tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18968561
01.12.2008
Hà Văn Thùy
Hành trình tìm lại cội nguồn (18)

TRAO ĐỔI VỚI PHÓ GIÁO SƯ HOÀNG XUÂN CHINH


Cảm ơn Phó giáo sư Hoàng Xuân Chinh đã đọc cuốn sách của tôi và cho những nhận xét chân thành. Là kẻ hậu sinh, tôi được thừa hưởng nhiều thành quả nghiên cứu từ Phó giáo sư cùng đông nghiệp của ông. Việc giới khảo cổ Việt Nam đi sâu nghiên cứu thời Hùng Vương, đưa thời đại này từ truyền thuyết trở thành chính sử là cống hiến lớn cho văn hóa dân tộc. Việc khẳng định nguồn gốc bản địa của văn hóa Sa Huỳnh cũng nói lên tiếng nói độc lập của giới khoa học nước nhà... Tuy nhiên, tôi vẫn có cảm tưởng rằng, những gì làm được chưa tương xứng với đòi hỏi của dân tộc. Và cũng có cảm nhận là về phương diện này, chúng ta chậm lụt so với thế giới.


Từ suy nghĩ thực lòng và trách nhiệm, tôi xin thưa lại đôi lời.


1. Về nguồn gốc và sự di cư của loài người.


Phó giáo sư viết: “Ngày nay tư liệu về cổ nhân cũng như khảo cổ đều cho thấy trên châu Âu, Nam Á, Đông Nam Á, Bắc Á đều phát hiện di cốt của cả một quá trình biến diễn từ Người vượn đứng thẳng (Homo erectus) qua Người hiện đại cũ (Homo sapiens) sang Người hiện đại mới (Homo sapiens sapiens). Những tư liệu đó cùng với tư liệu khảo cổ cho thấy ngay từ thời tối cổ cũng không hề có một dòng thiên di từ châu Phi qua Nam Á rồi sang Đông Nam Á, từ đây lại chuyển lên phía bắc. Có thể trước đây có một vài người theo thuyết một nguồn gốc nêu lên như vậy, nhưng những phát hiện ngày nay đã khác.”


Đúng là cho tới những năm 70 thế kỷ trước, khi thuyết Đa trung tâm thắng thế, ý tưởng trên thống trị cộng đồng khoa học thế giới. Thuyết này cho rằng: con người sinh ra tại nhiều nơi trên trái đất rồi tuần tự tiến hóa trở thành người hiện đại. Nhưng tới cuối thê kỷ, với những phát kiến mới nhờ công nghệ di truyền, đại đa số trong cộng đồng khoa học rời bỏ thuyềt trên, ủng hộ thuyết Một trung tâm. Thuyết này cho rằng: Loài người được sinh ra ở Đông Phi, khoảng 160.000 năm trước, từ người đàn ông duy nhất và 3 người đàn bà, cho ra 3 đại chủng: da đen, da trắng, da vàng.


Những công trình nghiên cứu của Specer Wells vẽ ra Bản đồ thiên di cùa loài người (Human migrations) cho thấy, khoảng 85.000 năm trước có cuộc di cư của người hiện đại từ châu Phi sang Trung Đông rồi lan ra khắp thế giới. Khoảng 70.000 năm trước, có một nhóm từ Trung Đông đi về hướng đông, băng qua Ấn Độ, Pakistan, theo bờ biển Nam Á tới Việt Nam.


Song song với S. Wells, những nhà di truyền Trung Quốc và Mỹ trong Dự án Đa dạng di truyển người Trung Quốc (Chinese Human Genome Diversity Project) do Y. Chu dẫn đầu, phát hiện con đường phương nam của người hiện đại tới Việt Nam sau đó lên Trung Quốc rồi vượt eo Bering sang châu Mỹ. Công trình này được công bố ngày 29. 9. 1998 đã gây chấn động giới khoa học Mỹ. Từ đó tới nay chưa có ai phản bác.


Cũng những năm 70 thế kỷ trước, thịnh hành quan điểm cho rằng, người Neanderthals, đại diện của Người đứng thẳng Homo erectus, là tổ tiên của người da trắng châu Âu. Nhưng sau đó, bằng công nghệ gene, người ta biết được, Neanderthals tuyệt chủng 24.000 năm trước, nhiều lắm cũng chỉ là anh em họ với người châu Âu hiện đại.


Như vậy, những điều Phó giáo sư nói trên không còn phù hợp nữa.


2. Về nguồn gốc và văn minh Việt


Phó giáo sư Hoàng Xuân Chinh viết: “Qua đó có thể nói nguồn gốc dân tộc Việt Nam là từ cư dân bản địa đã sinh sống lâu đời trên đất nước ta. Cư dân này trong thời đại đá mới là ngươì Melanesien và Indonesien thuộc loại hình Mongoloid phương Nam. Sang thời đại kim khí do sự cộng cư hoà đồng cùng cư dân Hoa Nam tràn xuống, yếu tố Mongoloid ngày càng đậm thêm thành chủng người Nam Á”


Phát biểu của PGS thể hiện quan điểm của thuyết Đa trung tâm. Nhưng muốn vậy, cần rất nhiều chứng minh.


Câu hỏi trước hết: Ai là tổ tiên những người Indonesien, Melanesien ấy? Theo logic của Phó giáo sư thì đó là Người Núi Đọ có mặt 300.000 năm trước! Muốn chứng minh điều này, phải phát hiện hàng loạt hài cốt những lớp người nối tiêp nhau cho tới người Sơn Vi 30.000 năm cách nay. Đó là điều không có và không thể có bởi lẽ, cũng như người Bắc Kinh, Java, người Núi Đọ là giống người cổ đã tuyết chủng, không dây mơ rễ má gì với H. sapiens. Khoa học đã xác minh được rằng, những người cổ trên cũng từ châu Phi di cư tới. Hiện cũng chưa tìm được mối liên hệ trực tiếp giữa H. erectus và người hiện đại trên địa bàn Đông Nam Á.


Ở đây Phó giáo sư Hoàng Xuân Chinh đã có sự lầm lẫn đáng tiếc. Người Melanesien, Indonesien không thuộc loại hình Mongoloid phương Nam. Trong cuốn Nhân chủng học Đông Nam Á (H.1983), tác giả Nguyễn Đình Khoa nói rất rõ: “Vào thời Đá Mới, dân cư Việt Nam thuộc loại hình Australoid. Sang thời Đồng-Sắt, yếu tố Mongoloid xuất hiện và trở thành chủ thể trong dân cư. Yếu tố Australoid mất dần đi, hoặc do thiên cư hoặc do đồng hóa.” Điều này năm 2005 M. Oxenham, giáo sư Đại học Quốc gia Australia, khi khảo sát 30 bộ hài cốt của di chỉ Mán Bạc, một lần nữa xác nhận.


Tác giả Nguyễn Đình Khoa cũng cho thấy, người tiền sử Việt Nam bao gồm hai đại chủng Mongoloid và Australoid hòa huyết tạo ra 4 chủng: Inđonesien, Melanesien, Negritoid và Vedoid. Tất cả đều thuộc loại hình Australoid. Và Nguyễn Đình Khoa, sau đó M. Oxenham đã chứng minh, cuộc Mongoloid hóa thành chủng Mongoloid phương Nam xảy ra trước 2000 năm TCN.


- Về câu: “Những tư liệu trên cho thấy không có một dòng thiên di lớn từ vùng Đông Nam Á lên miền Bắc Trung Quốc trong lịch sử”


Thưa Phó giáo sư, đó là giới hạn của tri thức nhân loại cho tới cuối thế kỷ XX. Những phát kiến mới đây nhờ công nghệ gene, cho ra bức tranh khác hẳn: đợt di cư đầu tiên, người tiền sử đã tới Đông Nam Á. Sau khi dừng lại 30.000 năm để hòa huyết, tăng nhân số, người từ Đông Nam Á đi lên khai phá đất Trung Hoa rồi vượt eo Bering sang châu Mỹ...


