tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19002240
Tiểu thuyết
27.12.2012
Hoài Anh
Chim gọi nắng

IX. Vòng vây của địch ngày càng xiết chặt chung quanh Minh Khai, chị cử Tiếu([1]) liên lạc viên của Thành ủy, đi dò xét tình hình việc lùng sục bắt bớ của địch.


Tiếu từ ngoài chạy vào, thở hổn hển nói với Minh Khai:


- Chị Năm à, trong một đợt truy lùng kéo dài một tuần lễ ở Thủ Dầu Một, ngày 18 tháng 1, tụi nó bắt được tám cán bộ của tỉnh Thủ Dầu Một và nhiều tài liệu trong số đó có địa chỉ năm lính tập liên lạc với ta. Hôm sau, tụi nó tiếp tục lục soát bắt được ở Phú Văn một chị phụ nữ lai Tàu, nhận là liên lạc viên giữa cộng sản tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa. Sáng ngày 21, theo lời khai của một người mà tụi nó cho là ủy viên tỉnh Thủ Dầu Một,  lít, lính kín khám xét nha chị Nà ở đồn điền làng Tân Xuân, Hóc Môn bắt được ông Già Trầu. Tại chỗ ông ở, tụi nó bắt được một bó truyền đơn về ngày 1 - 5, một bản mẫu một tờ báo bí mật và báo cáo viết tay tình hình đảng ở Trung Kỳ...


Minh Khai kêu lên:


- Ông già Trầu bị bắt! Còn có đồng chí nào bị bắt nữa không?


- Tụi nó còn bắt bốn đồng chí nữa. Ngay trưa hôm đó, tụi nó khám xét ngôi nhà gần đó cũng nằm trong đồn điền cao su, đồng chí ở đó đã kịp thời trốn thoát, nhưng tụi nó bắt được nhiều tài liệu, nhiều bản in xu xoa, in đá nghị quyết hội nghị từ nhiều năm nay của các tổ chức lãnh đạo của Đảng, những bản viết tay của các đồng chí ủy viên trung ương bị bắt mấy tháng gần đây và một bản tài liệu đề ngày 4-4-1940 cho biết chi tiết tổ chức đảng của Liên tỉnh ủy Cần Thơ... Tụi nó biết hiện giờ chỉ còn chị là nhân vật quan trọng hơn cả nên ra sức lùng bắt chị. Bắt được ai chúng cũng hỏi: “Mày có biết chị Năm Bắc kỳ hay không?”


Minh Khai bình tĩnh:


- Tiếu à, em mang báo cáo của chị đến chỗ anh Phan Đăng Lưu để xin ý kiến của anh.


Hôm sau, sáng ngày 22-4, mật thám Pháp lại bắt được ở Hóc Môn một người làm thợ mộc tên là Nguyễn Văn Xát tức Thắng mà Pháp cho đó là ủy viên xứ ủy Nam kỳ với tên thường gọi là Thắng Chợ Lớn. Xát nhận có biết cô Duy và Lê Hồng Phong hiện đang bị giam ở Khám Lớn.


Mấy ngày tiếp theo, Pháp lùng bắt một loạt đảng viên và quần chúng cốt cán của Đảng ở xã Bình Chuẩn (Thủ Dầu Một), Tân Triều, Bình Y (Biên Hòa) bảy người ; hai công nhân trong chi bộ Ba Son; một số ở đề pô xe lửa Dĩ An, Hải quân, Gò Vấp (Gia Định); chín người ở sở Hỏa xa trong đó có ba người Trung kỳ, hai người Bắc kỳ. Chúng cũng thu được nhiều tài liệu, báo chí, những bản viết tay giống chữ viết chúng tìm thấy ở cơ quan ngõ Nguyễn Tấn Nghiệm (Sài Gòn) khi chúng bắt được các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Vũ Đình Hiếu ngày 17-1-1940.


Tháng 5 năm 1940, Tiếu và Bé Ảnh([2]) bị địch bắt tại căn phố lầu ở chợ Thị Nghè. Chính tên xếp mật thám Ba- danh cao lêu nghêu, nói sõi tiếng Việt dẫn bè lũ của chúng đến bao vây khu nhà này. Từ 6 giờ chiều đến 8 giờ tối mới xông vào xét nhà các cô. Cuộc lục soát bao vây này, ngoài hai chị em cô còn có một số đồng chí khác. Chúng đưa thẳng các cô về bót Ca-ti-na.


Thằng Ba-danh khi gặp các cô nó đã nhớ ngay. Nhớ hồi năm 1935, lúc đó cô 17 tuổi còn Bé Ảnh bị địch bắt hồi 15 tuổi, cũng chính tay nó bắt các cô đưa về khai thác tại bót mật thám ở Sa Đéc. Năm bảy năm qua với biết bao nhiêu là đổi thay vậy mà nó vẫn nhớ, dù năm nay cô đã 22 tuổi còn bé Ảnh thì cũng đã hai mươi hai, thay đổi rất nhiều.


