tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19994608
Truyện ngắn
07.01.2013
Vũ Bằng
Một cách trừng phạt khác thường (4)

HiênĐa nói:


– Tôi không bao giờ tin những trò vớ vẩn như thế, hẳn ông có biết. Tôi chỉ nói lên một sự việc mà tôi không hiểu; mà nó bắt đầu làm cho tôi bực mình. Ở đây, nhất định có một cái gì. Nhưng trong nhiều trường hợp liên quan đến một địa điểm có ma thì hầu hết là có sự thù ghét, sự báo oán, đàng này tôi lại thấy tôi được kính trọng, yêu thương, thèm muốn. Chính vì thế, tôi thấy rùng rợn quá, ghê tởm quá.


Cha Mười Sơn đột nhiên nhớ lại cái buổi đầu tiên ông đến ăn cơm nhà giáo sư HiênĐa và sự ghê tởm mà giáo sư thốt ra trong câu chuyện đối với một người nào đó mà ông có thể thương yêu nồng nhiệt. Theo tinh thần câu chuyện xa xôi đó, sự việc hôm nay có vẻ kỳ lạ hết sức. Nó dường như là một hình phạt rơi vào đầu giáo sư vì giáo sư đã phạm một cái tội không yêu thương ai, dù là một cá nhân hay nhân loại nói chung. Phải biết đâu lại không phải là một hình phạt dùng trị một người không có tình yêu thương...


Nhưng thấy vẻ mặt cau có của bạn ông, cha quyết định không để mắc vào cái lưới của sự tin tưởng, vẩn vơ như thế.


Ông thản nhiên nói:


– Ở đây nhất định không có thể có cái gì...


– Thế con két nó bắt chước ai?


– Bắt chước một người nào đó đã đến đây...


– Chỉ có thể là tuần trước bởi vì trước đây nó không hề nói như thế bao giờ. Và xin ông bạn nhớ cho rằng trước khi tôi đi nghỉ mát, tôi nhận thấy rằng nó ngó láo liên, nó quan sát và cố bắt chước một người nào đó, kể từ chiều hôm tôi đi sang công viên. Trước đó, tuyệt nhiên không có thế.


Mười Sơn nhắc lại một cách hơi lì:


– Một người nào đó có một giọng nói như thế hẳn đã vào đây trong khi ông đi vắng.


– Tôi có thể biết ngay bây giờ.


Vừa nói ông vừa nhận cái chuông đặt trên bàn. Lập tức, Bích đẩy cửa vào phòng.


Ông HiênĐa hỏi với một giọng khô khan:


– Anh Bích, có người nào vào căn phòng này trong khi tôi đi nghỉ mát không?


– Thưa ông, tôi chắc chắn là không, trừ hai chị người làm và tôi, thưa ông.


Tiếng nói lạnh lùng của người hầu bàn tỏ vẻ ngạc nhiên, gần như là phật ý.


HiênĐa vung tay lên chỉ vào lồng chim.


– Con két vẫn ở nguyên chỗ, trong suốt thời gian tôi đi vắng?


– Thưa ông, vâng.


– Không ai thay chỗ hay đem nó đi nơi khác, dù là trong chốc lát?


Mặt Bích đột nhiên có tinh thần, y cắn môi:


– Chắc chắn là không.


– Cám ơn anh. Đủ rồi.


Người hầu bàn lui ra, có vẻ hơi khó chịu. Đến cửa, y sắp bước ra ngoài, ông HiênĐa kêu lại:


– Một lát nữa, anh Bích!


Người hầu bàn dừng lại. HiênĐa bậm môi, vuốt râu hai ba cái:


– Anh có nghiệm thấy... là... con két gần đây nói với một giọng khác hẳn trước, rất khó chịu?


– Thưa ông, có.


– Vậy ư? Thế từ bao giờ vậy?


– Từ khi ông đi. Nó cứ nói như thế mãi.


– Đúng vậy. Thế anh nghĩ sao?


– Thưa ông bảo sao?


– Anh nghĩ ra sao và việc con két tự nhiên nói giọng ấy?


– Ối! có lẽ chỉ là nó rỡn, thưa ông.


– Tôi biết. Rồi, cảm ơn.


Bích ra ngoài, đóng cửa khe khẽ. HiênĐa nhìn bạn và nói:


– Ông thấy chưa?


Ông cha nói:


– Thật quả là kỳ lạ. Thật là kỳ lạ. Ông có chắc chắn là ông không có người đầy tớ nào có tiếng nói, giọng nói ấy?


– Thưa ông Mười Sơn. Ông có bao giờ nuôi một người đầy tớ, dù chỉ ba ngày, mà có tiếng nói như thế không?


– Không.


