tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20019878
Truyện ngắn
28.12.2012
Vũ Bằng
Một cách trừng phạt khác thường (1)

Viết theo một truyện của ROBERT S. HICHENS


 


Những người có óc châm biếm thường tự hỏi tại sao cha Mười Sơn và Giáo sư Hiên Đa lại có thể chơi thân với nhau được. Một người là cả một đức tin, còn người kia thì đa nghi triệt để. Trong con người của cha Mười Sơn, chỉ có tình yêu thương. Qua tấm áo dài đen, cha quan sát cuộc đời với một sự mến thương gần như là trẻ con và cặp mắt hiền lành, mặc dù không có chút sợ hãi nào, dường như luôn luôn chăm chú ngẫm nghĩ đến sự ăn hiền ở lành trong nhân loại và lấy làm thích thú vì những điều trông thấy.


Trái lại, giáo sư HiênĐa lại có một bộ mặt cứng rắn, đanh thép, điểm một bộ râu nhỏ, trông như thách thức. Mắt ông tinh tường, thấu suốt và có vẻ kém hiền từ. Những đường nhăn chung quanh cái miệng bé nhỏ, môi mỏng, có vẻ tai ác. Tiếng ông khô khan và bốp chát, thỉnh thoảng lại như la lên. Ông nói một cách vô tình. Tính nết giáo sư là sự pha trộn tính đa nghi và lòng ham hiểu biết. Ông không có lúc nào nghĩ rằng giữa bao nhiêu công việc người ta còn chỗ để dành cho tình thương, dù là thương một người hay thương nhiều người. Song le, ông hy sinh cả một cuộc đời cho công việc tìm tòi, khảo cứu khoa học đem lại cho đời nhiều lợi ích khôn tả.


Cả hai người cùng độc thân, cha Mười Sơn thuộc một giòng tu cấm lấy vợ. Giáo sư HiênĐa có một quan niệm không mấy đẹp đẽ về nhiều sự việc và con người, nhất là về đàn bà. Trước đây, ông giữ một chức vụ cao ở Bức-minh-gam. Nhưng từ khi ông nổi tiếng vì những vụ phát minh, ông tới Luân Đôn. Tại đây, nhân một buổi diễn thuyết ông gặp cha Mười Sơn lần đầu. Hai người trò chuyện với nhau giây lát. Có lẽ óc thông minh của nhà tu hành đã lôi cuốn nhà khoa học thường vẫn coi nhẹ các giòng tu. Có lẽ ông bị lôi kéo vì sự thực thà trong sáng của nhà tu hành vững tin lẽ phải. Lúc ở phòng diễn thuyết ra, ông liền ngỏ lời mời cha đến nhà ông ở Hây-Bắc. Ông cha, ít khi đến Hây-Bắc, trừ khi nào đi giảng đạo, nhận lời mời.


Giáo sư HiênĐa hỏi:


– Bao giờ cha đến tôi?


Ông gấp mảnh giấy xanh mà ông ghi với những giòng chữ nhỏ nhưng rõ ràng. Tiếng giấy lật lìa vào tiếng nói khô khan và chậm rãi của ông.


Mười Sơn nói:


– Chủ nhật tới, tôi giảng đạo ở gần nhà ông.


– Tôi không đi nhà thờ.


Ông cha nói:


– Không?


Ông cha nói, nhưng tuyệt đối không lộ vẻ ngạc nhiên, chê trách trong giọng nói.


HiênĐa nói:


– Tiện thể, ông dùng cơm với tôi.


– Cảm ơn, vâng.


– Ông tới mấy giờ?


Mười Sơn cười:


– Khi nào tôi giảng xong, bắt đầu giảng từ sáu rưỡi.


– Vậy có lẽ tám giờ ông tới được rồi. Đừng giảng lâu quá, cha! Tôi ở số 100 đường Hây-Bắc. Chào ông.


HiênĐa lấy một sợi thung cột tập giấy lại và rảo bước đi, không bắt tay nhà tu hành.