Vừa tới bót Ca-ti-na, tên Ba-danh liền lôi thẳng cô xuống phòng điều tra, khớp miệng và khai thác ngay. Lúc đầu nó đổ nước, rồi quay điện. Sau đó nó trói cô nằm sấp rút hai chân lên, đánh dưới gan bàn chân bằng củ mây. Lúc đầu còn đau, nhưng lần lần như bị một bàn ủi nóng đặt lên. Cứ mỗi lần roi đánh xuống như có sợi dây giựt tới đỉnh đầu. Không thể nào nhúc nhích gì được vì nó trói chặt quá. Mấy tên mật thám cầm củ mây thay phiên nhau đánh liên hồi. Tên Ba-danh một chân quỳ ngang đầu cô, một chân ngồi để hỏi cung. Đánh dồn dập và hỏi cũng dồn dập:


- Mày gặp chị Năm Bắc kỳ chỗ nào? Bây giờ nó ở đâu? Nhà chỗ nào? Nó hay đi đường nào?


Chúng cứ hỏi riết xoay quanh chị Năm Bắc kỳ như thế, cô vẫn làm thinh. Nó vừa hỏi vừa đánh đến mức mình không còn biết gì nữa, nó mới mở dây, bắt dựng đứng mình dậy và cho đứng trên một khoanh dây luột (Loại dây bện bằng xơ dừa) đang để khoanh tròn dưới nền gạch. Cảm giác bị đánh không còn nữa mà khi chúng dựng mình lên khoanh dây, mình quỵ ngay, vì như có muôn ngàn mũi kim châm đau tới đỉnh đầu. Chúng nắm hai cánh tay cô dựng dậy để dộng hai chân xuống. Cô rút chân lên thì nó vật té sấp xuống, nắm hai cườm tay lật ngược lại đưa về phía trước kiểu lộn mề gà và động tác này, chúng đã cắt đứng đường thở của cô. Cô không còn biết gì nữa. Khi tỉnh lại chính tay tên cò Ba-danh móc vào hai bên sườn cô, bấm mạnh đến lủng hai làn áo thấu xuống xương sườn, rách thịt. Cô chỉ kịp “ự” lên một tiếng rồi chết giấc luôn.


Chúng cho khiêng cô bỏ xuống xà lim, dặn tên lính gác đừng đóng cửa. Khi cô tỉnh dậy thì trời đã sáng mờ. Thân thể đau nhừ, tay chân không nhấc lên nổi. Tới giờ làm vệ sinh, chúng đi mở cửa xà lim. Cô thấy xà lim đối diện với cô, cửa đã mở. Một phụ nữ mặt mày sưng húp hai mí mắt bầm đen, trạc bốn mươi tuổi, ló đầu nhìn cô. Tranh thủ bọn lính còn đi mở cửa các xà lim khác, chị nói:


- Hồi hôm chị tưởng em chết rồi, chị khóc. Không biết con ai mà chết như vậy, cha mẹ làm sao hay được mà xin xác. Chị nghe tụi nó dặn nhau là đừng đóng cửa, cứ mười lăm phút vào kêu một lần coi em có tỉnh lại không. Chúng cũng đang sợ em chết...


Sau đó cô biết chị là Chị Ba Đặng Thị Thén, lúc đó là giao liên của xứ ủy. Sau này chị bị đưa đi quản thúc ở một thị xã với cô và cùng bị đầy lên núi Bà Rá một lượt với cô.


Bảy giờ sáng. Chúng khiêng cô lên phòng điều tra. Lần này chúng không đánh mà bắt cô ngồi ngâm chân vào thau nước muối. Chúng tiếp tục hỏi cung. Chúng xoay quanh chỗ chị Năm Bắc Kỳ ở và những nơi thường tới lui. Cô vẫn một mực lắc đầu. Thế là nó lại vật cô xuống đánh tới tấp. Lần này khi cô bất tỉnh chúng cho khiêng để trên một chiếc băng dài, có một tên mật thám Pháp đứng canh chừng, vừa mở quạt vừa thoa dầu nóng cho cô tỉnh lại. Cô lơ mơ nghe tiếng nói. Tên Pháp hỏi một tên đứng gần đó:


- Tại sao lại đánh cô này dữ vậy?


Tên kia trả lời:


- Tại nó làm thinh...


Sau đó, chúng đem cô xuống xà lim, và cứ một vài ngày lại đem lên điều tra một lần. Thỉnh thoảng, chúng lại đè cô xuống đánh một trận chết đi sống lại.


Một hôm chúng đang đánh cô trong tư thế bắt nằm sấp xuống đất. Cô nghe tiếng hỏi:


- Lộc, mày biết con này không?