– Người chị hầu phòng tôi làm việc với tôi đã năm năm, còn chị bếp thì làm việc đã bảy năm. Ông đã nghe thấy tiếng anh Bích. Ba người này làm việc cho tôi. Một con két không bao giờ bắt chước một tiếng nói mà nó không nghe thấy bao giờ. Thế thì nó nghe thấy tiếng nói ấy ở đâu?


– Nhưng chúng ta không nghe thấy gì hết.


– Không mà chúng ta cũng chẳng trông thấy gì. Nhưng nó thì nó nghe thấy. Nó cảm thấy cái gì. Ông há chẳng trông thấy nó đưa cái gì. Ông há chẳng trông thấy nó đưa cái đầu ra để “người ta” gãi đó sao?


– Nó dường như làm như vậy. Phải.


– Nó làm như thế thật chứ “dường như” gì nữa?


Cha Mười Sơn không nói gì hết. Ông cảm thấy bực bội mỗi lúc mỗi tăng lên, đến cái mức gần như lo sợ.


HiênĐa nói, hơi cáu bẳn:


– Thế bây giờ ông đã tin chưa?


– Không, tất cả vụ này là kỳ lạ hết sức, nhưng một khi tôi chưa nghe thấy, trông thấy hay cảm thấy như ông sự hiện diện của một người hay một vật nào đó, tôi không thể tin được.


– Ông muốn nói rằng ông không muốn tin?


– Có thể như thế. Nhưng tôi phải đi ngay bây giờ.


HiênĐa không giữ cha Mười Sơn, nhưng tiễn ra đến cửa, ông nói:


– Ông vui lòng đến thăm tôi chiều mai, nghe!


Cha Mười Sơn có một cái hẹn. Ông ngần ngừ: Tôi sẽ đến ông.


Ra đến hè đường, ông thấy nhẹ nhõm hẳn. Ông quay lại nhìn thấy HiênĐa đi vào trong nhà và ông rùng mình.


 


Chiều hôm đó, cha Mười Sơn đi bộ từ Hây-Bắc đến nhà. Ông muốn thể thao một chút sau một buổi tối kỳ lạ và mệt mỏi. Buổi tối mà bây giờ nhớ lại ông tưởng như một cơn ác mộng.


Trong khi ông đi, giọng ỏn ẻn, khó chịu của tiếng nói ấy vẫn làm vang tai, nhức óc ông. Ông cố gạt bỏ nó đi và suy nghĩ một cách bình tĩnh. Ông giáo sư đã đưa ra bằng chứng là có sự hiện diện kỳ lạ ở trong nhà của ông ta. Một người biết điều phải chăng có thể chấp nhận một bằng chứng như thế không?


Cha Mười Sơn tự nghĩ không thể được. Hành động của con két chắc chắn là quái đản. Con chim ấy đã tạo ra cho người ta thấy một ảo tưởng rất mơ hồ là có sự hiện diện vô hình ở trong phòng. Nhưng có thật có sự hiện diện ấy không? Ông cha vẫn cương quyết phủ nhận trong thâm tâm. Tất cả những người ngoan đạo, tin tưởng triệt để những kỳ tích ghi trong kinh thánh và xếp đặt cuộc đời theo những giáo điều mà họ cho là đã trực tiếp nhận được của vị chúa tể mọi Thế giới xa xôi ít chịu chấp nhận ý kiến có sự xen lẫn phi thường vào những công việc diễn ra trong đời sống hàng ngày. Họ cương quyết bác bỏ ý kiến đó. Họ nhìn thẳng vào nó như nhìn vào một trò bịp bợm ngây thơ, nếu không là một trò phạm tội.


Cha Mười Sơn sẵn sàng đứng về phía dư luận bình thường của một ông cha thành thật. Ông cương quyết theo đúng như thế. Ông tự nhủ không thể chấp nhận là bạn ông bị trừng phạt một cách khác thường vì thiếu lòng thương yêu, vì không có tình cảm bằng cách bắt buộc phải chịu đựng tình yêu của một người ghê tởm nào đó mà người ta không thể nhìn thấy. Tuy nhiên, trường hợp của HiênĐa dường như là hậu quả của một sự trừng phạt mà ông ta phải chấp nhận.


Đêm ấy, Cha Mười Sơn cầu xin cho bạn ở trước bàn thờ nhỏ, thiết lập sơ sài trong phòng ngủ của ông.


Chiều hôm sau, lúc ông đến nhà của giáo sư Hiên-Đa, chị hầu phòng ra mở cửa. Cha Mười Sơn đi như chạy lên cầu thang, tự hỏi Bích gặp chuyện gì mà không ra mở cửa cho ông như mọi ngày.


