói đến cái bi. Được quan lớn chỉ bảo, chắc chúng tôi tu chỉnh bản vũ nhạc tốt hơn nhiều.” Sau khi sửa chữa thật hoàn chỉnh, trong một đêm trăng thanh gió mát, sau khi đàn cho nhà vua nghe, Thị Lộ trình bày bản phác thảo điệu vũ nhạc Bình Ngô phá trận. Chưa bao giờ được nghe về một ý đồ làm nhạc hay đến vậy, Thái tông lặng đi mê mẩn rồi sôi nổi nói: “Hay, tuyệt hay! Nàng đã giúp ta một ý hay tuyệt. Lâu nay ta vẫn bâng khuâng thấy cần làm một cái gì đó nêu bật công lao của Tiên đế mà chưa biết làm sao. Nay nàng gợi cho ta ý thật hay! Đúng, phải có một bản nhạc, một điệu múa thể hiện được hết cái bi cái hùng của thời dựng nước. Nàng cho tập gấp đi!” Được thể, Thị Lộ khôn khéo đề nghị nhà vua đứng ra chủ trì việc tập vũ nhạc, nàng biến nó thành bản ứng chế của thiên tử. Thái tông rất vui lòng.


    Đêm mùng mười tháng Ba, sau kỳ thi Đình, lấy Nguyễn Trực đỗ trạng nguyên, Nguyễn Như Đỗ bảng nhãn và Lương Nhữ Hộc đỗ thám hoa cùng gần ba chục đồng tiến sĩ xuất thân, trong cung mở hội hoa đăng treo đèn kết hoa, mừng tân trạng nguyên tân tiến sĩ. Hôm đó các cung nữ góp vui bằng những lời ca, tiếng đàn được mọi người tán thưởng. Cuối cùng là đội nhã nhạc trình diễn mừng nhà vua, thần phi, thái tử, các quan cùng tân tiến sĩ bản vũ nhạc Bình Ngô phá trận do nhà vua ngự chế. Trong tiếng đàn tiếng địch tiếng chiêng tiếng trống khi lâm ly tha thiết lúc trầm hùng, đoàn vũ công múa những động tác lúc uyển chuyển lúc mãnh liệt tái hiện những năm tháng gian khổ hào hùng khiến những triều thần vốn là chiến binh năm xưa nghĩ về tuổi tráng niên oanh liệt của mình, nghĩ về đồng đội đã hy sinh, nhiều người cảm kích không cầm được nước mắt. “Đây mới là âm nhạc” Lễ bộ thượng thư Đào Công Soạn nói với quan Tham tri Nguyễn Truyền. “Đúng vậy, thưa quan lớn, đây mới đích thực là vũ nhạc trong triều. Chỉ tiếc rằng quan Hành khiển Nguyễn Trãi không có ở đây để thưởng thức thứ âm nhạc tuyệt vời này.”“Ngài không ở đây, quả là tiếc, bởi lẽ chính phu nhân ngài góp phần làm nên nhã nhạc này!” “Quan Lễ nghi học sĩ làm điều này cũng còn vì chúng ta nữa, phải không quan lớn?” “Vâng, đúng vậy, cũng còn vì chúng ta. Tiếc rằng ông Liễu không biết chuyện này. Không hiểu nay ông ấy sống chết ra sao?” “Đệ cũng thấy thương Nguyễn Liễu. Cũng vì phản đối lễ nhạc của Lương Đăng mà tí nữa mệnh chung!”


    Tiếng xì xào bàn tán của các quan viên đến tai Đô giám trung thừa Lương Đăng khiến hắn giận đến điên người. Hắn nghĩ: “Giỏi cho con đàn bà thối thây này. Dựa vào vai trò học sĩ lại được nhà vua yêu, ả không còn coi ai ra gì nữa.  Do thị gièm pha mà trọng thần tiên triều, quan Nhập nội thị trung Đình thượng hầu Lê Lễ ở tuổi gần tám chục bị giáng làm Thái tử thiếu bảo, khiến các cựu thần ê mặt, ai cũng bầm gan tím ruột mà chịu ngậm tăm. Mới đây thị lại cứu Tiệp dư khỏi tội voi giầy, khiến Thần phi phải ngậm bồ hòn làm ngọt, bây giờ lại dùng âm nhạc làm bẽ mặt ông mày. Được, đời còn dài. Ong sẽ cho mày chết không có chỗ chôn!” Nghĩ thế nhưng thâm tâm Lương Đăng rất sợ. Cái kim trong giẻ lâu ngày cũng lộ ra nữa là lễ nhạc luôn chiềng trước mọi người. Dần dà y cũng nhận ra rằng, lễ nhạc là chuyện hệ trọng, dục tốc bất đạt, không thể làm trong một sớm một chiều. Mình làm nhanh, được vua khen. Nhưng đúng đó là thứ văn bia, cái hay cái dở đập vào mắt mọi người sao chẳng có lời kia lời nọ. Vẫn biết, đó là ý của hoàng thượng, người đã khen thì người sẽ không bắt tội mình nhưng khi nhiều người chê thì nhà vua sẽ không tin mình nữa. Đấy là mối lo làm y khốn khổ. Có điều lâu nay y nghĩ, chê thì lạ gì? Bọn Nguyễn Trãi chả chê hoài chê hủy đó sao? Chê thì dễ nhưng anh có giỏi thì hãy làm đi?” Lâu nay y vẫn có ý ngầm thách thức. Nhưng bây giờ, không chỉ nói nữa mà thứ âm nhạc đó có rồi, lại có ngay trong cung, thành đội nhã nhạc của cung đình, Lương Đăng thấy mối đe dọa nguy hiểm đã tới. Một mối hận quá lớn y không chịu nổi.