Không nghe tiếng trả lời mà chỉ nghe tiếng đánh đập và tiếng hỏi của tên mật thám:


- Mày mà không biết con Tiếu à? Tay chân của con Năm Bắc Kỳ đó. Tướng tá coi tiểu thơ quá mà chịu sao nổi. Kỳ này chắc chết luôn...


Cô không thấy mặt đồng chí Lộc nhưng rất an tâm chịu cực hình. Cô nghĩ trong lòng, mình có chết thì đồng chí mình biết được là đủ. Đồng chí Lộc ở Chợ Lớn, hồi ở ngoài hai người có biết nhau, nhưng vào đây đồng chí không khai báo. Thật đáng phục.


Khi chúng đem cô trở xuống xà lim, đi ngang qua xà lim đồng chí Lộc, đồng chí thấy cô. Sau đó đồng chí đã tìm cách nhắn qua cô “ráng chịu đựng”, kinh nghiệm cho thấy trong lúc bị tra tấn, nếu có vài lời khuyến khích như vậy là ta có thêm sức dữ lắm. Lúc ấy, cô đang trong tâm trạng được khuyến khích đó, nhờ đồng chí Lộc.


Hơn một tháng ở bót Ca-ti-na, không khai thác cô được gì, chúng lại đưa người đến nhận mặt cô. Có lần nó dẫn đồng chí Phùng Lượng đi ngang, bỗng nhiên nó bắt đứng lại chỗ cô và hỏi:


- Người quen đây phải không?


Cô ngó Phùng Lượng rồi xây mặt chỗ khác. Và đồng chí đã hiểu ý nên cũng làm mặt lạ. Đồng chí Lượng lắc đầu:


- Không quen.


Hết tra khảo đến đưa người nhìn mặt. Có một hôm, chúng lại dẫn cô lên phòng điều tra. Tại đây tên cò Béc-tanh đã bắt đầu trò dụ dỗ. Cò Bec-tanh là người Pháp lai Việt Nam, nói tiếng Việt rất rành. Hắn hỏi tôi:


- Bây giờ nếu bị quản thúc ở một nơi xa lạ, cô làm sao sống?


- Tôi biết may - Cô trả lời hắn - và thêu. Tôi sẽ làm mướn cho các tiệm may...


- Ai dám mướn cô mà làm mướn? Cô đến chỗ ấy nội việc gặp bạn bè không thôi cũng không phải dễ, vì biết đâu sẽ có rủi ro bất ngờ cho người ta. Bà con người ta đều sợ những người như cô, không ai dám chứa chấp đâu. Khó khăn nhiều lắm, không lường trước được, cô tính sao?


- Tôi không biết đâu mà tính trước, gặp khó khăn tới đâu sẽ tính tới đó.


-Vậy không được. Cô phải tính trước cho cuộc đời mình. Cô còn trẻ lắm, tương lai còn dài. Phải biết chọn con đường mà đi cho bản thân, tội gì mà gánh chịu cho mình cuộc sống khó khăn bế tắc? Tôi tính như vầy, cô khỏi phải lo gì hết. Cô làm việc với chúng tôi. Cứ đi đây đi đó như thường tôi chịu tất cả chi phí ăn xài cho cô đầy đủ. Cô cần gì có nấy. Lúc nào gấp rút cần xe hơi đi đâu cũng sẽ có liền...


Cô đã biết ý đồ của hắn, nên nói thẳng:


- Tôi không có khả năng làm việc với ông.


- Cô dư sức làm - hắn thuyết phục - tôi hứa với cô chuyện này chỉ có cô và tôi biết mà thôi. Ngoài ra không ai biết nữa đâu mà cô ngại.


- Tôi không ngại gì hết, nhưng tôi không làm được chuyện ông nói.


- Tại sao không được? Tôi biết các đồng chí của cô còn tin cô lắm. Cô cứ liên hệ hoạt động với họ rồi báo cho tôi biết.


- Ông nói như vậy là ông bảo tôi phản lại các bạn của tôi à? Chuyện đó tôi cũng không làm được.


- Cô suy nghĩ đi, trả lời với tôi như vậy cô gặp khó khăn đó. Suy nghĩ đi.


Nó không nói nữa mà bỏ đi, bắt cô ngồi yên tại chỗ. Ngồi chờ tới sáu giờ chiều. Hắn quay lại và tiếp tục hỏi. Cô cũng trả lời dứt khoát:


- Tôi không phản lại các bạn của tôi được.


Nó “hừ” một tiếng vẻ không bằng lòng. Nhưng sau đó nó lại nói:


- Cô cứ tiếp tục suy nghĩ đi, có gặp khó khăn báo cho biết, tôi sẵn sàng chờ.


Lính dẫn cô xuống khám. Chị Ba Thén thấy cô trở xuống, mừng quá chị nói:


- Từ sáng tới giờ tao tưởng đâu tụi nó đập em chết rồi.