- Về câu: “Trên vùng sông Dương Tử và luu vực Hoàng Hà không hề có dấu tích văn hóa Hòa Bình.”


Đấy là lầm lẫn đáng tiếc của nhà khảo cổ. Năm 1921, khi phát hiện di chỉ Ngưỡng Thiều, nhiều người cho rằng đó là dấu tích lan tỏa của văn minh phía Bắc xuống phía Nam qua Long Sơn. Nhưng ngay từ năm 1932, Hội nghị khoa học về tiền sử Viễn Đông đã khẳng định: “Văn hóa Ngưỡng Thiều và cả Long Sơn đều là từ Hòa Bình sớm đi lên.” Tiếp đó, suốt thế kỷ trước, hàng loạt chứng tích văn hóa Hòa Bình được tìm thấy trong lòng đất lưu vực Hoàng Hà, Dương Tử.


Về câu: “Trong giai đoạn văn hóa Phùng Nguyên mở đầu thời Tiền Đông Sơn (khoảng 4000 – 3500 năm trước) cư dân Phùng Nguyên mới biết đến kỹ thuật luyện đúc đồng thì thời Thương họ đã đúc được những chiếc đỉnh đồng nặng tới 700kg.”


Theo nhiều tài liệu được công bố thì hiện vật đồng thau sớm nhất tìm được ở Việt Nam là tại Phùng Nguyên, có tuổi 1.850 năm TCN, còn ở Trung Quốc là tại Anyang (An Dương) vùng Sơn Tây, niên đại 1.300 năm TCN. Chính các chuyên gia khảo cổ học thế giới xác nhận, đồ đồng được phát sinh trước ở Việt Nam rồi từ đây đưa lên Trung Hoa.


Một câu khác: “Trên đất Sơn Đông làm gì có dân Việt nào.”


Điều này trái với thực tế. Đấy chính là người Đông Di theo cách gọi của các thủ lĩnh Hoa Hạ. Các sử gia Trung Hoa như Chu Cốc Thành và Vương Đồng Linh cũng cho rằng: “người Việt theo sông dương tử xuống đồng bằng Hoa Nam rồi men theo duyên hải lên khai phá vùng Hoa Bắc, làm chủ cả 18 tỉnh nước Tàu trước khi người Hán kéo xuống.” Như vậy không thể không có người Việt ở Sơn Đông. Đấy chính là trung tâm quan trọng của người Việt.


Về câu: “khoảng 40.000 năm trước người Việt chưa hình thành, vì lúc này con người đang trong giai đoạn cuối để hoàn thành quá trình hình thành con người về mặt sinh học và bắt đầu hình thành các đại chủng, cư dân sinh sống trên miền trung và bắc Việt Nam lúc bấy giờ chưa phải là người Việt.”


Quả thực, tôi không hiểu căn cứ vào đâu mà Phó giáo sư nói như vậy. Theo chỗ tôi biết thì chưa hế có chứng cứ nào xác nhận điều này.


Những tài liệu công bố gần đây như Ánh sáng mới trên quá khứ bị lãng quên của G. Solheim II, Địa đàng ở phương Đông của S. Oppenheimer và nhất là công trình của nhóm giáo sư Y. Chu cũng như Nguyễn Đình Khoa đưa ra thông tin khác hẳn: Homo sapiens tới Việt Nam gồm hai đại chủng là Australoid và Mongoloid. Tại đây người Việt cổ từ giã thời đại Đá Cũ, bước vào thời Đá Mới với những dụng cụ đá mài tinh xảo mà đỉnh cao là chiếc rìu đá có vai. Những nhóm người từ Việt Nam, từ Đông Nam Á vượt hàng vạn cây số tới châu Úc, châu Mỹ không thể là con người chưa hoàn thành về mặt sinh học. Cũng không như Phó giáo sư nói, lúc này không phải bắt đầu hình thành các đại chủng mà là tại đất Việt, hai đại chủng từ châu Phi tới, hòa huyết tạo ra cộng đồng người Việt. Lên Trung Quốc, do sống trong hoàn cảnh địa lý khác nhau, bốn chủng này phân ly thành Bách Việt.


Về câu: “lúc này cả thế giới, chứ nói gì đến người Việt đã làm gì có nông nghiệp, mà lại là nông nghiệp trồng lúa nước.”


Quả là ở đây tôi viết gộp lại nên gây hiểu lầm. Ở chỗ khác, tôi nói rõ: “Lúc đầu người Việt mang rìu đá đi mở đất, sau đó từ Hòa Bình đưa lên giống lúa, giống gà, giống chó…” Về thời điểm hình thành nông nghiệp, có nhiều ý kiến khác nhau. S. Oppenheimer là người đi xa hơn cả, trong cuốn sách đã dẫn, ông cho nông nghiệp lúa nước hình thành tại Đông Nam Á khoảng 24.000 năm trước! Nói người Hòa Bình không có nghĩa chỉ là người ở Hòa Bình mà là chủ nhân của nền văn hóa này. Đó là những người Indonesien, Melanesien… sống ở đồng bằng Sundaland, Hainanland. Khi nước dâng vào khoảng 20.000 năm trước, đã di cư lên Hòa Bình. Sau này khi hai đồng bằng trên bị ngập, khoa học chỉ biết tới hậu duệ của họ là Hòa Bình.


3. Đôi điều về phương pháp luận


Phó giáo sư Hoàng Xuân Chinh viết: “Theo tôi để giải quyết vấn để trên thì tư liệu cổ nhân học và tư liệu khảo cổ học là hai nguồn tư liệu quan trọng nhất, còn các tài liệu khác chỉ là góp phần tham khảo, nó chỉ thật sự có giá trị khi có sự phù hợp giữa chúng với hai loại tư liệu trên.”


Đúng như ý kiến Phó giáo sư, cổ nhân học và khảo cổ học từng là hai khoa học có vai trò quan trọng giúp con người tìm lại quá khứ. Có thể nói, tri thức về tiền sử của chúng ta có được như hôm nay, phần lớn là nhờ đóng góp của hai ngành khoa học này. Nhưng cũng có sự thực là, trong nhiều vấn đề nhạy cảm, cần tiếng nói quyết định, hai khoa học trên tỏ ra bất lực! Nhiều câu hỏi bức xúc còn bị treo đó. Xác định quan hệ của Neanderthals với người hiện đại hay nguyên nhân biến mất của Australoid trên địa bàn Đông Nam Á… là những vấn đề nhiều thập niên thách đố khoa học!


Chính vì vậy, công nghệ di truyền được sử dụng vào lĩnh này. Tìm ra mã di truyền chứa trong vật mẫu rồi thống kê chúng bằng sự chính xác toán học để phân nhóm, công nghệ gene trở thành cây gậy thần bắt từng mảnh xương, từng chiếc răng vốn lặng im bí ẩn phải “khai” ra thân phận thực của mình! Từ đó khoa cổ nhân chủng học tiến những bước rất xa, giải đáp hầu hết những vấn đề mà khoa cổ nhân học cũ phải bó tay. Có thể nói, ngày nay, bất cứ một phát hiện nhân chủng học nào nếu không được công nghệ gene kiểm định sẽ chưa mang ý nghĩa khoa học.


Phó giáo sư Hoàng Xuân Chinh viết: “do có nhiều tư liệu như di truyền học hiện đại tôi gần như không có tư liệu nên chỉ xin nêu lên một số vấn đề quanh cội nguồn dân tộc và văn hoá Việt mà thôi.”


Như vậy, Phó giáo sư và tôi không cùng phương pháp luận. Cuốn sách của tôi cơ bản dựa trên thành quả mới nhất của công nghệ di truyền mà tôi may mắn nhận được từ cộng đồng khoa học thế giới. Không cùng phương pháp luận nên không hiểu nhau là chuyện bình thường trong khoa học.


Dù sao tôi cũng xin cám ơn Phó giáo sư đã góp những ý kiến chân thành.