     Quả như Nguyễn Trãi nói, nhà vua thích làm nhạc như đứa trẻ thích đồ chơi. Chỉ cần có thôi mà nào biết đâu giá trị của nó. Nhưng rồi khi  nghe trong triều những tiếng xì xào bàn tán chê lễ nhạc hổ lốn của Lương Đăng, người cũng rầu. Trong thâm tâm, nhà vua hối hận rằng mình đã nóng vội, không nghe lời Nguyễn Trãi. Nhưng sự đã rồi, ngài không muốn nói đến nữa nên ngài cũng buông trôi, không mấy tha thiết với nhạc lễ. Nay thấy trong cung rộn rã thứ nhạc trầm bổng du dương đem lại niềm vui cho mọi người, nhà vua rất mừng. Nhất là sau đêm nghe đội nhã nhạc trình diễn và được các quan khen ngợi, nhà vua hiểu ra thâm ý của Thị Lộ. Bằng hành động, bằng công việc làm ra thứ âm nhạc thực sự, nàng đã lặng lẽ giúp mình sửa những sai lầm. Nhà vua nói với nàng:


     - Trẫm cảm ơn nàng đem lại không khí vui vẻ thanh tao trong hậu cung của trẫm. Trẫm hiểu, nàng đã thầm lặng giúp trẫm xây dựng lễ nhạc mới. Trẫm thấy hối vì trước đây không nghe theo Lê Trãi, để Lương Đăng làm hỏng việc lớn. Trẫm càng cảm ơn khanh, không hề chê bai trẫm mà đi con đường riêng giúp trẫm nhận ra chỗ yếu của mình. Trẫm mong khanh cứ tiếp tục sử dụng tốt những nhân tài mà khanh chiêu tập được để giúp trẫm làm ra lễ nhạc thay cho nhạc của Lương Đăng!


   - Tạ ơn bệ hạ quá khen! Thần chỉ làm công việc được bệ hạ giao phó. Chính do bệ hạ ưu ái tin cậy mới được như vậy. Nhớ lại lời Nguyễn Trãi dặn khi người về triều làm giám khảo thi Hội, nàng nói tiếp : “Bẩm hoàng thượng, thiếp xin thỉnh giáo người một điều. Đó là việc thi chọn nhân tài nước ta đã làm từ thời Lý. Nay bệ hạ cho thành lệ ba năm một khoa là đưa sự đã có từ trước vào quy củ. Thế là việc hay. Nếu bệ hạ muốn đóng một cột mốc cho văn hiến Đại Việt, thiếp nghĩ, không gì hơn là từ khoa Nhâm Tuất này cho viết Văn bia tiến sĩ và đúc bia ghi tên các tiến sĩ đem đặt ở Văn Miếu.” “Nàng nói rõ hơn xem!” nhà vua tỏ ra chăm chú lắng nghe. “Hồi bệ hạ, sau chút dừng như suy nghĩ, nàng nói tiếp bằng giọng du dương, khoa cử ở nước ta có từ thời Lý. Từ đó tới nay có không ít trạng nguyên tiến sĩ ra đời làm rạng danh văn hiến Đại Việt. Mỗi khoa thi đều có xướng danh, đãi yến rồi vinh quy, rất long trọng. Nhưng sau đó thì sao? Sau đó là quên lãng, chỉ lưu trong sách sử, dân gian nào biết đấy là đâu bởi người xưa chưa kịp lập bia. Nếu từ khoa Nhâm Tuất năm nay bệ hạ làm được việc này: cho người viết Văn bia tiến sĩ khắc vào đá rồi khắc tên tuổi, quê quán từng vị tiến sĩ đỗ mỗi khoa vào một bia, đem trưng ở Văn Miếu thì  đấy chẳng những sẽ là bảng vàng bia đá muôn đời vinh danh các tiến sĩ mà cũng là bảng vàng bia đá ghi công bệ hạ khởi xướng việc lớn của Đại Việt vậy.” “Phải, phải lắm! Nàng đã gợi cho ta một ý rất hay! Tại sao một sự trọng đại như vậy mà mấy trăm năm nay chưa thời nào nghĩ tới nhỉ? Xây một ngôi đình một ngôi chùa người ta còn làm bia ghi tên người khởi xướng, người góp công góp của, vậy mà! Ta nghe nàng, sẽ cho viết văn bia khắc vào một tấm bia lớn để biểu dương việc tuyển chọn hiền tài. Tiếp đó khắc tên tiến sĩ đỗ mỗi khoa vào cùng một tấm. Trước tiên khắc tên tiến sĩ đỗ khoa này, sau đó có thời gian tra lại sử sách để khắc tên các tiến sĩ từ khoa đầu tiên tới nay…Hay hay tuyệt! Cảm ơn nàng, ái khanh của ta!”


 


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Thị Lộ. Tiểu thuyết lịch sử của Hà Văn Thùy. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.06.2017
Tom Jones đứa trẻ vô thừa nhận tập 1 - Henry Fielding 11.06.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 02.06.2017
Tôi kéo xe - Tam Lang Vũ Đình Chí 01.06.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 27.05.2017
Evghenhi Ônheghin - ALEKSANDR Sergeyevich Pushkin 15.05.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 11.05.2017
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 08.05.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 05.05.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
xem thêm »