Tiếu nhìn chị cười. Cái cười ngầm nói với chị:


- Chị em mình đã thắng.


Phan Đăng Lưu, ủy viên trung ương Đảng, quê xã Tràng Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Lúc nhỏ Phan Đăng Lưu học chữ Hán, sau học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp. Khi sắp đến kỳ thi tốt nghiệp trung học ở Huế, Phan Đăng Lưu bỏ không thi và xin vào học ở Trường Canh nông Tuyên Quang. Tốt nghiệp trường Canh nông, Phan Đăng Lưu đến làm việc ở Nhà thí nghiệm canh nông Thanh Ba (tỉnh Phú Thọ), sau chuyển về Vinh. Ở Vinh, được gặp những bạn cùng chí hướng, Phan Đăng Lưu tham gia hội Phục Việt, sau đổi là Hưng Nam, rồi Tân Việt Cách mạng Đảng. Ngày 14-7-1928, tại Đại hội thành lập Tân Việt Cách mạng Đảng, Phan Đăng Lưu được bầu làm Ủy viên thường vụ Tổng bộ, phụ trách Tuyên huấn. Chính thời gian đó, Phan Đăng Lưu đã chú ý đến Minh Khai, đảng viên trẻ tuổi của Tân Việt Cách mạng Đảng, học trò của Trần Phú khi anh dạy trường Cao Xuân Dục ở Vinh.


Sau khi sang Quảng Châu gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc bàn việc thống nhất lại trở về, đầu năm 1930, chính Phan Đăng Lưu đã đưa Minh Khai vào Đông Dương Cộng sản liên đoàn và đến giữa năm 1930 chị trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Đông Dương.


Tháng 11-1939 Phan Đăng Lưu vào Sài Gòn tham dự Hội nghị Trung ương do đồng chí Nguyễn Văn Cừ chủ trì. Hội nghị này quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng cho phù hợp với tình hình mới. Gặp lại Minh Khai, Phan Đăng Lưu hết sức ngạc nhiên khi thấy Minh Khai con người rắn rỏi, cứng cáp hơn nhiều, mà trình độ chính trị, lý luận cách mạng cũng rất cao. Chắc là do kết quả những năm làm việc bên cạnh đồng chí Nguyễn Ái Quốc ở Chi nhánh bộ Phương Đông tại Hương Cảng và khi công tác ở ban lãnh đạo của Đảng ta ở ngoài nước tại Thượng Hải.


Đọc bản báo cáo của Thành ủy Sài Gòn mà Minh Khai giao cho Tiếu mang lên, Phan Đăng Lưu càng phục sự đi sát nắm tình hình thực tế và nếp suy nghĩ khoa học của Minh Khai. Dựa vào tư liệu của Minh Khai cung cấp, Phan Đăng Lưu viết tờ truyền đơn của Ủy ban mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương. Lúc này anh có cảm giác như sống giữa phút “nửa đêm truyền hịch” của thời đại mới.


Ba Đạm(1) nhân viên mới của cơ quan thay Tiếu đã bị bắt, trở về đưa cho Minh Khai một xấp giấy:


- Anh Phan Đăng Lưu gửi cho chị bản thảo tờ truyền đơn để rải trong dịp “cát-tó duy-dê”, và dặn chi cho in ngay để rải kịp thời.


Minh Khai giở ra đọc thì thấy trên đó viết:


“Hỡi quốc dân đồng bào!


Hỡi các dân tộc Đông Dương và anh em binh lính!


Hiện nay Chính phủ Pháp bại trận, Pétain hàng Đức một cách nhục nhã, Chính phủ Pháp bạc nhược quỳ mọp dưới chế độ phát xít Nhật.


Chính phủ Pháp đã đến kỳ diệt vong rồi.


Hỡi dân tộc đồng bào!


Những bằng chứng rõ ràng cho chúng ta thấy chúng sợ phong trào cách mạng giải phóng Đông Dương, nên đem toàn lực khủng bố phút cuối cùng, bắt bớ, bắn giết tù đầy, nào tàu bay, nào mút cơ tông, minh tai ơ(2), nhưng chưa đủ lại còn phao vu cho cộng sản cướp của giết người, hiệp lực với bọn cáo gian mà tuyên truyền tàn sát cộng sản.


Hỡi dân tộc đồng bào và binh lính!


Cộng sản hoàn toàn nhân đạo cương quyết sống chết đem lại hạnh phúc cho quê hương, xứ sở, cho quốc dân đồng bào.


Ai cướp của giết người? Chính phủ Pháp đi bắt bớ, giết người bắt gà heo, tiền, mà lại còn hãm dâm đàn bà con gái.