HiênĐa đón ông ở cửa phòng sách. Ông cha hết sức cảm động vì ông giáo sư khác hẳn ngày thường. Mặt ông xám màu tro, ở khóe mắt có nhiều vết nhăn, toàn thể có vẻ xúc động, ngơ ngác mà lại như lo sợ một cái gì ghê gớm lắm. Tóc ông và quần áo rối bời. Đôi môi mím lại như toàn thân ông bị xáo trộn vẻ thần kinh.


Bắt cái bàn tay nóng hổi như sốt của bạn, cha Mười Sơn hỏi:


– Bích đâu? Y có làm sao không?


– Y đã thôi việc rồi.


– Thôi việc? Ông cha hết sức ngạc nhiên, hỏi.


– Vâng, thôi việc chiều nay.


– Có thể biết tại sao chăng?


– Để tôi nói ông nghe. Cái việc y thôi việc làm cho tôi liên hệ chặt chẽ đến... Đến cái việc ghê tởm đó... Ông có nhớ là hôm chúng ta thảo luận với nhau về quan hệ giữa chủ nhà và người làm không?


Ông cha kêu lên:


– À, tôi nhớ ra rồi. Và đột nhiên ông thấy trí óc ông bừng sáng. Ông hỏi tiếp:


– Thế cuộc khủng hoảng đã xảy ra rồi à?


Ông giáo sư cười chua chát:


– Đúng thế. Cuộc khủng hoảng xảy ra rồi. Tôi kêu Bích yêu cầu anh giúp tôi với tình người và tình bạn. Y từ chối lời yêu cầu của tôi. Tôi trách móc y. Y xin thôi việc. Tôi trả lương cho y và bảo rằng y có thể rông ngay. Y đi liền. Tại sao ông lại nhìn tôi như vậy?


Cha Mười Sơn vừa nói vừa đưa mắt nhìn chỗ khác.


– Tôi không biết nhưng Nã Phá Luân cũng đi nữa sao?


– Tôi bán nó cho một nhà bán gia súc ở đường Sáp Lê.


– Tại sao vậy?


– Nó làm cho tôi ốm vì nó bắt chước cái... Khỏi nói ông đã biết hôm qua nó làm gì. Vả chăng tôi không cần nó đem lại bằng chứng rằng tôi không mê. Bây giờ, tôi tin chắc rằng tất cả những cái gì trước đây tôi tưởng xảy ra thì đã xảy ra thật rồi, tôi chẳng cần phải thuyết phục người khác nữa. Xin lỗi ông tôi đã nói thế với ông, ông Mười Sơn à, nhưng bây giờ tôi quả quyết rằng nếu tôi sốt sắng muốn cho ông tin có sự hiện diện ở tại đây, ấy là vì lúc ấy tôi còn nghi ngờ một chút. Bây giờ, mọi sự nghi ngờ đều tiêu tan cả rồi. Nghĩa là tôi không còn nghi ngờ gì hết.


– Xin cho biết tại sao?


– Xin vâng.


Cả hai cùng đứng gần lò sưởi. Họ đứng như thế trong khi HiênĐa nói:


– Đêm qua, tôi thấy nó.


– Cái gì?


– Tôi xin nói với ông là đêm qua, lúc tôi lên đi ngủ, tôi thấy một cái gì theo tôi và sát vào người tôi.


– Ghê, rùng rợn!


HiênĐa thấy ông cha nói thế, cười nhạt:


– Tôi nhận rằng cái vật ấy ghê tởm và rùng rợn. Nhưng tôi không biết phải hành động ra sao; nên phải kêu Bích đến cứu tôi.


– Nhưng ông HiênĐa, cái đó là cái gì? Hoặc là nó có vẻ giống cái gì?


– Nó có vẻ giống người ta. Có vẻ, tôi nói như thế, điều tôi muốn nói rõ ràng là tôi cảm thấy đó là một sự tiếp xúc của người ta hơn là bất cứ vật gì khác. Nhưng, tôi không trông thấy gì hết. Duy có ba lần, tôi thấy có sự ôm ghì lấy tôi, ôm ghì nhè nhẹ, nhưng cương quyết, dường như mơn trớn tôi, cố làm cho tôi lưu ý. Lần thứ nhất, việc đó xảy ra ở đầu cầu thang, trước gian phòng này. Tôi xin thú thật với ông tôi nhảy một bước đến cửa phòng ngủ. Tôi thấy rõ là có người đuổi theo. Đó là sự thật, chẳng có vẻ vang gì cho tôi... Tuy nhiên, đúng lúc tôi bước vào trong phòng ngủ, tôi thấy cái vật đó cùng vào với tôi và đúng như lời tôi đã nói, nó nằm sát vào cạnh tôi với một sự mến thương ghê tởm buồn nôn lộn mửa. Thế rồi...