Đúng chủ nhật sau, cha Mười Sơn giảng đạo trước đông đảo con chiên, chủ đề bài giảng là tình yêu thương và sự vô nghĩa của con người trên trái đất, nếu không biết yêu thương đồng loại, như mình yêu thương chính mình. Bài giảng hơi dài. Đến khi cha Mười Sơn vận áo đen, đội cái nón tròn có giải buộc lấy cằm đi đến nhà giáo sư HiênĐa thì đồng hồ nhà thờ chỉ tám giờ hai mươi lăm.


Cha Mười Sơn bước vội, rẽ đám quân nhân và đàn bà đứng nói chuyện tào lao, và lũ trẻ nói cười ầm ĩ. Hôm đó, trời hơi lạnh. Đến số nhà 100, ông cha đã thấy giáo sư, đầu trần, đứng ở thềm nhà, mắt nhìn ra hàng rào sắt, vườn hoa trước mắt, dường như để tận hưởng làn không khí mát mẻ và ẩm ướt.


Ông HiênĐa la lên:


– Giảng gì mà lâu dữ vậy? Xin mời vào trong nhà.


Nghe theo lời mời, cha Mười Sơn vừa đi, vừa nói:


– Tôi sợ trễ. Tôi là một thứ người nguy hiểm, một thứ người giảng đạo ứng khẩu nói với con chiên, không có sửa soạn trước ở nhà.


– Nếu có thể, cứ nói mà không viết ra giấy trước tôi cho là hay nhất. Xin cứ treo áo và nón lên đây. Chúng ta ăn luôn. Đây là phòng ăn.


Ông mở cái cửa về phía tay mặt. Hai người bước vào trong một căn phòng dài hơi hẹp, dán giấy màu vàng ở vách tường, mà trần nhà thì sơn đen treo một ngọn đèn điện có chao mầu vàng. Trong phòng, có một cái bàn bầu dục, trên để bát dĩa cho hai người ăn. Ông giáo sư bấm chuông, rồi nói:


– Hình như người ta nói chuyện dễ dàng chung quanh một cái bàn bầu dục, hơn là ngồi ở một cái bàn vuông.


– Vậy sao?


– Dạ, đúng thế. Tôi đã có dịp mời cùng một người khách ăn hai lần. Một lần ở cái bàn vuông, một lần ăn ở cái bàn bầu dục. Bữa ăn thứ nhất tẻ ngắt, tẻ ngơ, bữa sau ăn ngon miệng mà vui hơn. Xin mời ngồi!


Ông cha nói:


– Vậy ông giải thích ra sao sự khác biệt đó?


Ông cha vừa nói vừa ngồi xuống và xếp lại cẩn thận nếp áo dài đen. Ông giáo sư tằng hắng:


– Tôi biết ông sẽ giải thích ra sao.


– Thế à? Thế tôi sẽ giải thích ra sao?


– Ngồi ở cái bàn bầu dục, vì không có góc cạnh, cái chuỗi cảm tình của con người, luồng điện không bị gián đoạn, cứ tiếp diễn luôn luôn. Ông cho phép tôi chia “súp”.


– Cảm ơn lắm.


Ông cha đưa dĩa ra, trong khi đó nhìn chủ nhà với một cặp mắt xanh sáng ngắt. Đoạn, ông cười và nói bằng một giọng sang sảng:


– Thế nào, ông có thỉnh thoảng đi nhà thờ không?


– Ngay chiều nay, tôi mới đi nhà thờ lần đầu tiên. Xin cứ thật tình mà nói, tôi nản quá.


Ông cha cười: cặp mắt ông nhấp nháy một cách dễ thương.


– Vậy à? Tiếc quá!


– Nhưng phải nói rõ tôi ngán không phải vì bài giảng. Đó là sự thật, chớ không phải khen sằng. Tôi chỉ nói ra một sự việc có thật. Tôi không ngán vì bài giảng. Nếu không thế tôi đã không nói ra hoặc là tôi im đi. Cha dùng rượu gì nhỉ?