Ai dã man? Chính phủ Pháp. Chúng tôi đoán chắc rằng nói các dân tộc Đông Dương chúng ta không cương quyết hy sinh tranh đấu được giải phóng thì rồi đây không một người nào tránh khỏi giam cầm như Hội đồng Huy, Tú tài Nhựt ở làng Bình Chánh (Tô An), như cựu Hương quản Dụ ở làng Thanh Hà (Chợ Lớn) v.v... nhứng người lương thiện làm ăn mà cũng phải bị tù đầy tra tấn còn non nước nào mà dân chúng không chiến đấu!


Hỡi quốc dân đồng bào!


Hỡi anh chị em binh lính và các vị Hương chức hội tề!


Hỡi các vị giáo viên!


Hỡi anh em thợ thuyền và dân cày!


Mau đứng lên hiệp lực với Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương!


1. Đánh đổ đế quốc Pháp, chống phát xít Nhật xâm lược!


2. Đả đảo bọn việt gian thân Nhật chó săn cho đế quốc!


3. Đả đảo bọn cáo gian cộng sản giết người!


4. Chống khủng bố trắng!


5. Thả hết chánh trị phạm Đông Dương!


6. Liên lạc mật thiết cách mạng thế giới!


Ủng hộ Liên bang Xô viết!


Ủy ban Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương.


Minh Khai gọi Quang trong tổ in ấn vào, dặn:


-             Em và Ba Đạm cho in tờ truyền đơn này rồi mang đi rải ngay, đặc biệt là ở gần những trại lính tập. Chị bắt tay vào chuẩn bị bài vở cho tờ báo Tiến lên cơ quan tranh đấu của Mặt trận phản đế với nội dung hướng dẫn mọi mặt công tác chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa.


Ba Đạm vào báo cho Minh Khai biết, ngày 22-5, cảnh sát Pháp bắt được ở đường Lý Thành Nguyên, Chợ Lớn([3]) một nữ liên lạc viên. Ban đầu chúng tưởng là Minh Khai, hí hửng báo lên cấp trên, sau mới biết là không đúng.


Minh Khai lại được tin đồng chí Nguyễn Văn Tiến, tức Giáo Hoài ủy viên trung ương Đảng sắp từ Bạc Liêu về Sài Gòn. Anh Tiến người Nam Định, vào Nam kỳ hoạt động, năm 1931 Pháp đã kết án tử hình anh, sau hạ án chung thân rồi đầy ra Côn đảo. Đêm 30 - 4 - 1935, anh Tiến cùng các anh Tạ Uyên, Tống Văn Trân, Phạm Hồng Thám, Nguyễn Văn Trọng vượt ngục Côn đảo về Bạc Liêu, hoạt động ở Liên tỉnh ủy Long Xuyên, Hậu Giang. Anh Tống Văn Trân được phân công phụ trách công tác tuyên huấn của xứ ủy Nam kỳ, sau bị địch bắt ở Phan Rang, giam ở Khám lớn Sài Gòn và tra tấn cho đến chết.


Trong một căn phòng ở địa điểm tại Chợ Lớn, Tiến đang vẽ mô hình lá cờ sẽ phất lên trong cuộc khởi nghĩa. Trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh và các cuộc biểu tình, bãi công của thợ thuyền nông dân trước đây, ta dùng cờ búa liềm của Đảng. Nhưng cuộc khởi nghĩa của toàn dân sắp tới, nhằm mục tiêu lật đổ ách thống trị của đế quốc Pháp, xây dựng một nước Việt Nam độc lập, cần phải có quốc kỳ để dẫn dắt cuộc chiến đấu, hiệu triệu quốc dân đồng bào và tuyên cáo với năm châu.


Trong những ngày bị giam cầm ở Côn Đảo, Tiến nghĩ nhiều về hình dạng lá quốc kỳ. Sau khi đã tham khảo mẫu cờ nhiều quốc gia trên thế giới, Tiến quyết định phải làm sao cho cờ đơn giản mà đẹp, mang tính chất dân tộc. Tiến thấy cờ nên dùng màu đỏ và màu vàng để lấy cái ý máu đỏ da vàng. Màu đỏ là màu chiến đấu, ngôi sao vàng là ánh sáng chỉ đường, vậy là đủ ý nghĩa cách mạng. Tiến hình dung trước lá cờ khi dẫn đầu hàng ngũ đấu tranh, sẽ thấm thêm nhiều máu của các liệt sĩ để màu cờ càng tươi thắm, phập phồng hồn nước.


Vẽ xong mầu cờ, Tiến mang sang phòng bên cho Minh Khai xem, Minh Khai khen:


- Đẹp lắm! Ý nghĩa lắm! Ngôi sao năm cánh còn có ý nghĩa tượng trưng cho bốn phương Đông Tây Nam Bắc và phương Trung theo quan niệm triết học Phương Đông. Phương Trung ở Trung cung, hành Thổ, tức là Đất nước. Hành Thổ màu vàng, càng hợp với màu vàng của ngôi sao. Năm cánh sao vừa tượng trưng cho năm giới: Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh vừa tượng trưng cho Ngũ hành; Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, năm nguyên tố tạo lập nên vũ trụ.