Ông ngừng lại, quay nhìn ngọn lửa và ông cha rất xúc cảm vì sự bất lực và nỗi thất vọng phát ra từ thái độ ấy.


– Thế rồi sao?


HiênĐa ngửng đầu lên. Mặt ông đượm một vẻ trầm lặng hết sức đau khổ:


– Thế rồi, tôi xấu hổ mà thú nhận với ông tôi mất bình tĩnh, tự nhiên không hiểu tại sao, đến nỗi tôi tưởng không bao giờ tôi lại có thể như thế được. Tôi lấy tay hất cái vật ấy ra. Nó lại càng ôm riết lấy tôi. Sự ôm ấp, sự đụng chạm đó, tôi không thể nào chịu nổi. Tôi kêu Bích, tôi la thật lớn. Hình như tôi kêu “Cứu tôi với”.


– Vậy y đến?


– Phải. Bích đến với dáng điệu bình thản thường ngày. Êm ái và vô tri giác. Sự bình thản đó tương phản đến sự ghê tởm và rùng rợn của tôi lúc đó làm cho tôi tức giận. Tôi không còn phải là tôi nữa, không không!


Nói đến đây, đột nhiên ông ngừng lại. Một lát sau, mới tiếp:


– Nhưng tôi có cần phải nói với ông điều này không?


– Ông nói gì với Bích?


– Tôi nói rằng y phải tới nhanh lên, chậm chạp như y không thể tha thứ được. Y xin lỗi, giọng lạnh lùng của y làm cho tôi rất giận, tôi đưa ra một tràng chửi rủa ngu xuẩn và đáng khinh; tôi bảo y là cái máy vô hồn, tôi chửi y tàn tệ. Đoạn thấy cái vật ấy lại xán vào lòng tôi, tôi van Bích giúp tôi bằng cách ở lại phòng tôi, đừng để cho tôi nằm một mình. Ý tôi muốn nói đừng để cho tôi ở trong phòng với kẻ nó định giết tôi. Chẳng biết y sợ hay mích lòng vì những lời chửi rủa của tôi khi nãy, y trả lời rằng y vào làm với tôi là hầu bàn chớ không phải để ngủ đêm với tôi. Tôi nghĩ rằng y ngờ tôi say rượu. Vâng, chắc thế. Sáng nay, y nói rằng y xin thôi việc. Tôi trả y một tháng lương, cấp cho y một chứng chỉ tốt và cho y đi liền khỏi nhà tôi.


– Nhưng đêm ấy, ông ngủ ra sao?


– Tôi không ngủ một chút nào.


– Thế ông ở đâu? Ở trong phòng?


– Vâng, tôi mở cửa để cho cái quái ấy nó đi.


– Ông cảm giác nó cứ ở lại.


– Nó không rời tôi một phút, nhưng nó không đụng chạm đến tôi nữa. Trời hửng sáng, tôi tắm rửa, tôi nằm nghỉ lưng một chút, nhưng tôi không nhắm mắt. Sau bữa cơm sáng, tôi giải quyết vụ Bích và tôi trả tiền y. Rồi tôi lên đây. Gân cốt tôi căng thẳng. Tôi ngồi, tôi cố gắng viết và suy nghĩ. Nhưng sự yên lặng bị khuấy phá một cách khốn nạn.


– Sao vậy?


– Vì tiếng nói kinh khủng ấy, tiếng nói của đứa dở hơi dở hám, điên khùng rồ dại, mà lại cố làm ra vẻ tỉnh trí, đa cảm, đa sầu. Chao ôi, trời ơi! Tởm đến thế là cùng!


Tay chân ông run lên. Một lát sau ông tỉnh trí lại, cố sức làm ra vẻ cương quyết và tiếp:


– Đến thế là cùng! Tôi không thể nào chịu nổi được nữa, tôi bảo đi kêu cho tôi một cái xe, tôi xách cái lồng két lên và đem tới một nhà bán chim, chó ở đường Sáplê, bán thốc, bán tháo với một giá rẻ mạt. Tôi ngờ rằng lúc bán két rồi, tôi gần muốn điên, bởi vì ra khỏi cái cửa tiệm khốn nạn ấy rồi, tôi đứng ở trên hè; trong giây lát giữa những chuồng thỏ; chuồng chuột bạch, chuồng chó, tôi cười lớn, cười muốn chết. Dường như hai vai tôi trút được một gánh nặng, dường như bán được tiếng nói quái gở ấy. Rồi tôi bán luôn được cái vật nó đã làm tình làm tội tôi.


Nhưng đến khi tôi về nhà, nó ở nguyên tại đó. Bây giờ nó vẫn còn ở đấy. Tôi ngờ rằng nó ở mãi đấy, không đi đâu hết.