– Không dùng rượu gì hết. Tôi cảm ơn ông. Tôi phản đối rượu. Trong nghề nghiệp của tôi và trong hoàn cảnh của tôi, cần phải chống lại rượu. Vâng, tôi xin chút nước suối.


Chuyện nọ bắt sang chuyện kia, hai người ra ý thân mật với nhau hơn. Ông cha có vẻ dễ chịu dưới cái trần sơn đen. Ông uống một chút nước suối và dường như thích thú hơn ông giáo sư uống rượu chát.


Ông cha nói:


– Ông cười, tôi biết mà! Ông cười thuyết tình cảm của con người. Thế thì đối với ông tại sao bữa ăn ở bàn bầu dục lại thành công?


– Chắc chắn là tại lần thứ nhất, ông khách ăn ở bàn vuông đau gan vì cảm lạnh mà lần sau cũng ông ấy ăn ở bàn bầu dục nhưng mạnh khỏe chớ chẳng tại làm sao hết. Tuy nhiên, ông thấy đó, tôi vẫn chấp nhận bàn bầu dục.


– Nghĩa là...


– Không có gì lạ đâu. Nhân đây, xin nói để ông rõ là hôm nay ông không động chạm tới vai trò của gan trong tình thương yêu. Đó là một thiếu sót đáng kể...


– Trong đời ông, còn một thiếu sót quan trọng hơn nhiều. Đó là không có ý muốn tạo thành tình thương yêu chặt chẽ giữa người với người.


– Tại sao ông lại chắc rằng tôi không có ý muốn đó?


– Tôi đoán dáng điệu và cách ăn nói của ông bảo tôi như thế. Ông tán thành bài giảng của tôi trong suốt cả buổi họp phải không?


– Không phải suốt buổi giảng, chỉ có một phần nào thôi.


Người hầu thay dĩa. Đó là một người đàn ông đứng tuổi, trắng trẻo, gầy gò, mặt trắng, cứng rắn, mắt hơi lộ, hầu ăn một cách lịch sự đặc biệt. Đến khi ra ngoài, ông giáo sư nói tiếp:


– Nhận xét của ông rất quý báu, nhưng tôi cho là hơi quá.


– Thí dụ!


– Xin phép cho tôi nói giọng ích kỷ một chút. Phần lớn ngày giờ của tôi dành cho công việc nặng nề, rất nặng nề. Ông sẽ nhận thức là nhân loại hưởng thụ kết quả công việc của tôi.


– Hưởng rất nhiều. Ông cha gật đầu và nghĩ đến các vụ phát minh của Hiên-Đa.


– Và đối với nhân loại, cái lợi thâu lượm từ công việc tôi làm rất to lớn, quí báu. Có thể coi như là tôi làm vì tình cảm, tôi làm vì tôi muốn thấy đồng loại của tôi được hưởng quan lạc nhiều hơn là họ được hưởng hiện nay. Tôi cũng có ích trong vị trí đó, cái vị trí xuất phát từ trong việc tôi không có tình thương.


– Người ta có thể làm nhiều điều xấu với tình thương yêu, làm nhiều điều tốt mà khỏi cần tình yêu thương. Vâng, đúng như thế đấy. Tôi biết rằng lý do tốt, tự nó, không đủ. Tuy nhiên, với bài học của ông, tôi duy trì ý kiến là ông có ích cho thế giới, nhiều hơn nữa, nếu, thay vì ở cái vị trí của ông, ông lại có tình, có lòng thương yêu con người, rồi còn nghĩ thêm rằng công việc của ông được thế sẽ còn rực rỡ hơn nhiều.


Ông Giáo sư tự rót thêm một ly rượu chát nữa và nói:


– Ông có để ý đến người hầu bàn của tôi không?


– Có.


– Y là một người hầu tuyệt hảo. Y chăm nom sự tiện nghi cho tôi chu đáo đến cái mức không thể chê trách y điều gì. Tuy nhiên, y không có một chút tình yêu thương gì đối với tôi. Nhưng tôi không bao giờ nghĩ tới y và cũng chẳng bao giờ băn khoăn về y, đứng trên diện con người. Tôi tuyệt nhiên không biết một chút gì về tính tình của y, ngoài những điều tôi đọc được trong giấy tờ chứng nhận của người chủ cũ của y. Ông phải nhận rằng giữa chúng tôi tuyệt nhiên không có liên lạc gì giữa người và người. Thế thì tôi hỏi ông; Ông có dám bảo rằng y sẽ làm công việc tốt đẹp hơn tôi yêu thương y?


– Chắc chắn như vậy.


– Tôi thì quả quyết là y không thể làm việc tốt hơn bây giờ.


– Nhưng nếu thí dụ có một cuộc khủng hoảng gì xảy ra?


– Khủng hoảng gì?


– Bất cứ khủng hoảng gì, đại khái như sức khỏe của ông trong tình trạng thay đổi. Nếu ông cần y giúp đỡ, không phải với tính cách con người với người anh em! Chắc chắn y sẽ không đáp ứng lời kêu gọi của ông. Ông sẽ không được người hầu của ông làm công việc thượng thặng mà tác động chỉ là sự yêu thương chân chính.


– Ông nói xong chưa?


– Rồi.


– Thôi bây giờ ta lên lầu. Phải, những tranh này khá đẹp. Đây là phòng làm việc của tôi.


Họ vào trong một căn phòng đầy nhóc sách vở, thắp đèn sáng quắc. Cửa sổ một mặt trông sang cái vườn nhỏ nhà bên cạnh. Cái cửa họ đi vào, đứng từ gian thụt vào, không thấy rõ vì có một bức tường nhỏ ra phòng kia. Trong phòng bên này, có một cái bàn trên đầy giấy má thư từ sách vở và tập đang viết dở. Giữa hai cửa sổ ở cuối phòng, có một cái lồng trong có một con két lớn màu xám dùng mỏ và chân để leo trèo một cách chậm chạp như thể suy tư vậy.


Ông cha ngạc nhiên nói


– Ông có một người bạn.


– Tôi có một con két (giọng ông vẫn khô khan). Tôi mua với một mục đích rõ rệt lúc tôi nghiên cứu về những cơ năng bắt chước của loài chim và tôi không rời nó ra. Ông dùng một điếu xì gà?


– Cám ơn.


Họ ngồi xuống ghế. Cha Mười Sơn liếc mắt nhìn con két lúc ấy đứng dừng lại, không leo trèo nữa. Bám vào những nan lồng, nó nhìn những cái nan ấy với cặp mắt xoe tròn, ra vẻ chú ý. Cặp mắt tràn trề sự thông minh, suy nghĩ, nhưng hoàn toàn không có một tí cảm tình. Đoạn nó quay nhìn HiênĐa đang hút thuốc, ngả đầu về phía sau, cái cằm nhọn lởm nhởm bộ râu đen nhỏ vểnh lên trời. Ông động đậy mau lẹ môi dưới theo chiều cao, làm cho bộ râu rung động và đem lại cho ông một vẻ hung hăng đặc biệt. Tự nhiên, nhà tu hành bật cười. Ông HiênĐa hỏi:


– Tại sao vậy?


Ông cúi đầu xuống, cằm gần sát vào ngực, nhìn nhà tu hành với một cặp mắt không lấy gì làm trang nhã.


Nhà tu hành nói:


– Tôi thiết nghĩ phải có một cuộc khủng hoảng gì lớn lắm ông mới dựa vào tình thương yêu của người hầu của ông.


HiênĐa cười:


– Ông nói có lý. Đúng vậy. Kìa, y lên kia kìa!


Người hầu bàn bưng cà phê vào rồi đi ra như một cái bóng.


HiênĐa nói:


– Y là một người tuyệt diệu, không có nhân tính...


– Tôi yêu một đứa trẻ cà lơ ở Ích Xiêm, chạy công việc cho tôi. Tôi biết hết nỗi buồn phiền của nó. Nó cũng biết những nỗi buồn phiền của tôi. Nó không lặng lẽ như người hầu của ông. Có lúc nó thở phì phì, khi nào nó bận nhiều công việc, nhưng có lúc nó làm giúp tôi những công việc còn hơn cả việc cho củi vào lò hay đánh giày cho tôi.


– Người ta ở đời không ai giống ai. Một con mắt yêu thương nhìn hau háu vào mình, tôi không có cách gì chịu nổi.


– Thế con két kia thì sao?


Cha Mười Sơn vừa nói vừa chỉ vào con chim. Nó leo lên cầu một cẳng giơ lên trời, trong một dáng điệu trang trọng, như thể ban ơn lành và không ngớt nhìn ông giáo sư.


HiênĐa nói:


– Đây là con mắt chăm chú nhìn để bắt chước, có nuôi ở đằng sau một ẩn ý: muốn chép lại những đặc tính của người khác hay vật khác. Không cảm thấy trí óc thông minh vì bài giảng của ông, nhưng tôi không mong có tình thương yêu. Cố nhiên, người ta có thể mong muốn một cảm tình hợp lý, phải chăng; nhưng tất cả mọi thương yêu mãnh liệt hơn sẽ làm cho tôi bực bội và chắc chắn sẽ đẩy tôi đến chỗ tàn ác. Hơn nữa, nó sẽ cản trở công việc nghiên cứu của tôi.


– Tôi không tin như thế.


– Các loại công việc của tôi làm, có như thế đó. Tôi vẫn tiếp tục đem lợi ích đến cho thế giới, mà không yêu thế giới, và thế giới cứ tiếp tục thâu nhận những lợi ích đó mà khỏi cần yêu thương tôi. Như thế hóa ra lại tốt.


Ông uống cà phê. Rồi tiếp với một giọng ngổ ngáo hơn:


– Tôi không có thì giờ mà cũng chẳng có khuynh hướng ngã về tình cảm.


Đến khi HiênĐa tiễn nhà tu hành ra về, ông đi theo đến thềm và đứng dừng lại một lát. Qua con đường ẩm ướt, nhà tu hành nhìn vào công viên. Ông nói lơ đãng:


– Ông Giáo sư có một cái cửa trông thẳng sang công viên ngộ lắm.


– Vâng, thỉnh thoảng tôi vẫn băng qua đường đi dạo trong công viên cho trí óc thoải mái. Xin chúc ông ngủ ngon. Hôm nào, lại đến chơi với tôi, nghe!


– Rất hân hạnh, ngủ ngon, ông!


Nhà tu hành rảo bước, để HiênĐa đứng lại một mình ở thềm nhà.


Cha Mười Sơn thường vẫn trở lại căn nhà số 100 đường Hây-Bắc. Ông có thiện cảm với đa số đàn bà, đàn ông quen biết và yêu thương tất cả mọi người và mặc dù quen biết hay không. Nhưng ông có cảm tình riêng đối với Hiên-Đa. Có điều này kỳ lạ, tình ấy là tình thương, ông phàn nàn nhà Bác học cần cù làm việc quên cả ngày giờ và đã thành công một cách lẫm liệt, nhà Bác học thông minh tuyệt vời, có một tâm hồn cương cường, không hề bị suy giảm, không cần nhờ ai giúp đỡ, không hề phàn nàn gì về những trắc trở của cuộc đời, cứ đường thẳng mà tiến, không bao giờ chần chừ, e ngại. Cha Mười Sơn phàn nàn cho HiênĐa sống giản dị quá, không đòi hỏi gì hết. Cha đã nói như thế với ông giáo sư bởi vì ngay từ buổi đầu, liên lạc của hai người đã đượm màu thân mật lạ lùng.


Một chiều kia, trong khi trò chuyện với nhau, ông cha đưa ra một câu chuyện kỳ cục trong kiếp sống: Có nhiều người không muốn thứ này thứ nọ thì lại được luôn, mà những người muốn được một cách gớm ghê thì lại không được.