Tiến ngạc nhiên:


- Sao chị lại biết được tất cả những điều ấy:


- Khi tôi công tác ở văn phòng của Chi nhánh Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Hương Cảng, đã được đồng chí Nguyễn Ái Quốc dạy bảo cho nhiều. Ngoài ra tôi còn đọc thêm sách bằng Hoa ngữ, Lê-nin chẳng dạy “Học, học nữa, học mãi” là gì!


Hai người cùng cười.


Trong cơ quan là nơi in ấn và phát hành báo Tiến lên của Mặt trận thống nhất phản đế, Minh Khai ngồi thảo bản kế hoạch về khởi nghĩa Nam Kỳ. Ngòi bút Minh Khai đưa nhanh trên trang giấy:


“Kẻ thù phải bị tiến công bất ngờ và vào chỗ yếu. Đánh chiếm tất cả đồn bót và tất cả những nơi quan trọng, như trại lính, nhà tù, bưu điện, vô tuyến điện, nhà băng, cơ quan cai trị, sân bay, kho tàng...


Khi khởi nghĩa bùng nổ, việc phân phối nhiệm vụ gồm một kế hoạch toàn diện về phá hoại (như cắt dây điện tín, điện thoại, phá cầu phà...)


Giành được chính quyền, ra lệnh tịch thu toàn bộ tài sản của bọn tư bản chủ nghĩa thực dân, nhà băng, bọn tư bản cho vay lãi và bọn phản bội...


Chính quyền phân phát gạo cho quần chúng, và tịch thu ruộng đất của bọn địa chủ phản động chia cho nông dân...


Đến đoạn kết, Minh Khai suy nghĩ một hồi rồi viết tiếp, chữ khỏe và đậm hơn.


Nếu chúng ta xem xét tình hình thế giới và trong nước hiện nay, chúng ta thấy những điều kiện khách quan ngày càng thuận lợi cho cách mạng và còn kẻ thù ngày càng suy yếu.”


Viết xong, Minh Khai thầm nghĩ. Cậu Quang đi từ hôm qua đến nay sao chưa về nhỉ? Hay là động rồi. Có lẽ mình phải dời lên địa điểm mới của Xứ ủy ở Bình Đông, an toàn hơn... Phải sang báo cho anh Tiến chuẩn bị.


Trong cơ quan có Quang là nhân viên in ấn tài liệu, thì hôm qua đã đi phân phát tài liệu. Cô Ba Đạm  thì vừa lên Bà Điểm gặp chị Hai Sóc nắm tình hình chưa về. Có hai em nhỏ ở Cà Mau, anh Châu Xương([4]) vừa đưa lên để phụ viết và in tài liệu tuyên truyền cho cuộc khởi nghĩa. Để đối phó với bên ngoài, Ba Đạm nói là em cô dưới tỉnh lên tìm việc làm, hiện giờ hai em đang canh gác ở ngoài cửa để bảo vệ cho Minh Khai làm việc.


Vào lúc 6 giờ chiều, Minh Khai vừa cất tài liệu đi, thì một em nhỏ vào báo:


- Cô Năm ơi, có lính kín đến.


Minh Khai toan thoát thân thì đã không kịp nữa. Quang dẫn tụi lính kín ập vào. Một tên lính kín chỉ vào Minh Khai hỏi:


- Phải không?


Quang trả lời:


- Phải.


Minh Khai biết Quang bị bắt, không chịu nổi tra tấn, đã khai ra địa điểm bí mật của cơ quan. Một tên lính kín lễ phép nói:


- Mời bà ra xe, ông cò của chúng tôi đã chờ sẵn ngoài đó để đón bà.


Minh Khai bình tĩnh bước ra cửa. Ba-danh ngồi sẵn trong xe, lịch sự:


- Chào bà. Xin mời bà lên.


Chiếc xe chạy thẳng về phía bót Ca-ti-na.


Hai em nhỏ nhìn theo khóc tức tưởi.


Ba-danh vui mừng hí hửng, loan báo cho bọn thống trị lớn nhỏ ở Sài Gòn là đã bắt được Quan Sáu của cộng sản. Cả đêm bót Ca-ti-na rộn ràng. Chúng nó không ngủ và phát cho những tên lính kín có mặt mỗi đứa hai chục đồng, tha hồ ăn nhậu, gọi là mừng chiến công. Nhiều tên đi ngang qua để nhìn kỹ mặt Minh Khai. Có thằng hỏi nhau: Minh Khai là gì?