Ông gác chân vào lò sưởi và nói:


– Trời đất quỷ thần ơi, tôi biết làm sao bây giờ? Tôi xấu hổ cho tôi ông Mười Sơn à, nhưng tôi tin rằng ở đời có những sự việc mà một số người không có cách gì chịu nổi. Thưa ông, tôi không chịu nổi sự việc này, thế là xong.


Ông không nói nữa, ông cha cũng im. Ông nhận rằng nói bao nhiêu để an ủi, vỗ về HiênĐa cũng vô ích. Ông ngồi đừ ra đó, mặt cúi gầm xuống đất. Sau, ông nói:


– Ông Hiên-Đa, tôi không nghi ngờ sự khổ ải mà ông đang chịu đựng tại đây. Ông cần phải đi ngay. Bao giờ thì ông diễn thuyết ở Ba-Lê nhỉ?


– Tuần tới, trong chín ngày nữa.


– Ngay ngày mai, ông phải đi Ba-Lê liền. Có phải ông đã nói với tôi rằng cái của quái ấy không theo chân ông, một khi ông rời nhà ra đi?


– Không bao giờ nó theo tôi ra khỏi nhà, cho tới bây giờ.


– Thế thì ngay sáng sớm mai ông đi đi. Ông chỉ trở về nhà sau khi ông diễn thuyết rồi. Chúng ta sẽ thấy là việc ra đi ấy có chấm dứt vụ này không? Hy vọng đi, ông bạn ơi, cứ hy vọng đi!


Ông đứng dậy và bắt tay ông giáo sư:


– Ông đi thăm tất cả các bạn hữu ông ở Ba-Lê. Tìm các cách để giải trí. Tôi còn muốn nói rằng ông nên tìm... nên tìm một cách cứu vớt khác.


Ông giáo sư nói:


– Ngay ngày mai, tôi đi. Tôi sẽ đáp chuyến xe lửa mười giờ sáng và chiều nay tôi sẽ ngủ ở khách sạn Gô-ve ở gần nhà ga. Ở như thế, tiện đáp xe lửa hơn.


Trên đường về, tối hôm ấy, cha Mười Sơn không ngớt suy nghĩ câu nói “Ở như thế tiện đáp xe lửa hơn”. Ông lo sợ cho sức khỏe của HiênĐa đã buộc ông ta phải nói lên câu ấy”.


 


Trong những ngày kế tiếp, cha Mười Sơn không nhận được một bức thư nào của giáo sư Hiên-Đa. Sự yên lặng đó làm cho ông yên tâm phần nào. Đến ngày diễn thuyết, rồi ngày ấy qua đi. Sáng hôm sau, cha Mười Sơn giở vội tờ “Thời báo” ra coi và xem các hàng báo để kiếm bài tường thuật buổi đại hội của các nhà bác học mà HiênĐa lên tiếng.


Với cặp mắt lo âu, cha lướt tất cả các cột báo trên xuống dưới. Đột nhiên tay cha run bần bật. Ông vừa đọc thấy tin sau:


“Chúng tôi rất tiếc báo tin cho đọc bạn hay rằng: Giáo sư HiênĐa đột nhiên bị đau nặng hôm qua, lúc ông lên tiếng trước các nhà bác học ở BaLê. Người ta nhận thấy ông xanh xám và không bình thường lúc ông đứng lên cất tiếng. Tuy nhiên ông diễn đạt ý kiến ông bằng tiếng Pháp rất dễ dàng và lưu loát trong chừng mười lăm phút đồng hồ. Bỗng ông ngưng lại, nhìn chung quanh như thể là sợ sệt và lo âu hết sức. Có hai ba lần ông phải ngừng lại như thể tìm cách nhớ lại những điều ông mang ra trình bày. Nhưng một lát sau, với một sự cố gắng rõ rệt, ông sực nhớ ra, tiếp tục nói chuyện với các thính giả. Thế rồi bỗng nhiên ông lại ngưng nữa, đi đi lại lại trên diễn đàn một cách khác thường, y như thể bị một cái gì theo đuổi, một cái gì mà ông sợ hãi... Ông xua tay, la lên một tiếng kỳ lạ, khô khan rồi ngất xỉu. Các thính giả đứng cả dậy, các bà ra về hết, tất cả đều hoảng hốt. Người ta cho rằng giáo sư bị suy nhược vì lao tâm, lao lực quá. Các giới lân cận cho biết nay mai giáo sư sẽ trở về Anh để tịnh dưỡng. Chúng tôi thành thật mong rằng, giáo sư sau khi tịnh dưỡng, sẽ trở lại mạnh mẽ như trước và tiếp tục công cuộc nghiên cứu mà thế giới hằng chờ đợi.”


Cha Mười Sơn bỏ rơi tờ nhật báo xuống đất đi vội vàng ra bưu điện đánh một bức điện đến Ba-Lê để hỏi thăm chi tiết. Ngay hôm đó, ông nhận được phúc đáp sau đây:


“Mai sẽ trở về. Xin đến thăm buổi chiều tại số 100. HiênĐa”


Đúng chiều hôm sau, cha Mười Sơn đến nhà Giáo sư HiênĐa, ông vào ngay trong nhà và thấy HiênĐa ngồi ở cạnh lò sưởi trong phòng sách. Ông xanh như tàu lá, đầu gối ông trùm một cái mền. Ông có vẻ một người bịnh nặng lâu ngày. Mắt ông ngơ ngác, như mất thần.


Ông cha giựt mình, nhưng cố giữ lắm mới không kêu ra tiếng, ông định hỏi thăm thì ông giáo sư xua tay bảo:


– Vâng, tôi biết rồi. Tôi biết câu chuyện ở Ba-Lê.


Lưỡi ông líu lại, nói nghe không rõ. Ông cha nói:


– Đáng lẽ, ông không nên đi. Tôi lầm lỗi khi khuyên ông đi. Đáng lẽ tôi phải khuyên ông đừng nên đi mới phải. Ông không được mạnh như lúc thường.


Ông giáo sư đáp vẻ bực mình:


– Tôi mạnh khỏe. Nhưng cái của quái ấy nó theo dõi tôi đến tận Ba-Lê.


Ông đảo con mắt nhìn khắp gian phòng, đẩy ghế sang chỗ khác và kéo cả cái mền lên quá đầu gối. Ông cha tự hỏi sao ông lại phải trùm mền như vậy trong khi lửa trong lò sưởi cháy bùng bùng mà đêm ở ngoài kia chẳng lấy gì làm lạnh.


HiênĐa nói tiếp:


– Nó theo tôi đến tận BaLê.


Ông vừa nói vừa nghiến hai hàm răng lại với nhau. Ông ngưng một lát nữa. Rõ là ông cố gắng tự kiềm chế. Nhưng cố gắng vô ích. Ông không thể chống lại mình. Ông quay bên này, quay bên kia và bỗng nhiên nói như kêu lên một cách tuyệt vọng.


– Ông Mười Sơn à, cái quái đó, cái vật đó, bất kể nó là gì, nó không rời tôi một phút. Nó không chịu ở trong căn nhà này nếu không có tôi, bởi vì nó yêu tôi, yêu da diết, yêu một cách lì lợm, cố kết, yêu một cách ngu muội, điên rồ. Nó theo tôi đến Ba-Lê, ở lại đó với tôi, bám riết tôi đến tận phòng diễn thuyết, sát sát vào người tôi và vuốt ve, mơn mớn tôi trong khi tôi nói. Rồi nó lại về đây với tôi. Hiện giờ nó ở đây. Nó sà vào lòng tôi, hôn hít tôi, vuốt ve tôi, cầm lấy tay tôi. Ông bạn ơi, ông bạn ơi, ông có thấy nó ở đây không?


Ông cha đáp một cách thành thật:


– Không, tôi không thấy gì cả.


Hiên-Đa, như không nghe thấy ông cha nói, tiếp một cách uất ức, giận dữ, mà tay thì kéo mền lên trùm kín hai cẳng.


– Tôi phải tìm các cách để cho nó không rờ được vào người tôi. Tởm quá, hết sức tởm, nhưng không ăn thua, không ăn thua gì cả. Cái gì vậy? Nó có thể là cái gì vậy? Tại sao đêm ấy nó lại đến với tôi? Sao nó lại bám lấy tôi?


Ông trả lời liền, nhưng giọng dịu ngọt hơn:


– Có lẽ là một cách trừng phạt.


– Trừng phạt gì?


– Ông ghét tình thương. Ông xua đuổi một cách khinh bỉ tình đời. Ông không cảm thấy muốn tỏ tình mến yêu ai. Mà ông cũng không muốn nhận sự yêu thương của bất cứ người nào. Có lẽ đó là một sự trừng phạt.


HiênĐa nhìn chung quanh một cách sợ sệt và nói:


– Ông tin vậy ư?


Ông cha nói:


– Tôi không biết. Nhưng cũng có thể như thế. Ông nên chịu đựng nó, nếu có thể thì tiếp nhận nó. Có thể sẽ chấm dứt sự hành hạ ông.


– Tôi biết rằng vật ấy không muốn làm hại tôi, nó theo đuổi tôi vì thương yêu tôi. Nó gần tôi vì một sự hấp dẫn kỳ lạ của tôi phát ra mà chính tôi không biết. Tôi biết rõ như thế. Nhưng đối với một người tâm tính như tôi, chính đó là một khía cạnh rùng rợn, thê thảm nhất của vấn đề. Nếu nó tấn công tôi, nếu nó đánh tôi một cái rất mạnh, tôi sẽ trở lại thành một người, tôi sẽ gồng mình chiến đấu. Nhưng sự nũng nịu, mềm dẻo, sự thương yêu ghê tởm đó, sự tôn thờ ngu ngốc của con vật điên khùng, lì lợm, thúi tha, tức tủi đó, tôi không có cách gì chịu nổi. Nó muốn tôi cho nó gì? Tôi thấy nó mơn trớn tôi, với một ngón tay như cái lông, làm cho tim tôi rung động, tuồng như nó muốn đến xem những tiếng đập của tim tôi, hầu khám phá những bí ẩn sâu thẳm nhất, kín đáo nhất của tôi cùng với những mơ ước của tôi. Tôi không có gì riêng của tôi nữa!


Ông đứng dậy, hết sức băn khoăn, xúc động, nói tiếp:


– Tôi không có cách gì ở một mình mà không ai động chạm đến tôi, vuốt ve tôi, rình mò tôi, tôi không có một phút yên ổn, ông Mười Sơn à, tôi chết vì nó, tôi chết mất...


Ông lại ngồi phịch xuống ghế, nhìn chỗ này chỗ kia với cặp mắt sợ hãi, với sự say mê của người mù xây ảo tưởng là cứ cố gắng hết sức và liên tục thì mắt lại nhìn thấy như thường. Ông cha nói:


– HiênĐa, ông cố gắng chịu đựng nó đi. Hơn thế, ông nên đem lại cho cái vật đó điều mà nó muốn.


– Nhưng nó muốn tình yêu của tôi.


– Thế thì ông cố gắng đem cho nó tình yêu và có lẽ nó sẽ ra đi sau khi đã thụ lãnh điều mà nó muốn đến kiếm ở đây.


– Chà chà, ông nói với tính cách của nhà tu hành: Hãy chấp nhận những người đầy ải, hành hạ anh, hãy làm điều tốt cho những người làm nhục anh, không, quả là ông lên giọng nhà tu hành, ông Mười Sơn à.


– Không, tôi nói với tình bạn. Tôi nói từ trái tim. Ý kiến ấy đột khởi ở trong tôi, thực hư cái gì không cần biết, nhưng có thể coi như là một bài học kỳ lạ. Tôi đã học nhiều bài học, hầu hết đều khó khăn, vất vả. Tôi sẽ còn nhận nhiều bài học nữa. Nếu ông có thể tiếp nhận...


Ông HiênĐa la lên:


– Không đời nào! Không đời nào! Tôi có thể đem cho nó sự căm thù, cho luôn, nhưng không cho cái gì khác, chỉ có sự căm thù mà thôi, chỉ có sự căm thù mà thôi!


Trong khi ông nói, hai má ông xám xịt như sáp, đến nỗi có thể bảo ông là một cái thây ma, nếu không có cặp mắt sống động. Ông cha sợ ông xỉu, nhưng ông đột nhiên lại đứng lên và nói với một giọng the thé, chói tai, cáu bẳn:


– Mười Sơn! Ông Mười Sơn!


Mặt HiênĐa bỗng nhiên sáng rực lên một niềm vui bất thần, điên rồ. Ông la lên:


– Nó muốn rời tôi để đi khỏi nơi đây. Nó muốn đi! Nhanh lên, đừng chậm trễ một phút nào. Mở cửa sổ cho nó! Mở cửa sổ!


Ngạc nhiên hết sức, ông cha tiến lại cái cửa sổ gần ông nhất, kéo màn và mở rộng ra. Người ta nghe thấy tiếng cành cây kêu lắc rắc trong gió chiều. HiênĐa cúi xuống phía trước dựa tay vào ghế. Một phút yên lặng. Rồi HiênĐa nói thì thào rất nhanh:


– Không, không, mở cửa kia ra, mở cửa lớn, cửa ra vào. Tôi cảm giác, tôi cảm giác nó muốn đi ra đó. Cái cửa mà nó đã tới đây. Nhanh lên, nhanh lên, mở ra, mở cửa ra, tôi nhờ ông mở nhanh lên.


Ông cha làm theo lời Hiên-Đa, chạy ra mở toáng cửa lớn ra. Ông giáo sư đứng thẳng, hơi nghiêng ra phía trước. Hai mắt ông hau háu. Đợi chờ, ra vẻ nóng ruột. Đến khi ông cha quay lại, HiênĐa giơ hai bàn tay gầy guộc, giận dữ, chỉ ra hành lang.