HiênĐa nói:


– Nếu thế, tôi hy vọng được hưởng rất nhiều yêu thương – ông vừa nói vừa cười một cách rất chua chát – Là vì tôi thù ghét tình thương.


– Có thể một ngày kia sẽ như thế... Biết đâu...


– Rất thành thực mà nói, tôi không mong như thế.


Cha Mười Sơn lặng im một lát. Ông chắp hai đầu dây nịt ở trên áo. Đến khi ông nói, ông có vẻ trả lời một người nào đó. Ông nói trầm trầm.


– Phải, phải. Đúng là tôi cảm thấy thế, tình yêu thương.


– Thương ai?


Rồi đột nhiên ông hiểu, ông không nói rằng ông hiểu, nhưng cha Mười Sơn cảm thấy không cần phải trả lời ông bạn làm gì. Vậy là Hiên-Đa, kỳ cục thay, lại chơi thân với một người ngược hẳn với mình về mọi mặt và ông thấy thương người đó.


HiênĐa không hề phật ý về điều đó và cũng gần như không nghĩ đến làm gì. Phải chăng sự kiện ấy chứng tỏ rõ ràng hơn cái tính dửng dưng, lạnh lẽo của ông đối với thế tình!


 


Một chiều thu, một năm sau cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa cha Mười Sơn và giáo sư Hiên-Đa, nhà tu hành lại đến Hây-Bắc và hỏi người hầu bàn, y tên là Bích.


– Giáo sư có nhà không?


Bích trả lời:


– Dạ có. Xin cha đi theo tôi.


Lặng lẽ Bích dẫn đường đưa cha lên một cái thang hơi chật, khe khẽ mở cửa phòng sách và cất tiếng nhẹ nhàng, lạnh lẽo báo:


– Có cha Mười Sơn.


HiênĐa ngồi trong một cái ghế bành trước một ngọn lửa riu. Hai bàn tay gầy guộc, nhọn thon dài đặt trên hai đầu gối, đầu ông gục xuống ngực, ông có vẻ đắm chìm trong suy tư. Bích cất cao giọng hơn một chút:


– Cha Mười Sơn muốn gặp ông.


Giáo sư HiênĐa giựt mình và quay lại đúng lúc nhà tu hành bước vào phòng. HiênĐa nói:


– À, ông đấy à? Gặp ông, tôi mừng quá. Xin mời lại ngồi gần lửa cho ấm.


Mười Sơn liếc mắt nhìn giáo sư và thấy ông mỏi mệt một cách khác thường:


– Hôm nay, trông ông không được mạnh lắm.


– Vậy sao?


– Chắc là ông làm việc quá nhiều. Hay là vì ông mất sức vì bài diễn văn ông sắp đọc ở Ba-Lê?


– Đâu có, xong cả rồi. Tôi có thể đọc cho ông nghe ngay bây giờ. Mời ông ngồi.


Cha Mười Sơn nghe lời và HiênĐa lại ngồi xuống ghế bành mắt đăm đăm nhìn ngọn lửa không nói gì. Nhà tu hành không cản trở sự yên tĩnh của ông. Hình như ông nghĩ gì lung lắm. Ông Mười Sơn châm ống vố và hút thuốc, suy nghĩ vẩn vơ. Mắt HiênĐa không rời ngọn lửa.


Cha Mười Sơn nhìn quanh căn phòng. Những bức tường đầy sách vở đóng rất nhã, cái bàn đầy ứ đồ vật, những cửa sổ căng màn lụa cũ màu xanh, cái lồng két đặt ở giữa hai cửa sổ. Một cái mền dạ xanh phủ kín cái lồng. Cha tự hỏi tại sao phải phủ vải như thế? Ông chưa bao giờ thấy Nã Phá Luân – tên con két – lại phải che kín như thế vào buổi tối. Giựt mình, HiênĐa ngửng đầu lên. Nhấc tay ra khỏi đầu gối, ông chắp lại với nhau, và đột nhiên hỏi:


– Ông có thấy tôi là người đáng mê không?


Đến lượt cha giựt mình. Ông chồm lên. Một câu hỏi phát xuất từ miệng một người như HiênĐa làm cho ông ngạc nhiên hết sức. Ông kêu:


– Ủa, vì cớ gì ông lại hỏi tôi như thế? Ý ông muốn nói là ông có đáng làm cho đàn bà, con gái mê không?


– Đó là điều tôi không rõ. Ông giáo sư có vẻ ưu uất rồi lại đắm con mắt vào lò lửa.


Sự ngạc nhiên của nhà tu hành tăng lên.


– Ông không rõ...


Mười Sơn đặt ống vố xuống bàn.


HiênĐa nói:


– Đây này: Ông có tin rằng tôi làm cho người khác mê tôi, tôi có một cái gì khả dĩ hấp dẫn, lôi kéo được một... một người hay một con vật đến với tôi, không đến không chịu nổi?


– Dù ông muốn hay không muốn?


– Đúng thế. Hay nói thế này cho rõ ràng hơn. Cứ đến với tôi, dù là tôi không muốn.


Mười Sơn cắn môi làm cho những nếp nhăn nhỏ ở đuôi con mắt hằn lên. Một lát sau, ông nói:


– Có thể lắm chớ! Bản tính con người yếu đuối, ông lôi hút được người ta, ông HiênĐa à, và ông muốn chà đạp cái bản tính ấy. Tôi biết có những người đàn bà thuộc một loại nào đó, những bà, những cô trí thức, những người sưu tầm, những tiếng tăm, những tên tuổi danh tiếng, vâng, có những người như thế mộ tiếng ông, muốn gặp ông, đi kiếm ông, tên tuổi ông, danh tiếng lẫy lừng của ông...


– Vâng, vâng – HiênĐa có vẻ bực mình – Tôi biết hết tất cả những cái đó rồi. Tôi biết...


Ông vặn hai bàn tay lại với nhau, để lòng bàn tay ra ngoài, làm cho các ngón tay kêu cục cục. Ông cau mày lại và nói:


– Tôi tưởng tượng – Ông ngừng lại và ho, tiếng ho khan và nặng – Tôi tưởng tượng rằng ông sẽ rất khó chịu nếu có một cái gì không hợp ý ông, theo sát nách ông, có phải không?


Ông quay lại nửa chừng trên ghế, khép chân lại, nhìn vào mắt cha Mười Sơn như muốn cật vấn điều gì. Cặp mắt gần như là quắc lên:


– Một cái gì à?


– À, phải phải. Một người nào... Tôi cho rằng không có gì làm cho ta bực bội hơn.


Ông cha nói:


– Tôi xin lỗi ông, tôi không thể quan niệm được là ông, ông Hiên-Đa, lại có thể để cho kẻ lạ mặt vào làm cho ông khó chịu. Tôi yên trí không bao giờ ông lại khuyến khích sự vuốt ve, nịnh bợ.


HiênĐa lắc đầu với một nét mặt sa sầm:


         Không, không nhưng chính như thế đấy. Đó là tất cả vấn đề kỳ cục trong vụ này. Nghĩa là tôi...


(còn tiếp)


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học, 2002.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Anh Nhoàng - Triệu Văn Đồi 07.07.2017
Thần sông - Trịnh Bích Ngân 30.06.2017
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
Nghĩa địa bên sông Chanh - Ngọc Toàn 07.06.2017
Hoa khôi xứ Mường - Ngọc Toàn 01.06.2017
Ông chéo ngà, Bà rách tai - Ngọc Toàn 01.06.2017
Kẻ vô ơn - Ngọc Toàn 01.06.2017
Đầu Phạm Nhan - Ngọc Toàn 01.06.2017
Rắn hổ mang chúa - Ngọc Toàn 01.06.2017
xem thêm »