 


X. Trong bót mật thám Ca-ti-na có một cái khám đặt ngay cạnh buồng giấy để nhốt những tù nhân chờ lấy khẩu cung. Đó là một cái nhà vách gạch trơ trụi, không hiên, không chái, cửa đóng sùm sụp. Mỗi cánh cửa có một cái lỗ vuông mỗi bề độ hai tấc.


Ở một ngăn hẹp, nền lênh láng nước, cách cửa vài bước, một cái thùng tiêu không nắp, dựa một cái sập nghiêng nghiêng vừa đủ cho ba người nằm. Minh Khai đang ngồi, mặt bầm tím, tóc xõa xượi rơi trùm cả trước mặt. Hai chân chị bị còng, hai tay bị trói giật ra sau ghì vào một cây sắt, miệng chị gàng một cây mây. Chị đăm đăm nhìn lên vách tường, trên vách nhem nhuốc có một hàng chấm, chấm nào chấm nấy bằng ngón tay, khít với nhau và khá đều đặn, tạo thành một đường thẳng, giáp ba mặt vách tường, vẽ bằng máu. Trên dấu máu khô đỏ bầm đen, còn dính chân dính cánh của muỗi. Minh Khai thầm nghĩ người vẽ lên tường này phải là một người bị giam lâu ngày, buồn không biết làm gì, nên giết muỗi đậu vách tường mà giải khuây.


Cửa khám mở, một lính gác vào:


- Mời bà lên phòng ông nhất để lấy khẩu cung.


Mấy tên lính tháo còng, cởi dây trói, gỡ cây mây gàng miệng Minh Khai rồi dẫn chị lên phòng ông “nhất”.


Tên cò Ba-danh ngồi trước bàn giấy giữa phòng bên cạnh là tên cò Béc-tanh. Trên bàn một cái cặp giấy, ngoài đề “affaire politique”(việc chính trị) bằng bút chì xanh.


Ba-danh giơ tay mời Minh Khai ngồi ghế đối diện mình rồi khoan thai giở cặp ra, lấy tập hồ sơ để trước mặt. Rồi hắn bắt đầu hỏi cung:


- Chị là Bí thư Thành ủy Sài Gòn?


Minh Khai không trả lời:


- Chị là người chủ trương các cuộc đình công ở bến tàu Sài Gòn, ở Sở Ba Son và nhiều nơi khác?


Minh Khai vẫn lặng thinh:


- Chị là người tổ chức Ủy ban phụ nữ Ái hữu Sài Gòn - Chợ Lớn.


Minh Khai rắn rỏi:


- Những việc này các ông còn lạ gì mà phải hỏi.


Ba-danh vẫn kiên nhẫn:


- Những việc này chị từng tiến hành với những ai? Chị thường liên lạc, bàn bạc với những ai?


Minh Khai bình thản:


- Những việc này mình tôi chủ trương, mình tôi làm không có liên quan gì đến ai hết.


- Chị nói lạ? Mình chị sao làm hết được tất cả những việc này? Phải có người đồng mưu với chị chớ!


Minh Khai dằn từng tiếng:


- Tất nhiên là có. Nhưng tôi biết những người đó là để làm việc cho Đảng tôi, cho đất nước tôi chớ không phải để khai với các ông.


Ba-danh lấy thuốc lá hút để lấy lại bình tĩnh. Phả một hơi khói hắn cố dấn thêm một lần nữa:


- Nếu chị thành thực khai với chúng tôi thì sẽ được hưởng lượng khoan hồng. Bằng không chúng tôi cũng có cách buộc chị phải nói mà lúc đó thì chị đừng hòng được ân giảm chút nào hết.


-Thì tôi có xin xỏ gì ở các ông đâu. Muốn tra tấn cứ việc tra tấn. Tôi đã nói không biết là không biết.


- Chị nên nghĩ kỹ đi. Sắt thép là vật vô tình nó không biết nể da thịt con người đâu.


- Các ông không có trái tim nên mới phải dựa vào sắt thép, còn tôi có trái tim của con người yêu nước, có sợ gì sắt thép của các ông.


Ba-danh không nén được nữa:


- Chúng tôi rất kính trọng chị nên mới không nỡ dùng cực hình đối với chị nhưng nếu chị cứ ương ngạnh thế thì được. Tụi bây, đưa con này xuống phòng tra tấn, nghen!


Bọn lính đồng thanh:


- Dạ.


Chúng dẫn Minh Khai đi. Ba-danh thở dài chán nản khi nhìn thấy dáng đi bình tĩnh hiên ngang của người nữ chiến sĩ cách mạng. Điếu thuốc lá ngún cháy đến sát môi mà hắn quên chưa kịp gỡ.


Trong phòng tra tấn. Bọn lính kín buộc dây vào hai cổ tay Minh Khai. Một tên hô:


- Cho máy bay lên đi!