Sài Gòn, 24. 9. 2007


LỜI CÁO CHUNG CHO THUYẾT AUROUSSEAU VỀ NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT


I. Thuyết “Sở-Việt” của nguồn gốc dân tộc Việt và những đệ tử


 Năm 1904, trong cuốn Le Cambodge xuất bản tại Paris, học giả người Pháp E. Aymonier đề xuất giả thuyết: “Tổ tiên những người ngôn ngữ Mon-khmer bắt nguồn từ những sườn núi phía nam Tây Tạng rồi di chuyển về phương nam theo hai hướng, hướng tây nam sinh ra người Munda ở Ấn Độ, hướng đông nam sinh ra các tộc Mon-khmer ở Đông Dương.”(1)


 Từ thuyết này, vào những năm 20 thế kỷ trước, L. Aurousseau khai thác thư tịch Trung Hoa, cho rằng: “Người Việt Nam trước ở Trung Hoa rồi mới di cư qua miền Bắc Việt Nam. Nước Sở thuộc giòng Bách Việt, lãnh thổ bao gồm 2 tỉnh Hồ Bắc và Hồ Nam ngày nay, xuất hiện trước thế kỷ thứ XI trước CN. Ðến thế kỷ thứ IX trước CN, một ngành nước Sở di cư về phía Nam, dọc theo sông Dương Tử, định cư ở Chiết giang, thành lập nước Việt (Việt Vương Câu Tiễn) vào thế kỷ thứ VI trước CN. Năm 333 trước CN, nước Sở đánh bại nước Việt, người Việt chạy về phương Nam theo bốn nhóm: Nhóm Ðông Âu hay là Việt Ðông ở miền Ôn Châu (Chiết Giang). Mân Việt ở Phúc Kiến. Nam Việt ở Quảng Ðông, Quảng Tây. Lạc Việt ở phía Nam Quảng Tây và miền Bắc Việt Nam. Các nhóm kể trên bị Hán hóa, chỉ còn lại nhóm Lạc Việt là tồn tại…”


“Những chúa dẫn các dân Việt di cư xuống miền Nam Quảng Tây và đến tận Bắc kỳ ngày nay về thế kỷ thứ IV và thứ III trước Gia tô là cùng một dòng họ với các vua Việt đến định cư ở Ôn Châu, Phúc Châu và Quảng Ðông vậy.”


“Vậy thời ta có đủ chứng cớ mà nói quyết rằng người An Nam ngày nay là dòng dõi trực tiếp của người nước Việt bị diệt năm 333, và tiên tổ ngàn xưa, về thế kỷ thứ VI trước Gia tô, đã ở miền tỉnh Triết Giang nước Tàu ngày nay, vào khoảng lưu vực con sông cùng tên ấy”(1).


Trong hoàn cảnh sự hiểu biết về văn minh Đông Á còn hạn chế lúc đó, một số trí thức nước ta như Phạm Quỳnh đã chớp lấy “phát kiến tân tiến” trên rồi truyền bá trong cộng đồng.


Từ đó, thuyết của Aurousseau được coi như tài liệu chính thống về cội nguồn dân tộc. Không chỉ dừng lại ở thế kỷ đã qua, tư tưởng của ông còn được một số tác giả người Việt mang sang thế kỷ XXI.


 Giáo sư Cao Thế Dung trong bài “Tên nước Việt” được lưu hành trên nhiều website tiếng Việt, nhắc lại ý tưởng của L. Aurousseau với ý tán thành, đồng thời cũng góp phần hiện đại hóa thuyết này bằng cách bổ sung vào đó những phát kiến mới của khoa di truyền học hiện đại từ công trình của Y. Chu, Jin Li…


Nguyên Nguyên với loạt bốn bài “Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương”, là học trò trung thành của của L. Aurousseau. Tác giả đào xới cổ thư Tàu và áp dụng kỹ thuật điện tử 'fast forward' (quay băng video nhanh) để rút ngắn thời đại Hùng Vương đi 2500 năm cho vừa với giả thuyết người thầy Tây của mình.


Người trẻ nhất trong trường phái là Trương Thái Du với các bài viết trên mạng và in thành sách ở Nhà xuất bản Lao Động- 2007: “Tiếp cận những vấn đề cổ sử Việt Nam” và “Nói thêm về Đàn Nam Giao” (vannghesongcuulong.org 19.12.06), trong đó đưa ra những bằng cứ từ cổ thư Trung Hoa để minh chứng cho truyết “Sở- Việt”


Nói một cách công bằng, người viết bài này cũng chịu ảnh hường của Aurousseau. Có một thời, đó là cách giải thích khả dĩ nhất về gốc gác người Việt. Nhưng rồi, cùng với sự trưởng thành của trí tuệ, với những phát hiện khảo cổ học mới và nhất là từ khi có thông tin từ công trình của nhóm Y. Chu về con đường phương nam của người tiền sử tới Việt Nam, niềm tin của chúng tôi thay đổi.


Từ những bằng chứng khảo cổ học, nhân chủng học vững chắc hiện có, chúng ta có đủ cơ sở để viết lời cáo chung cho thuyết Aurousseau


II. Sự cáo chung của thuyết Aurousseau


Thuyết “Sở-Việt” được đưa ra vào đầu những năm 20 thế kỷ trước, sau khi khảo cổ học phát hiện ra di chỉ Ngưỡng Thiều mà lúc đó cho là khởi nguyên của văn minh Hán truyền xuống Long Sơn và vùng Đông Nam. Nhưng đầu thập niên 30, Hội nghị Quốc tế về tiền sử Viễn Đông đã thống nhất cho rằng: “Cả Long Sơn, cả Ngưỡng Thiều đều từ văn hóa Hòa Bình sớm đưa lên.”


 Tại sao khi khảo cổ học phát hiện dòng chuyển dịch văn hóa ngược với quan niệm cũ thì niềm tin vào thuyết của Aurousseau vẫn không thay đổi? Đó là do trong lịch sử có những cuộc di dân về Việt Nam vào thời Chiến Quốc. Lịch sử người Việt có hai giai đoạn: giai đoạn đầu đi lên khai phá đất Trung Hoa và giai đoạn sau từ Trung Hoa về xây dựng Việt Nam. Giai đoạn đầu quá xa xôi, không được ghi chép trong thư tịch Trung Hoa nên đến cuối thế kỷ trước, nhân loại chưa biết tới. Do chỉ biết giai đoạn sau nhưng lại ngộ nhận đấy là toàn bộ lịch sử nên Aurousseau cùng học trò của ông đã sai lầm.


Cho tới cuối thế kỷ trước, thuyết “Sở-Việt” vấp phải những mâu thuẫn sau:


1. Mâu thuẫn thứ nhất: hoàn toàn phủ định truyền thuyết Hùng Vương dựng nước.


Giả thuyết Aurousseau là sự phủ định lịch sử 4000 năm của dân tộc Việt. Kết quả là lịch sử của chúng ta chỉ còn lại một nửa thời gian. Về mặt tâm linh, đó là đòn chí mạng đánh vào lương tri người Việt. Chưa biết đúng hay sai, giả thuyết như vậy là rất khó chấp nhận. Một lý thuyết đưa ra mà trái ngược tới mức phủ định truyền thuyết gốc của dân tộc là điều phải hết sức đắn đo, thận trọng. Vì vậy, không lấy làm lạ là, dù không ít học giả quảng bá cho thuyết này thì nó cũng không được đại đa số người Việt chấp nhận. Hầu như mọi người đều hướng về lịch sử 4000 năm với Phục Hy, Thần Nông, rồi Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân.


2. Mâu thuẫn thứ hai: Trái ngược với bằng chứng khảo cổ học:


Từ thập niên 70 thế kỷ trước, do việc phát hiện thời đại Hùng Vương trong lịch sử Việt Nam, thế giới đã công nhận Việt Nam là trung tâm văn hóa đồng thau xuất hiện sớm và phát triển nhất khu vực, bắt đầu từ 1850 năm đến thế kỷ II TCN, mà rực rỡ nhất là văn hóa Đông Sơn kéo dài khoảng 800 năm. Thời kỳ này tương đương với sự xuất hiện cùa nước Sở, mà ta biết, hiện vật đồng thau nước Sở vừa muộn hơn, lại ít hơn và nhất là không tinh xảo bằng của Việt Nam. Đấy là bằng chứng cho thấy, Việt Nam là một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa phát triển sớm và mạnh hơn nước Sở. Đạt được trình độ phát triển như vậy chứng tỏ rằng trên địa bàn Việt Nam lúc đó có một nhà nước mạnh. Điều này cho thấy không thể có chuyện ngược đời là người Sở-Việt di cư xuống lập nước Văn Lang và thành tổ tiên của người Việt.


Do không hóa giải được hai mâu thuẫn trên nên số ủng hộ viên của thuyết Aurousseau giảm đi.


Tuy vậy, chứng lý bác bỏ thuyết Aurosseau chưa đủ mạnh vì còn thiếu bằng chứng quan trọng nhất là nhân chủng học. Sang thế kỷ XXI, với việc phát hiện con đường thiên di phương nam của người tiền sử tới Việt Nam, khoa học có đủ bằng chứng để bác bỏ thuyết Aurousseau.


 3. Mâu thuẫn thứ ba: trái với chứng cứ nhân chủng học.


Điều khá khôi hài là, trong khi khẳng định người Sở- Việt là tổ tiên của người Việt Nam thì những người theo thuyết Aurousseau chẳng hề biết người Sở- Việt là ai, người Văn Lang là ai, người Việt Nam hiện đại là ai?! Ở đây không có chỗ cho những tên gọi nôm na như “tộc Tâu Âu”, “tộc Việt cổ”, “tộc Thái cổ” mà phải là những tên Latinh trong bảng phân loại nhân chủng. Khi chưa minh định được điều đó thì việc cho rằng chủng này là tổ tiên của chủng kia chỉ là chuyện ăn ốc nói mò!


Có định luật như sau: Nếu trong quá khứ dân cư vùng A thiên di làm nên tổ tiên của dân cư vùng B tất sẽ để lại những vết tích trong bộ gene (genome) của dân cư vùng B. Như vậy, nếu vào thế kỷ IV TCN, người Sở-Việt di cư xuống tạo thành tổ tiên người Việt Nam hiện đại thì phải có bằng chứng về sự chuyển hóa di truyền của cư dân Việt Nam ở thời điểm trên.


 Không hề có bằng chứng như vậy. Xin đọc:


“Thời đại Đá Mới, dân cư trên lãnh thổ Việt Nam thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng với các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó Indonesien và Melanesien là hai thành phần chủ yếu. Sang thời đại Đồng- Sắt, người Mongoloid đã là thành phần chủ thể trong khối cư dân ở Việt Nam, người Australoid mất dần đi trên đất nước này, hoặc do thiên cư, hoặc do đồng hoá.”(1)


 Đấy là kết luận của nhà nhân chủng học hàng đầu Việt Nam Nguyễn Đình Khoa, được trình bày trong cuốn Nhân chủng học Đông Nam Á, xuất bản năm 1983 ở Hà Nội.


Đầu năm 2005, khi phân tích 30 di cốt ở khu mộ cổ Mán Bạc tỉnh Ninh Bình, tiến sĩ M. Oxenham của Đại học Quốc gia Úc một lần nữa xác nhận: “Người Việt từ trước thời đá mới đã có biểu hiện của giống người Úc châu [Nam đảo] hay Đa đảo Melanesian, nhưng người Việt từ đầu thời Đồng thau đã có biểu hiện đặc trưng của giống người Ðông Nam Á. Sự hiện diện của cả hai nhóm sắc tộc này sát cánh nhau trong khu mộ táng cho thấy đã có sự hỗn hoà giữa hai chủng ở mức độ đáng kể, có thể là đánh dấu những nguồn gốc sớm nhất về dân cư Việt hiện thời, vốn đã tương đối ổn định khoảng năm 2000 TCN.”


Hai đoạn dẫn trên cho thấy: chỉ có việc chuyển hóa cùa dân cư Việt Nam từ loại hình Australoid sang Mongoloid, hoàn tất vào khoảng 2000 năm TCN. Không có biến đổi di truyền nào cùa dân cư Việt ở thời điểm thế kỷ IV TCN.


 Như vậy là, người Việt hiện đại ra đời từ hơn 2000 năm trước khi người Sở- Việt di cư xuống. Cố nhiên, người Sở- Việt không thể là tổ tiên của những người được sinh ra trước họ.


Điều này chứng tỏ rằng, khi di cư xuống Việt Nam, người Sở- Việt có cùng bộ gene di truyền với người bản địa.


Bằng chứng nhân chủng học là chiếc đinh cuối cùng đóng xuống quan tài thuyết Aurousseau về nguồn gốc người Việt Nam.


 III. Giả thuyết: “Người Lạc Việt từ lưu vực Hoàng Hà trở về dựng nước Văn lang”


Dựa trên những phát kiến khoa học mới, nhất là công trình của tập thể nhà di truyền Trung Quốc và Mỹ cộng tác trong Dự án Đa dạng di truyền người Trung Hoa (Chinese Human Genome Diversity Project), chúng tôi xin đưa ra giả thuyết “Người Lạc Việt từ lưu vực Hoàng Hà trở về dựng nước Văn lang” như sau:


Khoảng 40.000 năm trước, người Việt từ Đông Nam Á đi lên khai phá đất Trung Hoa. Cho đến thiên niên kỷ thứ IV CTN, họ đã làm chủ vùng đất mênh mông từ Đông Nam Á tới phía nam sông Hoàng Hà, có nhân số khoảng 2/3 nhân loại và phát triển nền nông nghiệp tiên tiến.


Cũng khoảng thời gian này, một số nhóm người Mongoloid từ Đông Nam Á đi lên, định cư ở phía tây bắc Trung Hoa và chuyển dần từ săn bắt hái lượm sang du mục, là tổ tiên của chủng Mongoloid phương Bắc.


Khoảng giữa thiên niên kỷ thứ III TCN, người du mục xâm phạm lãnh thổ của người Việt, cướp của, hiếp dâm, bắt người làm nô lệ, mức độ ngày một tăng. Do vậy đã xuất hiện liên minh các bộ lạc Bách Việt phía bắc sông Dương Tử do Đế Lai chỉ huy với các bộ lạc phía Nam Dương Tử do Lạc Long Quân lãnh đạo chống lại quân xâm lăng. Khoảng năm 2600 TCN, người Mông Cổ do họ Hiên Viên dẫn đầu mở chiến dịch lớn tổng tấn công ở Trác Lộc. Liên quân Việt thua trận, Đế Lai hy sinh. Lạc Long Quân dẫn đoàn quân dân Việt lên thuyền theo dòng Hoàng Hà ra biển xuống phía nam, đổ bộ vào vùng Nghệ Tĩnh.


Trong đoàn thuyền nhân trở về Việt Nam, có một số người lai Mông Cổ được sinh ra từ những cuộc xâm lấn trước đó và cả những phụ nữ bị quân Mông Cổ hãm hiếp mang thai. Khi trở về, họ sinh những con lai thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Do sự chiếm đóng mở rộng, cuộc di tản khỏi lưu vực Hoàng Hà còn tiếp tục và bổ sung thêm người Mongoloid phương Nam cho dân cư Việt Nam. Những người mang gene Mongoloid phương Nam này lai với người bản địa thuộc loại hình Australoid, làm chuyển hóa dân cư Việt Nam sang loại hình Đông Nam Á, là tổ tiên của người Việt Nam ngày nay.


Đoàn thuyền nhân từ Hoàng Hà trở về, do cùng chủng tộc, ngôn ngữ và được dắt dẫn bởi Lạc Long Quân, vua của nước Xich Quỷ nên dễ dàng hòa nhập với dân bản địa. Người mới về, do hoạt động trên vùng đất rộng, phải thường xuyên đối mặt với kẻ xâm lấn phương Bắc nên biết cách tổ chức nhà nước và kỹ thuật quân sự, là “những người tài giỏi” vì vậy được cộng đồng bản địa tôn lảm vua. Nhờ ưu thế lai của chủng Mongoloid phương Nam, nhờ được tổ chức thành nhà nước, người Văn Lang trở nên hùng mạnh, sáng tạo văn hóa đồng thau, đặc biệt là chế tác trống đồng.


Tuy thời gian này người Việt có kỹ nghệ hàng hải cao và làm chủ biển Đông nhưng di tản bằng thuyền không thể đưa ồ ạt số lớn người nên số người mang gene Mongoloid phương Nam có mặt lúc đầu ở Văn Lang không nhiều. Vì vậy quá trình chuyển hóa dân cư Việt khá chậm chạp, phải trong thời gian hơn nửa thiên niên kỷ, cho tới 2000 năm TCN mới ổn định.


Giải thích và chứng minh


Giả thuyết do chúng tôi đề xuất có những ưu điểm sau:


a/ Phù hợp với truyền thuyết Hùng Vương dựng nước: thời gian dựng nước Văn Lang khoảng 2600 năm TCN, Lạc Long Quân theo Hoàng Hà ra biển Đông, xuôi về Nam.


Đồng thời cũng phù hợp với Ngọc phả đền Hùng là có “đoàn người đổ bộ vào Nghệ Tĩnh”


b. Việc không tìm được sọ Mongoloid thuần chủng ở Việt Nam chứng tỏ là vào thời kỳ này không có người Mongoloid thuần chủng trên đất Việt Nam. Như vậy chỉ còn khả năng duy nhất là có người Mongoloid phương Nam di cư bằng thuyền tới Việt Nam và làm biến đổi gene của dân cư Việt.


Giả thuyết của chúng tôi giải thích thỏa đáng điều này: cách nhau vạn dặm núi rừng và một biển người Bách Việt dòng Australoid, khoảng 2600 năm TCN, bên sông Hoàng và bên sông Hồng, chủng người Mongoloid phương Nam gần như đồng thời xuất hiện. Nguyên nhân tại đâu? Chỉ có khả năng duy nhất là những người lai Mông Cổ trong đoàn thuyền nhân từ sông Hoàng Hà đi về Việt Nam.


c. Giả thuyết của chúng tôi cho phép chứng minh ngược lại thuyết của Aurousseau.


Có thể có khả năng sau:


Lạc Long Quân làm vua nước Xích Quỷ từ phía Nam Dương Tử tới tận miền Trung Việt Nam. “Nước” ở đây là một liên minh bộ lạc lỏng lẻo do tộc Lạc Việt (Indonesien) có số dân đông và nói ngôn ngữ Mon-khmer đứng đầu. Khi lên thuyền chạy theo Hoàng Hà ra biển, Lạc Long Quân vì lý do nào đó, không trở về đô của mình ở Ngũ Lĩnh mà dông thuyền xuống tới vùng Nghệ Tĩnh rồi đi lên lập đô mới ở Bạch Hạc, từ đây dựng nước Văn Lang. Như vậy, có thể hiểu đây là một lần dời đô và đổi quốc hiệu của Lạc Long Quân: đô mới là Bạch Hạc còn quốc hiệu là Văn Lang thay cho Xích Quỷ. Cùng một thời kỳ lịch sử, cương vực Văn Lang trùng khớp với địa bàn nước Xích Quỷ ủng hộ cho giả thuyết này.


Từ xa xưa vẫn có dòng người từ Việt Nam đi lên phương bắc. Tới thời điểm này trong dòng di dân có thêm những người lai. Những người lai này đã truyền bá gene Mogoloid phương Nam ra khắp địa bàn nước Văn Lang rộng lớn, làm chuyển hóa di truyền của người Việt ở phía nam Dương Tử. Đến khoảng 2000 năm TCN, đại bộ phận dân số Văn Lang đã được Mogoloid hóa. Các nước Sở, Ngô, Việt… là những mảnh vỡ của nước Xích Quỷ- Văn Lang nên dân cư đều thuộc chủng Mongoloid phương Nam.


Việc người nước Việt của Câu Tiễn trở về Việt Nam vào năm 333 TCN là lá rụng về cội, cháu con trở lại đất xưa của tổ tiên.


IV. Kết luận


Có thể, khi phát biểu giả thuyết của mình, L. Aurousseau là một trí tuệ mẫn tiệp của thời đại ông. Thuyết của ông được ủng hộ bằng cuộc di cư của số đông người từ Nam Trung Hoa tới Việt Nam vào thời Chiến Quốc. Chính vì thế ông chiếm được lòng tin của nhiều học giả người Việt thông thuộc cổ thư Trung Hoa.


Tuy nhiên thực tế lịch sử cho thấy, đấy là lầm lẫn lớn. Từ những bằng chứng khảo cổ và nhất là di truyền học, khoa học hiện đại chứng minh được rằng, người tiền sử xuất hiện đầu tiên ở Việt Nam rồi đi lên mở mang đất nước Trung Hoa. Sau đó, do người Mông Cổ xâm lấn, đã trở về lại Việt Nam cùng các quốc gia Đông Nam Á khác. Khảo cổ và di truyền học cũng xác nhận, vào thời điểm 2000 năm TCN, chủng Mongoloid phương Nam là chủ thể dân cư Việt Nam và là tổ tiên của người Việt hiện đại. Những bằng chứng vững chắc trên đã bác bỏ thuyết Aurousseau.


Một câu hỏi tất phải nảy sinh: vì sao, trước sự thực khoa học như vậy mà vẫn còn người tin theo thuyết “Sở-Việt”?


Có thể, đó là hậu quả của thói ù lỳ trí thức nơi những người chỉ duy nhất tin vào những gì quen thuộc, do kiến văn hạn hẹp nên không còn lựa chọn nào khác.


Đấy còn là sự thất bại về phương pháp luận của những người leo cây tìm cá. Các tác giả này tận tín vào sách của thày Tàu mà không biết tới nghịch lý: người Trung Hoa hiện nay cũng chẳng biết tổ tiên gốc gác của họ là ai trong khi lại ảo tưởng rằng cổ thư Tàu là nguồn duy nhất chỉ dạy mình biết gốc gác tổ tiên người Việt! Phải chăng đó cũng là vấn nạn của dân tộc Việt?!


Phật Đản 2007


BÀI HỌC KHÓ THUỘC


Trong những cái đọc được vào dịp 30. 4. 2005, bài viết “Tôi đã bắt đầu giảng dạy về chiến tranh Việt Nam như thế nào” của giáo sư Keith W. Taylor(1) khiến tôi bận lòng hơn cả. Xin mạo muội trao đổi cùng tác giả đôi điều.


1. Trong bài viết, K.W. Taylor nêu bật 5 quyết định sai lầm của các tổng thống Mỹ Kennedy và Johnson. Từ đó, ông cho rằng chính sự điều hành yếu kém của các tổng thống Mỹ là nguyên nhân dẫn đến thua trận. Thật dễ dàng khi đổ lên đầu các tổng tư lệnh bại trận cái tội điều hành cuộc chiến tồi. Ðiều này chả có gì mới. Từ xa xưa người Việt đã có câu tội quy vu trưởng! Nhưng vấn đề ở đây là liệu cách lý giải như vậy có thuyết phục?


Muốn giải đáp câu hỏi này, phải hiểu tổng thống Hoa Kỳ là ai? Ðấy là những người được chọn trong cuộc bầu cử dân chủ nhất hành tinh. Ðương nhiên họ là nhân vật số một của nước Mỹ, là biểu trưng của nhân cách và trí tuệ Mỹ. Quả vậy, những vị này đã không tồi trong việc dẫn dắt nền kinh tế lớn nhất thế giới. Dưới sự lãnh đạo của họ, nước Mỹ đã đưa người lên Mặt trăng và sáng tạo những thành tựu khoa học lớn. Trong chiến lược toàn cầu, Kennedy và Johnson đã thắng trong vụ khủng hoảng hạt nhân Caribe, tiêu diệt mầm mống xã hội chủ nghĩa ở Indonesia, ở Chile, ngăn chặn sự bành trướng của Liên Xô tại Nicaragua, Afghanistan… Xin giáo sư K. W. Taylor giải thích giùm: Vì sao những người giỏi giang sáng suốt- cố nhiên theo cách nhìn Mỹ- ở nơi khác như vậy bỗng nhiên trở nên tối tăm sai lầm tại Việt Nam? Hẳn giáo sư sẽ nhận ra lập luận của mình bất cập và thấy cần phải tìm nguyên nhân ở chỗ khác, ở cái gì đó sâu xa hơn!


Ngay khi chiến tranh phá hoại bùng nổ thì những nhà lãnh đạo Việt Nam đã nói với dân chúng: Mỹ chọn lầm đối tượng! Ðấy là cách nhìn sáng suốt, chứng tỏ người cộng sản Việt Nam hiểu Mỹ hơn các tổng thống Mỹ hiểu mình! Về kinh tế, về chiến lược quân sự, Việt Nam không phải mối quan tâm số 1 của Mỹ. Việt Nam không phải là nước Ðức trong chiến lược toàn cầu, cũng không phải là Trung Ðông dầu hỏa sống còn với Mỹ. Ðến Việt Nam, Mỹ chỉ đóng vai kẻ yêng hùng làm “nghĩa vụ thiêng liêng” bảo vệ thế giới tự do, ngăn chặn làn sóng đỏ! Tự kỷ ám thị bởi lòng kiêu ngạo Mỹ, Kennedy cùng bộ tham mưu của ông ta nghĩ rằng, với sức mạnh của mình, Mỹ chỉ cần cất ngón tay út lên là có thể bắt đất nước Việt Nam nhỏ bé phải khuất phục! Chính vì sự tưởng bở ấy, ông ta đã dựng lên sự kiện Vịnh Bắc Bộ để kéo Quốc hội và toàn dân Mỹ vào cuộc. Nhưng Kennedy đã lầm! Do biết chắc rằng hơn ai hết, là kẻ ích kỷ, Mỹ không thể bảo vệ chính quyền tay sai bằng mọi giá nên người Việt Nam chủ trương đánh tan ý chí xâm lược của Mỹ: Ðánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào là chiến lược tuyệt vời đúng đắn! Cuộc tấn công và nổi dậy Mậu Thân chính là cú đòn thần diệu làm thối chí Mỹ! Thuận buồn xuôi gió chén chú chén anh, gió quẩn đồng quanh cắn nhau như chó! Câu ca dao cổ xưa của người Việt thể hiện xác đáng biện chứng của sự thất bại. Chính thất bại ở chiến trường, chính dòng thác lũ lính Mỹ trở về trong những quan tài thép mà mâu thuẫn trong xã hội Mỹ bùng nổ. Báo chí phanh phui sự dối trá của “sự kiện vịnh Bắc Bộ” rồi vụ Mỹ Lai... Lương tri nguời Mỹ thức tỉnh và làn sóng phản chiến nổi lên. Không còn cách nào khác, cay đắng nuốt những lời hứa cuội với đồng minh Sài Gòn, quân Mỹ ôm đầu máu tháo chạy!


Nếu nói đến sai lầm của các tổng thống Mỹ trong chỉ đạo chiến tranh, tôi không hiểu sao K.W. Taylor không nói đến sai lầm lớn này: Tại sao lại dùng chiến tranh leo thang mà không dùng chiến tranh tổng lực: ném bom hủy diệt Hà Nội, cho quân Mỹ và chư hầu chiếm Bắc Việt Nam, diễn lại kịch bản của chiến tranh Triều Tiên trước đó? Tôi tin rằng, với cuộc chiến tranh tổng lực như vậy, giống như người Hungary, người Tiệp, người Việt khó mà kháng cự nổi! Nhưng dù liều lĩnh đến mấy thì các tổng thống Mỹ cũng không dám phiêu lưu đến vậy vì lúc đó phe xã hội chủ nghĩa còn rất mạnh. Mỹ không thể vì chính quyền tham nhũng ở Sài Gòn mà mất tất cả để đối đầu với Liên Xô và Trung Quốc! Thêm một bằng chứng cho thấy sự chọn lầm đối tượng đã trói tay các tổng thống Mỹ như thế nào! Việc giết anh em Ngô Ðình Diệm cũng phản ánh sự thất bại của lựa chọn chiến lược sai lầm. Bi kịch của ông Diệm là cả tin vào Mỹ và không tự biết thân biết phận mình. Cam tâm làm tay sai thì êm xuôi nhưng khi lương tri và lòng yêu nước trỗi dậy khiến ông ta có những hành động trái với quyền lợi Mỹ thì lãnh đủ! Rõ ràng, như một quy luật của muôn đời, khi đã sai lầm trong chọn lựa chiến lược thì mọi cố gắng về chiến thuật chỉ là vô vọng!


Thật đáng ngạc nhiên là ở đây giáo sư sử học K. W. Taylor nhắc đến kinh nghiệm cuộc xâm lăng của người Pháp cuối thế kỷ XIX. Lịch sử không lặp lại! Sự gan góc can trường của người Việt không thay đổi nhưng bất hạnh là lúc ấy họ có người chỉ huy quá đớn hèn bạc nhược! Tình hình của những năm 60 khác hẳn. Người Việt Nam sau 80 năm nô lệ đã ngửng đầu trong Cách mạng tháng Tám và làm nên Ðiện Biên lừng lẫy. Lúc này, không chỉ có ý chí kiên cuờng, có sức mạnh của nhân loại tiến bộ mà người Việt Nam còn có một bộ tư lệnh chiến tranh tuyệt vời... Thưa giáo sư Taylor, “huyền thoại về nhân dân Việt Nam anh hùng đánh bại những đoàn quân xâm lược” hoàn toàn không phải là sáo ngữ lịch sử ngớ ngẩn như ông viết mà là một thực tế hiển nhiên. Không cần nói lại những Tống, Nguyên, Minh, Thanh trong quá khứ thì thời nay, dân tộc Việt chính là người đầu tiên đào mồ chôn chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp và cũng là dân tộc đầu tiên thắng Mỹ! Hơn nữa, ở thời đại ngày nay, người Việt được sự dẫn dắt bởi Hồ Chí Minh, một danh nhân văn hóa thế giới, một thánh nhân mang tầm vóc Ðế Nghiêu, Ðế Thuấn! Nhìn Việt Nam những năm 60 bằng con mắt cuối thế kỷ XIX là sự mù lòa về lịch sử!


2. Tôi không sao hiểu nổi, là một sử gia thời hậu chiến, K. W. Taylor lại cố chứng minh cho tính hợp pháp của chính quyền Sài Gòn? Không thể tìm nổi bằng cứ muốn có và thất vọng vì bản tuyên bố sau cùng của Hội nghị Genève, tác giả cố bám víu vào những lời nói của Khrushchev, của Chu Ân Lai đề nghị cả hai chính phủ Việt Nam được nhận vào Liên hợp quốc. Phải chăng K. W. Taylor giả vờ không biết là cũng vì quyền lợi của mình, những vị này từng đi đêm với Mỹ, mua bán trên lưng người Việt Nam? Nhưng vì không phải là tay sai, vẫn giữ được chủ quyền, những nhà lãnh đạo Việt Nam đã không chấp nhận sự mua bán ma quỷ đó! Ðể có một chính quyền hợp pháp ư? Với họng súng và đô la, người Mỹ có thể dễ dàng chế tác một chính quyền theo ý muốn. Nhưng họ không thể có được chính quyền hợp lòng dân! Các chính quyền Sài Gòn là như vậy. Lá cờ ba sọc truyền đời của họ là như vậy! Tôi có ký ức riêng về lá cờ này. Tôi sinh năm Giáp Thân 1944. Hình như tôi lờ mờ biết về nạn lụt năm 45 nhưng biết rất rõ những ngày cha chú tôi tưng bừng tập quân sự, rào làng chiến đấu, cả những ngày tiêu thổ kháng chiến bỏ làng ra đồng lập trại sống. Rồi một sáng mùa đông năm 1950, trong sương mù, một đoàn người nhớn nhác ở đầu làng lo lắng trước trận càn thì chợt chú tôi kêu lên: Nó kia kìa! Và lớn bé trẻ già tớn tác chạy cùng tiếng súng rền trời. Chiều hôm đó trở về làng cũ, bỏ lại phía sau khu trại cháy thành than, đứa trẻ 6 tuổi là tôi đói lả người và sợ kinh hồn nhìn những người lính Bảo Hoàng săn gà bắt lợn… và nghe tin rùng rợn về những người làng bị giết. Ngày hôm sau, từ sáng sớm chú mõ dựng mọi người dậy với tiếng rao: mỗi nhà phải treo cờ nền vàng ba gạch đỏ! Các chính quyền tay sai thua ở chỗ đó: họ không bao giờ có cơ sở sâu rộng trong lòng dân, kể cả miền Bắc lẫn miền Nam!


Tôi hiểu K. W. Taylor khi ông tiếc nuối những biểu hiện dân chủ có được ở miền Nam. Từng kinh qua thảm họa cải cách ruộng đất ở miền Bắc nên tôi tán thành cuộc cải cách điền địa ở miền Nam. Ở đây, “những kẻ tước đoạt” không bị tước đoạt lại, giai cấp địa chủ bị xóa bỏ để chuyển hóa sang những nhà công nghiệp. Nông dân miền Nam đạt mức sống trung nông, là điều mà nông dân miền Bắc nằm mơ không thấy! Và quả là tôi thèm muốn tự do báo chí, ngôn luận, lập hội cùng những tự do khác mà thành thị miền Nam được hưởng! Nhưng tôi cũng biết, đó là nền dân chủ què quặt và không vững bền bởi lẽ trên nó là chính quyền tham nhũng vừa là bù nhìn vừa là tay sai của ông giời con mũi lõ! Như trong truyền thuyết về một vương quốc xây trên lưng rùa: Sẽ ra sao khi nóng lưng rùa chìm xuống? Thảm họa tháng Tư bảy lăm là số phận tất yếu của mọi chính quyền tay sai. Và cố nhiên, nó chôn vùi luôn cái bong bóng dân chủ vay mượn!


3. K.W. Taylor viết: “...tôi không chấp nhận nguyên lý cho rằng Hoa Kỳ không có lý do hợp pháp nào để can dự vào Việt Nam. Tôi cho rằng quyền lực toàn cầu trong tay Hoa Kỳ phải được nắm lấy như là một trách nhiệm, không phải là điều mà chúng ta cần tỏ ra hối hận. Nếu Hoa Kỳ thất bại trong việc dùng quyền lực để đem lại những tốt đẹp cho nhân loại thì nó sẽ mất đi không chỉ sức mạnh, mà cả những gì mà đất nước này đã đạt được, những nền tự do vươn lên dưới bóng sức mạnh của Hoa Kỳ sẽ bị lâm nguy.”


Tôi rợn người khi đọc những dòng loảng xoảng tiếng gươm khua và tanh lợm mùi máu của vị sử gia! Chưa ở đâu như nơi đây, mặc cảm về lòng kiêu ngạo Mỹ được thể hiện bệnh hoạn đến vậy!


Nhân loại từng biết rằng, để đạt mục đích của mình, quyền lực toàn cầu Mỹ dám làm mọi chuyện từ sự kiện vịnh Bắc Bộ ở Việt Nam đến vũ khi hủy diệt ở Iraq. Hợp pháp hay không hợp pháp không có chỗ trong từ điển quyền lực Mỹ! Cuộc chiến tranh Việt Nam mở đầu bằng hành động dối trá, còn ở Iraq, người Mỹ hung hăng hơn, bất chấp cả công pháp quốc tế! Thử hỏi rằng, quyền lực toàn cầu Mỹ đã đem lại được gì tốt đẹp cho người Việt Nam? Có đáng không khi vì một chút quyền tự do dân chủ áp đặt mà 3 triệu người Việt Nam phải chết và hiện còn hàng triệu người quằn quại vì nỗi đau da cam! Ðang sống trong một đất nước thiếu tự do và dân chủ nhưng quả thật, tôi thương hại những nền tự do dưới bóng sức mạnh của Hoa Kỳ. Tự do phải là tự thân! Tự do dưới bóng kẻ khác chỉ là thứ tầm gửi ký sinh hay là những cây rỏng rớt cớm nắng! Năm nay là năm Cervantes. Tôi nhớ trong Don Quijote bất hủ một câu đại ý thế này: “Thật sung sướng cho kẻ nào mà mỗi khi nâng bát cơm lên, ngoài cảm ơn Chúa ra hắn không còn phải cảm ơn ai khác!” Cũng có thể mượn câu đó để nói về dân chủ! Nói thế, không phải tôi không quý và biết ơn những gì mà nhân loại tiến bộ giúp người Việt ngày một đến gần hơn tới dân chủ. Nhưng tôi mong đó là thứ dân chủ chỉ đứng dưới bóng mặt trời và càng không phải thứ dân chủ áp đạt bằng quyền lực của kẻ khác! Là giáo sư dạy sử Việt Nam, không hiểu K. W. Taylor có biết sự kiện trong Kinh Thư ghi lại buổi đầu người Hán thống trị dân Việt như thế này: “Sau ba lần đánh rợ Tam Miêu không được, nghe lời ông Cao Dao, vua Thuấn cho mở nhạc múa trước sân. Ba tuần sau dân Tam Miêu quy phục.” Cái tự do cái dân chủ đạt được theo cách của vua Thuấn nhân ái hơn hẳn cái dân chủ mà người Mỹ mong áp đặt bằng quyền lực ở Việt Nam trước kia và ở Iraq hiện nay! Có người bạn nói nhỏ với tôi thế này: “Nói ra, người ta cho mình là kẻ ác nhưng quả thực, sự kiện 11 tháng 9 là cái giá đích đáng mà người Mỹ phải trả vì những gì họ đã gây ra cho thế giới!” Xét đến cùng, lời nói đó không hoàn toàn vô lý! Ðấy là cái giá mà hàng ngàn người dân vô tội phải trả cho lòng kiêu ngạo Mỹ. Có thể nói thế này, hầu hết những vụ nổ bom cảm tử trên thế giới này đều nhằm vào Mỹ! Lương tri người Mỹ phải tự vấn: vì sao ngày nay Mỹ lại có nhiều kẻ thù đến vậy? Với tôi thì thế này: hồi trẻ tôi căm thù giặc Mỹ xâm lược. Tuổi trung niên tôi trông chờ hy vọng người Mỹ mang đến tự do và dân chủ. Nhưng rồi tôi sớm thất vọng vì chính sách hậu chiến tranh lạnh vừa ngạo mạn vừa vị kỷ của người Mỹ. Và bây giờ với người Mỹ, tôi dè chừng, cảnh giác! Tôi cho rằng trên thế giới này người Mỹ ít đáng tin cậy nhất. Kẻ thù không tin họ là lẽ đương nhiên nhưng bất hạnh cho đồng minh nào tin nguyên con vào người Mỹ! Cái chết của anh em Ngô Ðình Diệm rồi việc bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa là tấm gương nhỡn tiền! Quả thật, cái tôi lo bây giờ là tương lai nước Mỹ. Một đất nước sẽ ra sao khi có quá nhiều kẻ thù? Người Việt có câu con giun xéo lắm cũng quằn! Và câu chuyện ngụ ngôn về voi và kiến không biết có ích gì cho người Mỹ?


Tôi hiểu sự bức xúc của K. W. Taylor khi ông viết: “đất nước này phải chịu đựng một cơ cấu cai trị chuyên chế, thối nát và nghèo nàn...” Ðúng là tình hình Việt Nam đang như thế. Nhưng thay đổi nó bằng cách nào đây? Phải chăng cách tốt nhất là dùng quyền lực Mỹ tiêu diệt nhà nước hiện thời rồi đưa ở đâu đó về những thiên thần dân chủ? Tôi không tin vào khả năng như vậy!


Phương Tây từng nói rằng, người cộng sản biến chủ nghĩa Mác-Lê thành một thứ tôn giáo. Nói nơi cửa miệng nhưng họ không chịu hiểu sâu hơn: thực tế những giáo điều Mác-Lê đã thấm vào dân như một tôn giáo. Dương cao cờ tự do tín ngưỡng nhưng tại sao phương Tây không thể tất cái đạo cộng sản đã nhiễm vào dân Việt Nam? Bảy chục năm qua những giáo chủ cộng sản luôn dạy dân tuân phục Ðảng và làm cách mạng mà chưa từng dạy về tự do dân chủ! Vẫn biết tôn giáo là ngu dân tại sao lại không thể tất sự ngu dân của đạo cộng sản? Trong khi trí thức quá hiểu cái lỗi thời, lạc hậu thậm chí phản tiến hóa của lý thuyết Mác-Lê thì hàng triệu người dân vẫn tin như tin vào kinh thánh! Người nông dân Thái Bình biểu tình có thể đánh chém kẻ tham nhũng, ném đồ dơ của phụ nữ vào mặt quan chức nhưng trong một cuộc trưng cầu ý dân vẫn có đến 90% người ủng hộ chế độ! Tại sao vậy? Lý lẽ đơn giản: dù có sai dù có hư hỏng thì đảng vẫn gắn bó với họ. Họ không chấp nhận những kẻ trắng má lạ mặt từ đâu tới ngồi trên đầu mình. Làm sao đây với khối đồng bào này? Phải chăng là dùng lưỡi lê của lính viễn chinh hay cán cuốc Pol Pot tẩy não họ? Tôi nghĩ rằng, nếu dám hết mình vì nền tự do, người Mỹ hãy làm như vua Thuấn xưa chứ không phải kéo quân đến chém giết để rồi áp đặt!


4. Qua bài viết, tôi hiểu K. W. Taylor là người chân thành đến tận cùng. Ông là trí thức trọng danh dự, có nhân cách và trung thành tuyệt đối với chính quyền Mỹ. Người như thế ở Việt Nam được gọi là ngu trung- kẻ sĩ trung thành một cách ngu muội. Họ thường là công cụ của triều đình phong kiến trong việc đàn áp nông dân, các sắc dân thiểu số và bảo vệ đến cùng những ông vua chính thống. Người như ông rất cần cho quyền lực Mỹ. Chỉ cần có lệnh của cấp trên, thì bất kể hợp pháp hay không hợp pháp, ông cũng tuân thủ và nã súng vào đối phương dù là đàn bà con trẻ để thực thi nghĩa vụ công dân Mỹ! Những người như ông không ít trên đời này: họ tạo nên những quân đoàn SS, những Ăng-ca Khmer đỏ, những Hồng vệ binh dưới thời Mao... Trong đội ngũ Quân giải phóng miền Nam không ít những người trọng danh dự và trung thành với đất nước với nghĩa vụ như ông. Trong những nghĩa vụ đặt trên vai họ, ngoài những điều phù phiếm Nếu được làm hạt giống để mùa sau/ Nếu lịch sử chọn ta làm điểm tựa thì cái căn cốt nhất nơi họ là chính nghĩa bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, họ là kẻ trung nhưng không ngu! Do chính nghĩa của mình mà tình đồng đội của họ bền chặt. Những người chết luôn là thiêng liêng với người còn sống! Việt Nam không có Bức tường than khóc nhưng có rất nhiều nghĩa trang liệt sĩ được chăm sóc bởi chính đồng đội của họ. Do sự ưu đãi của chính quyền có hạn nên nhiều người lính đã cưu mang con cái, cha mẹ của đồng đội đã chết. Trong đời sống thực cũng như trong tâm linh, người chết luôn gắn bó, luôn sống trong lòng người may mắn sống sót. Trong số cựu chiến binh Việt Nam không ít số phận chịu bất công cay đắng thậm chí thù hận với chính phủ nhưng tôi chưa thấy ai tỏ ra lạnh nhạt bạc bẽo với đồng đội không may của họ. Họ không giống như ông khi nói: “Ðó là đài tưởng niệm những cái chết, mà tôi là một người sống sót và bức tường đó không can hệ gì đến tôi.”(!)


Tôi hiểu vì sao ông quay lưng lại với bức tường đó! Mặc cảm thất bại trong cuộc chiến Việt Nam đã hủy hoại nhiều thế hệ thanh niên Mỹ. Ðấy là điều tệ hại. Cần phải thoát khỏi mặc cảm đó. Không ít người, với tinh thần thượng võ, xóa bỏ thù hận, bắt tay kẻ thù xưa, hàn gắn lại những vết thương cũ, xây dựng quan hệ tốt đẹp giữa nhân dân hai nước. Họ hiểu rằng, người Mỹ cần sống tử tế hơn với phần còn lại của thế giới.


Giống những người Mỹ trên, không cam tâm chìm đắm trong chủ nghĩa thất bại, ông cố quẫy đạp vươn lên. Nhưng ông vơ lấy cái phao cứu sinh thật nguy hiểm: sứ mạng của quyền lực Mỹ! Không chấp nhận cái đám đông mặc cảm chiến bại, ông tự chích vào mình chất ma túy sứ mạng của quyền lực Mỹ rồi đứng lên làm một giáo chủ của bầy đàn mới đem lại danh dự cho những người đã chết và động viên tập hợp tín đồ cho những cuốc thánh chiến ở Iraq và có thể ở Iran, ở Bắc Triều Tiên!


Cuộc chiến Việt Nam có nhiều bài học. Một trong những bài học rút ra, đó là cuộc đối đầu giữa một bên là lòng kiêu ngạo cộng sản muốn làm tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa. Một bên là lòng kiêu ngạo Mỹ: bảo vệ thế giới tự do, ngăn chặn làn sóng đỏ! Sau khi đánh nhau vỡ đầu sứt tai, cả người Việt cả người Mỹ đều thấy là mình ngớ ngẩn đã chém giết nhau vì những cái vớ vẩn! Trong khi cả người Mỹ cả người Việt nhận ra hai đất nước chả có lý do gì phải thù hận nhau, cùng bắt tay khép lại quá khứ thì có một nhà sử học cựu chiến binh phất lên ngọn cờ sứ mạng quyền lực Mỹ! Hẳn rồi mai đây, dưới ngọn cờ rách ấy hàng ngàn hàng vạn thanh niên Mỹ lại lao vào những cuộc chém giết mới! Quả là bài học Việt Nam khó thuộc!


Sài Gòn tháng 5.2005


(còn tiếp)


Nguồn: Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học, 2008.







(1) E.Aymonier. Le Combodge., Paris, tom 3. Dẫn theo Nhân chủng học Đông Nam Á.




(1) Léonard Aurousseau, "Khảo về cỗi rễ dân An Nam". Bản dịch của Hồng Nhân Phạm Quỳnh. Nam Phong tạp chí số 84, tháng 6-1924, tr.480. Dẫn theo Cao Thế Dung: Tên nước Việt.




(1) Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. NXB Đại học và THCH. HN,1983




(1) Xin xem phần phụ lục ở phía dưới.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
Những đám khói - Võ Phiến 23.03.2017
Khó, dễ Nguyễn Tuân - Đào Nguyên 22.03.2017
Ở nơi “con chim bay bạc đầu chưa tới” - Ngô Vĩnh Bình 22.03.2017
Lê Văn Thảo, người lữ hành lặng lẽ - Nguyễn Xuân Hưng 21.03.2017
Hoa của đất: Nhà toán học lỗi lạc của quê hương Gò Nổi - Kỳ Lam - Hàm Châu 19.03.2017
Không khóc ở Mỹ Sơn - Inrasara Phú Trạm 16.03.2017
xem thêm »