Vội vàng, ông cha đi ra hành lang, trèo vội thang xuống dưới nhà. Vì ông đi trong bóng tối, ông cảm như nghe thấy ở đằng sau có một tiếng kêu khe khẽ từ trong phòng đưa ra, nhưng ông không dừng bước. Ông vội vàng mở cửa lớn ra, nép vào tường. Ông đợi một lát theo ý ông Hiên-Đa, ông sắp đóng cửa lại, tay đã đặt lên quả đấm thì tự nhiên mắt ông như bị cái gì buộc phải nhìn sang bên kia công viên. Đêm ấy mờ mờ có trăng non. Mắt ông tự nhiên nhằm vào một cái ghế ở sau rào sắt.


Trên ghế có một cái gì đã ngồi ở đó rồi. Một hình bóng kỳ lạ, gập lưng xuống. Ông cha nhớ lại câu chuyện mà HiênĐa đã kể cho ông nghe về cái đêm ông ta thấy cái hình bóng ấy lần đầu tiên. Ông rờn rợn ở xương sống, vừa tò mò mà lại vừa ghê tởm.


Vậy thì có thật là có một cái gì đã đến ở bên ông giáo sư? Cái gì đó đã làm xong công việc, đã thỏa mãn ý muốn và trở lại lối sống trước đây của nó?


Ông cha chần chừ một lát ở bực cửa. Rồi ông dấn bước ra khỏi cửa, băng qua đường, mắt vẫn không rời cái cái vật đen ngồi một cách kỳ lạ trên ghế. Ông không thể đoán được hình dáng nó ra sao, nhưng hình như là nó không giống bất cứ cái gì ông đã trông thấy từ trước tới nay. Đến lúc sắp qua cửa công viên, ông tự nhiên cảm thấy có ai lôi tay ông lại.


Ông giựt bắn mình, quay lại và thấy một cảnh sát viên nhìn chòng chọc vào ông một cách nghi ngờ.


Viên cảnh sát hỏi:


– Ông định mưu toan gì vậy?


Ông Mười Sơn tự nhiên nhận ra là ông không đội nón và dáng điệu ông hớt hơ hớt hoảng, mà lại mặc áo thầy tu, hai mắt hau háu nhìn vào cái băng trong công viên. Dáng điệu ấy có vẻ khác thường, dễ làm cho người ta nghi ngờ.


Ông đáp:


– Không có gì lạ đâu, thầy cảnh sát à.


Vừa nói, ông vừa dúi vào tay người cảnh sát tí tiền. Rồi tiến vào công viên, hơi bực vì bị quấy rầy. Ông cha bước vội đến cái băng. Đến cái băng, không có gì hết. Tấn tuồng HiênĐa tái diễn, gần đúng hết, không sai mấy chút. Thất vọng dâng lên đầy lòng, ông cha trở lại nhà ông Hiên-Đa, trèo vội cái cầu thang nhỏ hẹp, bước vào trong phòng sách.


Trên tấm thảm đặt ở trước lò sưởi, sát với ngọn lửa rực hồng, ông HiênĐa nằm sóng sượt, đầu ngoẻo ở trên cái ghế mà ông vừa ngồi khi nãy. Một vẻ lo sợ kinh khủng hiện lên nét mặt cau có của ông ta. Nhìn kỹ, ông cha biết là ông HiênĐa đã chết.


Ông bác sĩ mà người ta kêu tới nói rằng ông giáo sư chết vì tim yếu quá.


Nghe thấy nói thế, cha Mười Sơn lẩm bẩm:


– Tim yếu, à ra thế...


Ông quay lại nhìn ông bác sĩ và nói:


– Nếu biết sớm có thể cứu được không?


Bác sĩ đi bao tay vào, đáp:


– Có thể, nếu biết kịp thời. Tim yếu quá cần phải được trông nom hết sức cẩn thận. Ông giáo sư làm việc quá sức. Đáng lý ra ông phải thay đổi cách sống đi.


Ông cha gật đầu:


– Vâng, vâng.


Rồi quay đi, mặt buồn rười rượi.


 


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học, 2002.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Anh Nhoàng - Triệu Văn Đồi 07.07.2017
Thần sông - Trịnh Bích Ngân 30.06.2017
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
Nghĩa địa bên sông Chanh - Ngọc Toàn 07.06.2017
Hoa khôi xứ Mường - Ngọc Toàn 01.06.2017
Ông chéo ngà, Bà rách tai - Ngọc Toàn 01.06.2017
Kẻ vô ơn - Ngọc Toàn 01.06.2017
Đầu Phạm Nhan - Ngọc Toàn 01.06.2017
Rắn hổ mang chúa - Ngọc Toàn 01.06.2017
xem thêm »