Chúng quăng dây lên xà nhà rồi kéo xuống treo Minh Khai lủng lẳng trên xà. Chị nghe rõ từng đốt xương sống xương sườn kêu răng rắc. Đầu chị dốc ngược xuống đất gan ruột tưởng chừng như đảo lộn. Nhưng chị vẫn cắn răng không kêu một tiếng nào. Thấy không có hiệu quả tên mật thám lại hô:


- Máy bay hạ xuống sân!


Thân thể chị chưa kịp chạm mặt đất, bọn chúng đã lấy giày đinh đạp túi bụi khiến lưng chị hằn đầy những vết đinh. Chưa hết, chúng còn quất roi mây vào gan bàn chân chị. Vừa quất chúng vừa hỏi:


- Trung ương của mày có những ai?


Minh Khai không trả lời. Chúng lại hỏi:


- Việc ở Ba Son ai làm?


Minh Khai bình tĩnh:


- Chúng mày đã biết rồi thì còn hỏi làm gì?


Bọn lính kín lại xông vào đấm đá túi bụi. Thấy chị ngất đi, chúng khiêng chị ném vào một góc khám. Vừa đi chúng vừa nói:


- Con này dai như con trâu, nó để người ta đánh như con trâu mà không biết đau mới lạ chớ!


Minh Khai ngồi bó gối ở một góc khám. Hai bàn chân chị tụ máu sưng bầm mềm bủng như hai cái gối gòn con. Lúc bị bọn lính kín nện roi mây vào gan bàn chân chị nghe thốn lên tới đỉnh đầu. Hai mắt nảy đom đóm, tai ù ù nhoi nhói. Nhưng chỉ một lúc sau, chị đã thấy toàn thân tê dại đi không còn biết đau nữa. Chị tự nhủ chỉ cần gan góc ngay từ phút đầu chúng đe dọa, một khi chúng đã đánh rồi, toàn thân mình căng ra như một sợi dây đàn, lúc ấy không còn cảm giác nữa. Mình chỉ tâm niệm một điều, chẳng thà một mình mình phải chịu đau đớn, đừng để người khác cũng đau đớn như mình, thế là có đủ can đảm để chịu đòn. Đến nỗi đau đớn vì phải xa con mà mình còn chịu đựng được thì không có gì trên đời này khiến mình sợ hãi...


Nghĩ đến con, Minh Khai lại thấy đầu vú cương sữa nhức nhối. Giờ đây không biết bé Hồng Minh có đủ sữa bú không? Thiệt là trớ trêu! Giữa lúc sữa loang cả ngực áo mình thì con mình lại thiếu sữa! Nhưng Minh Khai tin rằng bà con ở An Nhơn sẽ không để Hồng Minh khát sữa! Giờ này anh Lê Hồng Phong ở một nhà ngục nào chắc cũng đang nghĩ đến vợ con. Tội nghiệp cho đứa nhỏ, vừa lọt lòng ra không được thấy mặt cha đã đành, mà liền đó lại thiếu cả mẹ thương yêu chăm sóc...


Minh Khai lại nghĩ đến các đồng chí. Không biết anh Ba Duẩn có thoát được không. Minh Khai nhớ lại hôm cùng anh Ba Duẩn ngồi đợi anh Phùng về, đợi hoài không thấy, cuối cùng mới hay tin anh Phùng đã sa vào tay tụi nó. Nhớ cả các đồng chí trong Thành ủy như Nguyễn Oanh, Vũ Thiệu Tấn, Trần Văn Quang... nhất là chị Một và anh Mười Cúc([5]). Mười Cúc là một ủy viên thường vụ trẻ, đầy nhiệt tình và năng lực. Minh Khai rất quý mến anh và đã có kế hoạch giúp đỡ bồi dưỡng anh thành một cán bộ lãnh đạo xuất sắc, vì nhận thấy anh có rất nhiều triển vọng. Bây giờ chị vắng mặt rồi, không biết bao giờ lại có thể tiếp tục làm công việc ấy. Nhưng Minh Khai tin rằng với đầu óc thông minh và tinh thần hăng say sẵn có, anh Ba Duẩn, anh Mười Cúc cũng như các đồng chí khác nhất định sẽ vượt qua được mọi nỗi gian lao làm tiếp công việc mà mình còn bỏ dở...


(còn tiếp)


Nguồn: Chim gọi nắng. Quyển 16 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








([1]) Tức đồng chí Đinh Thị Tiếu, quê Chợ Mới, Long Xuyên.




([2]) Tức đồng chí Nguyễn Thị Ảnh, quê Long Xuyên.




(1) Bí danh của đồng chí Chiêm Thị Ngói.




(2) Mousqueton là súng trường - Miltrailleuse là súng máy.




([3]) Nay là đường Đỗ Ngọc Thạnh.




([4]) Bí danh của đồng chí Tạ Uyên.




([5]) Bí danh của đồng chí Nguyễn Văn Linh.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 26.04.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »