tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19376849
Truyện ngắn
06.01.2013
Vũ Bằng
Một cách trừng phạt khác thường (3)

Bích đi ra, HiênĐa đợi cho y đi khỏi, mở cửa phòng ăn thò đầu nhìn vào bên trong, đứng một giây hoàn toàn im lặng. Sau đó, ông lùi ra, đóng cửa và nói:


– Lên đây, ông!


Cha Mười Sơn như có ý muốn hỏi, nhưng rồi lại không nói gì. Họ trèo lên thang, vào phòng sách. HiênĐa đưa mắt thật lẹ nhìn gian phòng. Lửa cháy to ngọn trong lò sưởi. Những tấm màn màu xanh che rủ phòng. Ánh sáng chói lọi của ngọn đèn điện chiếu vào những hàng sách. Bàn làm việc dọn dẹp ngăn nắp. Cái lồng két không phủ tấm dạ xanh: Nã Phá Luân đứng trên cầu, cúi xuống, xù xù lông lên, hai cẳng nó dài, dường như bọc một làn da cá sấu, bám lấy cây cầu. Mắt tròn nhấp nháy, dường như có bao một cái màng, có lẽ vì tuổi tác.


HiênĐa nhìn chăm chăm vào con chim, một hồi lâu rồi tặc lưỡi. Con Nã Phá Luân cựa mình, giơ một cẳng lên, duỗi móng ra, đi về phía gần cây cầu. Tới những cái nan lồng gần với Giáo sư nhất và tựa đầu vào đó. Ông HiênĐa lấy ngón tay trỏ gãi hai ba lần lên đầu con chim, mắt vẫn chăm chú nhìn nó. Đoạn ông trở lại gần lò sưởi, đúng lúc Bích mang khay trà vào.


Cha Mười Sơn đã ngồi trên ghế khác ngồi pha trà, trong khi Bích rời căn phòng, khe khẽ đóng cửa lại. Ông cha nhắp một giọng trà, thấy nóng, đặt xuống chiếc bàn nhỏ kế bên cạnh.


Ông hỏi:


– Ông yêu con két này lắm, phải không?


– Không hẳn thế. Thỉnh thoảng nhìn nó để tìm hiểu cũng hay. Tinh thần và bản chất của loài két kỳ lạ lắm.


– Ông nuôi nó từ bao giờ?


– Gần bốn năm. Trước khi tôi biết ông, tôi đã định đem nó cho đi. Bây giờ, tôi bằng lòng giữ nó lại.


– Thế à? Tại sao vậy?


– Một hai ngày gì đó, tôi sẽ nói cho ông hay.


Ông cha lại cầm chén lên, ông không bắt ông HiênĐa trả lời ông ngay, nhưng đến lúc hai người uống trà xong, ông nói:


– Thế nào? không khí ngoài biển có đem lại cho ông kết quả mong muốn hay không?


Ông HiênĐa đáp:


– Không.


Ông cha phủi mấy miếng vụn bánh rớt trên áo thầy tu và ngửng lên:


– Người khách lạ vẫn còn ở đây?


Hai con mắt ông nhìn chăm chăm vào ông giáo sư với một vẻ quyết liệt hơn cả khi nào hết.


Ông HiênĐa bình thản trả lời:


– Vâng, còn ở lại.


– Sao ông biết? Ông biết từ lúc nào? Lúc ông thò đầu vào phòng ăn?


– Không, sau khi vào trong phòng này. Người bạn kỳ khôi ấy tiếp đón tôi ở đây.


– Tiếp đón? Tiếp đón cách nào?


– Rất giản dị. Chỉ hiện diện là đủ rồi và cho tôi cảm thấy sự hiện diện ấy như là tôi có thể cảm thấy sự hiện diện của một người nào đó nếu tôi đi vào trong bóng tối.


Làm chủ mình triệt để, ông nói rất bình thản với một giọng ráo hoảnh mà ông vẫn thường quen nói.


Ông cha nói:


– Được lắm. Tôi không tìm cách chống lại cảm giác đó hay làm cách tiêu hủy nó bằng những lời giải thích. Nhưng cố nhiên, tôi rất lấy làm lạ...


– Tôi cũng vậy. Đời tôi chưa bao giờ lại ngạc nhiên như thế này. Cố nhiên ông Mười Sơn à, tôi không thể mong đợi ông tìm cái gì khác, ngoài cái việc mà tôi tưởng tượng là ở đây có một kẻ lạ mặt... Nhưng xin chờ một lát. Đừng bảo tôi là người trục trặc thần kinh, suy sụp cân não. Chỉ một vài ngày nữa, ông sẽ biết. Tôi tin chắc – trừ phi tôi đau thật, suy sụp cân não thì không kể – tôi tin chắc nay mai tôi có thể đem cho ông thấy bằng chứng là một người mới đến ở nhà tôi.


– Ông không cho tôi biết là bằng chứng thuộc loại nào?


– Chưa cho biết được. Trước hết sự việc phải rõ rệt đã. Trong khi chờ đợi, tôi nói với ông thế này: Nếu tôi không may mắn, không mang lại được cho ông bằng chứng nào tỏ ra rằng tôi không mơ ngủ, tôi bằng lòng để cho ông đưa tôi đến bất cứ một chuyên viên nào tùy ông lựa chọn và tôi sẽ hết sức chiều theo ý kiến ông lúc này: rằng đó chỉ là một sự sai lầm vô nghĩa lý. Có phải đấy là ý kiến của ông không?


Cha Mười Sơn lặng im giây lát. Rồi nói với một giọng lờ mờ:


– Có thể như thế...


HiênĐa hơi ngạc nhiên:


– Thế nhưng nếu không như thế?


– Chắc thái độ ông quả quyết một cách lạ lùng. Tuy nhiên tôi vẫn ngờ. Làm thế nào khác được? Tất cả chỉ là vấn đề tưởng tượng.


HiênĐa nói:


– Tôi sẽ sử dụng một chứng liệu vững chắc hơn là thái độ của tôi để khắc phục hay là tôi chịu thua và không bao giờ tìm cách thuyết phục để ông tin tôi nữa.


Đến khi họ bắt tay nhau tạm biệt, HiênĐa nói:


– Một hai ngày nữa, tôi sẽ viết thư cho ông. Tôi thấy rằng bằng chứng mà tôi sẽ đưa ra cho ông coi đã thành hình trong khi tôi đi vắng. Nhưng rồi một ngày gần đây, tôi sẽ biết...


Cha Mười Sơn hết sức băn khoăn, kinh ngạc lúc ông rời Hiên-Đa, lên xe buýt trở về tu viện.


 


Hai ngày trôi qua. Ông cha nhận được của HiênĐa một bức thư ngắn yêu cầu ông đến nhà số 100 Hây-Bắc, và nếu có thể thì đến ngay chiều đó. Vì phải dự một buổi họp, ông cha không đến được. Hôm sau, là một ngày chủ nhật. Ông viết thư cho ông Hiên-Đa, báo là ông sẽ tới ngày thứ hai và sau đó ông nhận được một bức điện thư như sau: “Đúng thứ hai, nghe? Đến ăn cơm bảy rưỡi. Hiên-Đa”


Bảy rưỡi thứ hai, ông đến căn nhà 100 Hây-Bắc.


Bích ra mở cửa.


Ông cha vừa cởi áo đưa cho Bích vừa hỏi:


– Thế nào? Ông giáo sư mạnh khỏe?


– Tôi tin như vậy. Ông không phàn nàn gì hết.


Bích nói với một vẻ hết sức trịnh trọng. Rồi tiếp:


– Xin mời cha lên lầu.


HiênĐa đã đứng đợi ở cửa phòng sách. Ông xanh xao và có vẻ không vui. Ông bắt tay bạn một cách lơ đãng.


Ông bảo Bích:


– Dọn cơm lên đây, anh Bích.


Trong khi người hầu bàn ra ngoài, HiênĐa khép cửa lại cẩn thận. Cha Mười Sơn chưa bao giờ thấy ông bối rối như thế. Ông hỏi:


– Ông có điều băn khoăn lắm thì phải?


– Đúng thế. Ảnh hưởng câu chuyện bắt đầu rõ rệt rồi.


– Ông vẫn cứ cố tin là có người lạ mặt ở trong nhà này?


– Đúng. Đúng như thế. Tôi không còn nghi ngờ gì nữa. Buổi tối hôm tôi đi sang công viên, có một cái gì lén vào nhà tôi, nhưng nào biết là cái quái, cái quỷ gì! Tôi vẫn chưa khám phá được ra. Nhưng trước khi ta xuống dưới nhà ăn cơm, tôi muốn tiết lộ một bằng chứng mà tôi đã hứa với ông. Ông có nhớ không?


– Cố nhiên là nhớ.


– Ông có thể tưởng tượng nó như thế nào không?


Ông cha lắc đầu, ra ý bảo không.


HiênĐa nói:


– Ông nhìn kỹ cái phòng này đi. Ông thấy gì?


– Không có gì lạ. Không có ma hiện lên như người ta đã nói với nhau, vẫn quần áo trắng mỏng như mây khói. Lạy chúa, tôi không sa đọa đến cái mức tin là có ma...


Giọng ông biểu lộ một sự uất ức sôi bỏng, HiênĐa nói:


– Ông nhìn nữa coi.


Cha Mười Sơn nhìn Hiên-Đa, quay về phía HiênĐa đang nhìn vào và thấy con két xám leo ở trong lồng, rất chậm chạp và rất bướng bỉnh. Ông hỏi:


– Sao? Chứng cớ ở đó sao?


Ông giáo sư gật đầu:


– Tôi tin như vậy. Ta xuống nhà dùng cơm bây giờ. Tôi cần phải ăn một cái gì.


Họ xuống phòng ăn. Trong khi họ ăn, có Bích đứng hầu, ông giáo sư nói chuyện về loại chim, tính tình và tập quán của chúng, nói về sự sợ hãi không đâu và cái tài bắt chước của chúng. Rõ ràng là ông giáo sư quán triệt vấn đề này với tất cả tinh thần đặc biệt mà ông đặt vào bất cứ việc gì ông làm. Một lát sau, ông nói:


– Loài két có một khiếu quan sát rất kỳ lạ. Chỉ tiếc là bản năng diễn tả những cái mắt chúng thấy bị hạn chế. Nếu không, tôi chắc chắn rằng sự bắt chước, cử chỉ, điệu bộ của chúng cũng sẽ trác tuyệt như chúng bắt chước giọng nói vậy.


– Nhưng chúng thiếu hai tay...


– Vâng, nhưng chúng có thể làm nhiều thứ với cái đầu. Ngày trước, tôi có quen biết một bà già ở gần Đề Linh, trên sông Ta-Mi. Bà ta bị bệnh tê liệt. Luôn luôn, bà cúi gục đầu xuống ngực, và lắc bên nọ, lắc bên kia. Con trai bà, làm lính thủy, nhân một chuyến đi, đã đem về cho bà một con két bắt chước y hệt cái đầu lắc lư của bà già. Loại két xám lúc nào cũng chỉ rình bắt chước...


Ông HiênĐa nói câu sau chậm chậm và tự nhiên, nhưng đưa mắt qua cái ly nhìn vào Cha Mười Sơn.


Nghe nói thế ông Mười Sơn chợt thấy một điểm lạ nở hoa trong óc. Ông mở miệng để đưa ra một nhận xét. HiênĐa quay lại nhìn Bích vừa lúc anh mang bánh lên. Nhưng một lát sau khi Bích đã đặt bánh và bom lên bàn, xếp dọn ngay ngắn những bình nước, đi ra khỏi phòng, nhà tu hành nói:


– Tôi bắt đầu hiểu rồi. Ông nghĩ rằng Nã Phá Luân biết có sự hiện diện ấy?


– Tôi biết như thế. Lúc nào nó cũng rình người khách lạ đó từ hôm “nó” đến đây.


Ông Mười Sơn lại chợt thấy một điểm sáng nhạt, lóe ra trong óc:


– Vì thế ông lấy tấm dạ xanh phủ cái lồng két...


– Chính vậy. Hành động của nó làm cho tôi khó chịu.


HiênĐa cắn môi, chớp mi mắt, làm mặt ông đượm một vẻ đau thương. Ông nói:


– Nhưng bây giờ tôi định theo dõi nó.


Nói thế, mắt ông trở lại vẻ tự nhiên bình thường.


– Tuần lễ tôi ở bãi biển, đối với tôi, là phí phạm. Nếu ở nhà nó không có phí phạm đâu, tôi cam đoan với ông như thế. Mời ông Sơn một miếng bom [1]...


– Không, cảm ơn ông.


HiênĐa đẩy cái ly sang một bên:


– Thôi ta lên gác.


Họ đi ra ngoài hành lang. Ông cha cảm thấy tinh thần lung lay; ông bắt buộc phải chú ý hết sức đến một việc mà ông cho là hoàn toàn vô lý.


Vào đến phòng sách, ông nhìn liền vào lồng két với một vẻ tò mò, sâu xa. Một nụ cười nhẹ nhàng làm nhếch mép ông giáo sư. Ông nhận thấy ảnh hưởng mà ông đã tạo ra cho nhà tu hành. Nhà tu hành nhìn thấy nụ cười đó, nói:


– Ối, ông chưa thuyết phục được tôi đâu.


– Tôi biết mà! Có lẽ từ giờ đến tối tôi sẽ thuyết phục được cha. Đây, cà phê đây. Uống xong, chúng ta sẽ bắt đầu cuộc thí nghiệm. Bích, anh để cà phê đây rồi xuống nhà, nghe!


– Thưa vâng.


Ông cha nói:


– Chiều nay, tôi không dùng cà phê đen, cho tôi thật nhiều sữa. Tôi không muốn cho tâm thần bị kích thích.


– Hay là ta không uống cà phê? Để cho ông không nại cớ là chúng ta không ở trong một trạng thái bình thường. Tôi biết ông nhiều, ông Mười Sơn à, ông hăng hái trong sự đa nghi cũng như trong nhiều vụ giảng đạo.


Ông cha cười, đẩy cái chén sang một bên:


– Tốt lắm. Không dùng cà phê.


– Chỉ hút một điếu thuốc thôi, rồi chúng ta bắt tay vào những công việc đứng đắn.


Khói thuốc xanh tỏa lên trần nhà, ông cha nói:


– Bây giờ ta làm gì?


Ông ngồi thẳng thắn như sẵn sàng hành động


HiênĐa nói:


– Chúng ta ẩn ở một chỗ để rình con Nã Phá Luân. Nhân đây, tôi nhớ lại...


Ông đứng dậy, đi lại một góc phòng, cầm tấm dạ xanh phủ cái lồng:


– Tôi sẽ bỏ cái áo phủ lồng này khi mà chúng ta đã ẩn ở một chỗ rồi.


Ông cha nói:


– Trước hết, ông cho tôi biết có điều gì chứng tỏ có sự hiện diện ấy trong mấy ngày gần đây không?


– Tôi chỉ cảm thấy thôi và sự cảm thấy ấy cứ tăng lên hoài. Cảm thấy ở đây có một cái gì nó cứ nhòm ngó vào các hành động của tôi.


– Ông có cảm giác là người ta theo ông khi ông xê dịch không?


– Có, nhưng không phải luôn luôn. Cái vật đó ở trong phòng này khi ông mới tới. Hiện giờ, nó vẫn ở đây. Nhưng lúc chúng ta xuống dưới nhà ăn cơm, tôi có cảm giác là chúng ta xa nó. Rồi kết luận là nó vẫn ở trên này. Thôi, giờ ta đừng nói gì nữa.


Họ đề cập tới một vấn đề khác và hút một điếu thuốc. Đến khi họ ném mẩu thuốc đi, HiênĐa nói:


– Bây giờ, ông Mười Sơn à, để cho cuộc thí nghiệm của ta tốt đẹp, tôi đề nghị chúng ta ẩn đằng sau những tấm ri-đô ở hai bên cái lồng để cho con két không trông thấy chúng ta, mà chúng ta thì biết những điều mà chúng ta muốn biết. Bây giờ, ông đứng yên, nghe! Ông hết sức quan sát hành vi của nó và ông sẽ cho tôi biết nó đem lại cho ông cảm giác gì và ông nghĩ ra sao. Đi khe khẽ, nghe!


Ông cha tuân lời. Họ bước rất nhẹ về phía những tấm ri-đô treo ở hai cửa sổ. Ông cha ẩn ở đằng sau tấm ri-đô bên trái cái lồng, còn giáo sư thì đứng bên tay mặt. Sau khi đã ẩn rồi, ông giáo sư thò tay ra kéo cái áo phủ lồng để cho rớt xuống sàn gác.


Con két lúc ấy đang ngủ trong bóng tối. Thấy ánh sáng chiếu vào lồng, nó đi đi lại lại trên cây cầu, xù lông cổ ra, nhấc một cẳng lên rồi nhấc cẳng kia lên. Nó quay đầu trên cái cổ mềm mại như thể cao su, đoạn vục cái mỏ vào lông ở trên lưng, kiếm những cái gì không rõ, nhưng kết quả dường như vừa ý nó lắm nên nó ngửng đầu lên và lấy mỏ rỉa một cái hạt mà người ta đã treo giữa hai cái nan lồng cho nó ăn. Nó lấy cái mỏ khoằm khoằm rỉa cái hạt, đập mấy cái, thoạt đầu đập khẽ, sau đập mạnh. Sau cùng nó bửa được cái hạt ra, lấy hai chân cứng rắn màu xám quặp lấy tách ra ăn cái nhân ở bên trong, làm rớt cái vỏ xuống cái cóng bằng sứ treo ở nan lồng. Làm xong công việc đó rồi, con chim có vẻ trầm tư suy nghĩ, đứng im một lát, ruỗi cánh ra, làm lắm trò quá đến nỗi có một lúc trông dị hình. Quay đầu lại, nó lại tìm một cái gì không rõ trong những cái lông ở một bên cánh... Nó bới lông kiếm mãi, kiếm mãi...


Cha Mười Sơn thấy tình trạng vô nghĩa quá. Cha tự hỏi tại sao mình lại chấp nhận đứng ẩn một chỗ để xem làm gì. Tuy nhiên, cha không buồn cười, trái lại, cha thấy ghê tởm. Thường thường, lúc nói chuyện với giáo sư và quan sát ông ta, hành vi và giọng nói của ông ta cũng như sự quân bình trong trí óc ông ta. Nhưng lúc ông ta ẩn ở đằng sau tấm ri-đô thì không thế nữa. Cha Mười Sơn đứng lặng im ở sau bức ri-đô nhìn chòng chọc vào con Nã Phá Luân. Không hề biểu lộ một cảm xúc nào hết, miệng lẩm bẩm “điên, điên”.


Đột nhiên, con két vỗ cánh phành phạch lại, xù lông cổ lên rồi giơ chân ra đằng sau, rỉa lông cánh thứ nhì. Trong gian phòng yên lặng như tờ người ta nghe rõ ràng tiếng rỉa lông. Cha Mười Sơn rùng mình khe khẽ ở sau tấm ri-đô, y như là có một ngọn gió lạnh thổi qua cửa sổ. Đồng hồ kêu binh bong ở gian bên cạnh. Một cục than rớt xuống cái vỉ sắt và kêu lên một tiếng khô khan như tiếng lá khô mà gió làm rớt xuống mặt đất rắn. Ông thấy dâng lên ở trong lòng một nỗi thương xót và hãi hùng. Ông cảm thấy mình điên rồ quá sức – Có thể bảo là phạm tội nữa – Vì đã khuyến khích cái mà ông có thể là “cơn điên kỳ cục” của bạn ông. Đáng lẽ ra ông phải từ chối, không dự vào một cái trò không những đã nực cười và thô cận mà lại còn có thể có hại nữa vì nó khuyến khích người ta một sự đợi chờ bịnh hoạn.


Nã Phá Luân giơ chân ra phía trước, xõa cánh, nghiêng cổ ra cái vẻ được hưởng một sự êm ả hoàn toàn, lại càng làm cho cha thấy rõ ràng sự nực cười và thiếu tư cách trong tác phong của ông và sự nực cười đáng thương hơn của bạn ông. Ông nắm lấy tấm ri-đô và định kéo ra, rời khỏi nơi đương đứng ẩn thì đột nhiên một hành động của con két làm ông ngưng tay lại.


Con két hình như bị một cái gì lôi cuốn, thôi không mổ cái hạt nữa; cái đầu vẫn nghiêng về phía sau, vặn vẹo trên cái cổ mềm mại, lắng nghe rất cẩn thận một cái gì. Con mắt to tròn của nó tự nhiên sáng hẳn lên và lanh lẹ như mắt một con bồ câu lo lắng. Co cánh lại, nó ngửng đầu lên và đứng yên lặng giây lâu trên cây cầu, giơ chân lên rồi lại bỏ chân xuống như một thằng múa rối. Có thể bảo rằng có một cảm xúc đột xuất đã thúc giục nó phải cử động, không cử động không thể được. Đoạn, nó nghiêng đầu về phía xa nhất trong phòng và đứng lặng yên. Thái độ của nó cho thấy là nó dồn hết tinh thần vào một việc gần đó, ở ngay trước mắt, khiến cho ông cha mặc nhiên đảo con mắt quanh phòng. Ông đoán rằng Bích sắp tiến tới do cái cửa bị lắp bởi bức tường chắn ngang nhưng Bích không tới và phòng im lặng. Tuy nhiên, ông thấy rõ ràng là con két mỗi lúc mỗi xúc động hơn và chú ý hơn đến cái gì mà ông cha không trông thấy. Con két cứ cúi đầu xuống mãi, cúi đầu xuống nữa, nghiêng cổ ra đến nỗi suýt té, nó phải dương cánh lên khỏi lưng, tuồng như sắp bay, vỗ cánh thật nhanh và vỗ một lúc lâu khiến cho ông cha thấy thời gian nó vỗ cánh như thế gần như bất tận. Sau hết, dương cánh lên thật cao, nó lại hạ cánh xuống lưng, lấy mỏ ngoạm cái cóng sứ, nhảy xuống sàn lồng và cứ đi lắc la lắc lư cái mình cho tới gần những mạn lồng và nó tựa đầu vào đó. Nó đứng như thế, hoàn toàn im lặng, trong thái độ mà mọi ngày nó vẫn đứng để cho ông giáo sư gãi đầu. Dáng điệu của nó làm cho ông cha cảm giác là nó thích thú thật tình, không thể nào sai được, mà lại rõ rệt đến nỗi ông cảm giác thấy một ngón tay trắng đưa ra vuốt khẽ lông đầu nó. Một niềm tin tưởng mãnh liệt xâm chiếm lòng ông: Có một cái gì mà ông không thấy, nhưng con chim thấy, đương đứng trước cái lồng.


Một lát sau, con két ngẩng đầu lên, trông như cái ngón tay gãi đầu nó vừa vuốt ra khỏi nan lồng và những biểu hiện của sự thích thú vật chất mãnh liệt bây giờ nhường chỗ cho một vẻ chú ý rõ rệt và tò mò triệt để. Giơ chân lên bám lấy nan lồng, nó lại trèo lên cây cầu, đi ngang trên cây cầu đến phía trái của cái lồng và đứng ở đó ngó nghiêng ngó ngửa ra cái vẻ quan trọng lắm. Nó nghiêng nghiêng cái đầu một cách kỳ cục, dừng lại một lúc rồi lại nghiêng nghiêng cái đầu. Cha Mười Sơn, theo dáng điệu cái đầu con két, tự nhiên thấy nảy ra một ý kiến rõ rệt của một cá tính nào đó. Bộ điệu của con chim đem lại cho ông một cảm xúc mạnh, hòa với một thứ quyết nghị lờ mờ nhưng chính vì lờ mờ như thế mà tồn tại rất lâu. Quyết nghị như thế là một cá biệt thường thấy ở những người mắc bịnh khờ. Cha Mười Sơn nghĩ tới những con người đáng thương, những con người kỳ lạ, ngây ngây, dại dại, thường vẫn cố bám lấy, không chịu rời những người ít thương yêu họ nhất. Cũng như nhiều cha cố khác, ông am hiểu những người tật nguyền như thế bởi vì người dở hơi dở hám, nhất là đàn bà đa tình, thường say mê đặc biệt tác phong của các nhà giảng đạo. Cách chào đón của con két nhắc ông nhớ lại trong trí óc một người đàn bà xanh xao, gớm ghiếc trong một thời gian, đã làm náo động tất cả các nhà thờ mà ông hành đạo. Người đàn bà ấy cứ nhìn chằm chặp vào ông, trông như muốn buộc ông phải nhìn y thị, thế rồi đến lúc ông nhìn y thị thì y thị cúi đầu mãn nguyện, nhe răng ra cười một cách hết sức kính cẩn và cố tình làm ra vẻ hóm hỉnh. Con két tiếp tục chào, ngưng lại một chút rồi lại chào.


Cha Mười Sơn tự nhủ: “Phải, phải rồi, nó bắt chước một người khờ, nửa điên, nửa dại”. Và cha lại lặng yên quan sát nữa.


Cha lại nhìn chung quanh gian phòng, nhưng không thấy gì khác ngoài bàn ghế, lửa múa ở trong lò và những hàng sách vở ở trên tường. Một lát con két thôi không chào nữa và có một chế độ tập trung, cố gắng nghe ngóng rất là cẩn thận. Nó há mỏ, giơ cái lưỡi đen ra, khép mỏ lại, rồi lại há mỏ ra. Ông cha tưởng đâu như nó sắp nói. Nó đứng im lìm nhưng rõ ràng là nó cố sức bập bẹ một cái gì. Nó lại chào hai ba lần nữa, lặng im rồi há ra, ú ớ cái gì trong mỏ. Ông cha không nghe được một tiếng nào hết nhưng biết rằng tiếng nó yếu ớt và khó chịu. Nó vừa ỏn a ỏn ẻn và lại vừa than van. Ông nghĩ: “Nghe như tiếng nói đàn bà”. Ông ghé tai sát vào tấm ri-đô, cố gắng nghe hết sức cẩn thận, dường như nóng nảy. Con két lại chào lần nữa nhưng lần này nó lại nghiêng mình một chút, ra cái vẻ âu yếm và điệu nghệ, tựa như hành động của một người dở hơi dở hám và say sưa đưa đầu vào một người khác hoặc thích khuỷu tay thật lẹ, ông cha lại nhớ đến người đàn bà xanh xám và rùng rợn làm cho tất cả các nhà thờ đều tởm. Người đàn bà ấy đợi ông sau buổi lễ chiều. Có một lần y thị cúi đầu cười, thè lưỡi ra, và bám lấy ông trong bóng tối. Ông nhớ lại là da thịt ông, chạm phải da thịt người đàn bà ấy, đã nhủn ra và ông nhớ luôn cả sự kinh tởm làm cho ông muốn ói mửa mà người đàn bà ấy đã gây ra, mà ông không đuổi đi được, mặc dầu ông biết người ấy dở hơi dở ám.


 


Con két ngưng lại, lắng tai nghe, há mỏ ra và lại nói cái gì, cũng với giọng tình tứ chan hòa một sự gá gẩm bịnh tật, mà lại cứng nhắc. Một tiếng nói ghê tởm – Ông cha nghĩ vậy. Nhưng lần này, mặc dầu ông nghe thấy tiếng nó rõ hơn trước, ông cũng vẫn không quả quyết được tiếng đàn bà, đàn ông hay là trẻ con. Dường như đó là tiếng nói người ta, nhưng chẳng ra giống gì cả. Để phá tan sự nghi ngờ, ông đứng hẳn vào trong bóng tối mịt mù của những bức ri-đô, không quan sát Nã Phá Luân nữa, chỉ đứng yên nghe hết sức cẩn thận, cố quên là mình đương nghe một con chim mà tưởng tượng đương nghe tiếng người ta nói chuyện. Sau hơn ba phút yên lặng, tiếng nói tiếp tục. Trong một hồi khá lâu. Tiếng ấy dường như diễn tả và lặp lại những tiếng reo tình tứ, cố sức làm ra vẻ nhõng nhẽo, nhưng nhạt nhẽo và vô sỉ, không thể tả. Sự nhạt nhẽo, sự chát chúa và sự thô lậu trơ trẽn đến kỳ cục, cộng với sự ỏn ẻn đứt hơi cố làm ra vẻ nũng nịu của gái chơi làm cho cha Mười Sơn sởn da gà. Tuy nhiên cha không phân biệt được một lời nào khác mà cũng chẳng thể tìm biết tuổi và giống của người ấy ra sao.


Đứng im trong bóng tối ông chỉ biết chắc được một điều; một tiếng nói như thế chỉ có thể phát ra từ một người kinh tởm, một tiếng nói như thế chỉ có thể biểu hiện ra cá tính bần tiện, đáng khinh, không có cách gì thương nổi.


Thế rồi bỗng nhiên tiếng nói lịm đi trong một cái nấc cục khô khan, tiếp theo là một sự im lặng khá lâu. Ông giáo sư phá sự yên lặng đó bằng cách kéo tuột tấm ri-đô mà ông cha ẩn ở bên trong và nói:


– Ông ra đi và trông kia kìa.


Ông cha tiến ra chỗ sáng sủa nheo con mắt nhìn về phía lồng chim và trông thấy Nã Phá Luân đứng im đơ, trên một cẳng, đầu rúc vào trong cánh. Hình như nó ngủ. Ông HiênĐa tái mặt, đôi môi rung động có vẻ kinh tởm đến cùng cực.


– Chao ôi!


Ông tiến ra cái cửa sổ căn phòng xa nhất, kéo màn cửa, mở phía dưới cửa sổ để cho không khí vào trong phòng. Cây cối xơ xác lá hiện ra lờ mờ trong bóng tối xám xịt ở bên ngoài. HiênĐa cúi xuống cửa sổ, hít không khí ban đêm vào đầy phổi. Lát sau, ông quay lại ông cha và đột nhiên kêu lên:


– Thúi tha quá phải không?


– Phải. Không có cách gì chịu nổi


– Ông có bao giờ nghe thấy một cái gì tương tự thế chưa?


– Không bao giờ.


– Tôi cũng vậy. Tôi muốn ói, ông Mười Sơn à, ói mửa...


Ông đóng cửa và bứt rứt đi đi, lại lại trong phòng. Ông hỏi:


– Ông nghĩ sao?


– Ông nói thế là nghĩa thế nào?


– Đó là tiếng đàn ông, đàn bà hay trẻ con?


– Tôi không biết, tôi không có ý kiến gì hết.


– Tôi cũng vậy.


– Ông có nghe thấy thế luôn không?


– Có. Từ khi tôi đi nghỉ mát ở bãi biển về. Không bao giờ tôi nghe rõ ràng những lời nói. Trời! cái giọng nói gì!


Ông nhổ vào lửa trong lò sưởi và nói thêm:


– Xin tha lỗi cho tôi. Tôi nôn nao trong bụng. Đúng như thế.


Vừa nói, ông vừa ngồi phịch xuống ghế.


HiênĐa nói tiếp, tiếng the thé:


– Tởm nhất là cái vật ấy hoàn toàn không có trí óc. Nó chỉ có bộ tinh quái của những đứa dở hơi, dở hám, những đứa điên khùng, si ngốc.


Ông cha giựt mình, khi nghe thấy mấy danh từ trúng phóc như ông nghĩ, phát xuất từ miệng một người khác ra.


HiênĐa hỏi:


– Sao ông giựt mình như vậy?


– Tôi giựt mình vì tôi cũng có ý nghĩ y như ông vừa nói.


– Ý nghĩ gì?


– Là tôi vừa nghe thấy tiếng nói của một người dở hơi, dở hám, điên khùng, si ngốc.


– Đúng thế. Mà đối với một người như tôi, nghe thấy thế, tôi khổ như phải xuống địa ngục. Tôi có thể chiến đấu với trí khôn, nhưng đến cái đó...


Vụt một cái, ông đứng dậy, cời than trong lò cho cháy hồng hơn, đứng trước lò, quay lưng vào lò, hai tay đút túi quần:


– Đó là tiếng của “cái vật” đã lẻn vào nhà tôi. Nghe sướng con rái quá, phải không?


Và bây giờ, trong con mắt và giọng nói của ông dượm một sự hãi hùng. Ông la lên:


– Tôi phải tống khứ nó đi, tôi cần phải tống khứ nó đi. Nhưng bằng cách nào?


– Bằng cách nào? Nó là cái gì? ở đâu?


– Bây giờ ông cảm thấy nó ở ngay chỗ này?


– Chắc chắn như thế! Nhưng tôi không thể nói với ông nó ở chỗ nào trong căn phòng này:


Ông nhìn chung quanh, không có đồ vật gì tránh khỏi con mắt nhìn soi mói của ông.


Cha Mười Sơn nói:


– Ông tin rằng người ta theo đuổi ông?


Chính ông cha cũng bối rối và xúc cảm tột bực, ấy là chính ông chưa cảm thấy có sự hiện diện ở gần bên họ, ngay ở trong phòng.


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học, 2002.


www.trieuxuan.info




_____


[1] bom: táo.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (3, tiếp và hết) - Khái Hưng 26.05.2017
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (2) - Khái Hưng 26.05.2017
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (1) - Khái Hưng 26.05.2017
Nỗi niềm gối trắng - Dạ Ngân 25.05.2017
Cây đòn nóc và chiếc bình vôi - Triệu Văn Đồi 18.05.2017
Biển vỡ - Triệu Văn Đồi 29.04.2017
Hạ bệ - Bình Nguyên Lộc 25.04.2017
Ba con cáo - Bình Nguyên Lộc 25.04.2017
Hai chị em/ Bức chân dung/ Nước mắt/ Bức phù điêu - Văn Biển 10.04.2017
Chuyện ga xép/ Huyền thoại cổ tích mất tăm - Văn Biển 10.04.2017
xem thêm »