tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19701405
Những bài báo
26.12.2012
Nhiều tác giả
Những bài báo về nhà thơ Nguyễn Mỹ

Chuyện bi tráng về nhà thơ Nguyễn Mỹ


Trong chiến tranh chống Mỹ, Quảng Nam là vùng đất được coi vào loại ác liệt nhất nước. Đấy là một vùng đất chết, một bên trắng xóa cát biển, một phía lúp xúp đồi. Bom đạn cày xới đến từng cen-ti-mét. Nơi đấy một loạt các nhà văn đã hy sinh mà hai người nổi tiếng nhất, đến giờ vẫn còn để lại những đau xót trong lòng mọi người là nhà văn Dương Thị Xuân Quý và nhà thơ Nguyễn Mỹ.


 


Tôi vừa được cùng một số nhà văn Khu Năm cũ về thăm căn cứ Khu ủy khu V xưa ở Trà My, căn cứ địa Nước Oa - "Thủ đô kháng chiến Khu Năm" thời chống Mỹ, nơi hiện đang có phần mộ liệt sĩ Nguyễn Mỹ.


 


Có nhiều chuyện về Nguyễn Mỹ, nhà thơ của Như chưa hề có cuộc chia ly nổi tiếng mà có lẽ không ai không biết vì nó được đưa vào sách giáo khoa, vả lại bài thơ này cũng hay thực sự, ít nhất là cho đến bây giờ. Ông quê ở Tuy An, Phú Yên, là em ruột nhạc sĩ Nhật Lai với bài hát Hà Tây quê lụa nổi tiếng. Câu chuyện về sự hy sinh của Nguyễn Mỹ đầy éo le mà tôi được nghe từ các đồng đội của ông kể ngay tại mộ ông khiến rưng rưng quặn thắt.


Trước đó, năm 1964, Nguyễn Mỹ làm bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ như một sự tự khẳng định tài năng của mình trên văn đàn. Bài thơ là một trong những áng thơ tình hay nhất thời ấy, đồng thời cũng rất lạc quan thời đại, nó vừa có yêu đương, có chia ly lại rực rỡ sắc màu, nhờ thế mà nó được phổ biến và hầu như thanh niên ai cũng thuộc. Lục trong google, thấy Wikipedia ghi vẻn vẹn: "Nguyễn Mỹ sinh ngày 21 tháng 2 năm 1935, tại thôn Trung Lương, xã An Nghiệp, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên. 16 tuổi vào bộ đội, chiến đấu ở chiến trường Nam Trung Bộ. Năm 1954, tập kết ra Bắc, công tác ở đoàn văn công Tây Nguyên (nơi anh ruột mình là trưởng đoàn - VCH). Học xong lớp báo chí của Trường Tuyên huấn Trung ương thì về công tác ở Nhà xuất bản Phổ Thông. Năm 1968, ông trở lại chiến trường miền Nam, làm phóng viên báo Cờ giải phóng Trung Trung Bộ, thuộc Ban Tuyên truyền văn nghệ khu V. Hi sinh ngày 16 tháng 5 năm 197l ở huyện Trà My, Quảng Nam".


Nhưng những gì tôi nghe các nhà văn là đồng đội của ông kể thì bi tráng và đau đớn hơn nhiều. Nó khiến tôi ngẩn ngơ suốt cả tháng. Thì ra phía sau mỗi cuộc đời, phía sau những vần thơ đẹp, phía sau tưởng tượng và hiểu biết của ta, lại là những sự thật, phần lớn là đau lòng...


... Vào những ngày cuối đời của nhà thơ Nguyễn Mỹ, ông gần như bị cách ly với cuộc chiến đấu và với cả đồng đội. Sau ngày giải phóng, phải thẩm tra mãi, cách đây mấy năm, nhà thơ mới được công nhận là liệt sĩ. Số là ở quê tại Phú Yên, ông có một bà mẹ, bà rất nông dân, một hôm bị bắt trộm con gà, mà người bắt chính là mấy anh... du kích xã. Hồi ấy các anh du kích trẻ đói nên việc ấy cũng thường xảy ra. Tiếc gà, bà chửi như tất cả những người nông dân mất gà khác. Bà chửi liền mấy ngày đêm thì bị chính mấy anh du kích này bắn chết, nhưng họ lại báo lên trên rằng bà là Thiên Nga. Trên báo lên trên tiếp... Thế là Nguyễn Mỹ tự nhiên bị cách ly, được phân ra rẫy ở một mình đuổi khỉ và chim, tự túc lương thực thực phẩm. Một người bình thường cô đơn đã khổ, huống gì đây lại là nhà thơ của "Cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ/ Tươi như cánh nhạn lai hồng... Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi/ Như chia hề có cuộc chia ly...", nhà thơ mỏng manh nhạy cảm và có thể cả yếu đuối nữa, thế mà một mình một khu rừng trong nỗi mặc cảm dày vò khắc khoải không được giải thích và có thể là cả ân hận nữa thì nỗi cô đơn đau khổ nhân lên gấp mấy lần? Ở lâu như thế, hoàn toàn mù tịt với tình hình và cả cách đánh của địch, một hôm ông gặp một tốp biệt kích nhưng lại hóa trang mặc quân phục giải phóng. Mừng quá, ông nhào ra vẫy rối rít: “Các đồng chí ơi, tôi đây...”. Bảy ngày sau thì đồng đội mới biết ông đã bị bắn chết. Nhưng lúc này thì xác đã trương lên và có biểu hiện có lựu đạn ở dưới xác. Thường bọn biệt kích hay cài lựu đạn dưới xác liệt sĩ để nó sẽ phát nổ tiêu diệt tiếp khi đồng đội đi tìm. Thế là mọi người để nguyên ông nằm trên mặt đất, lấy đá xếp vòng xung quanh rồi đứng xa hắt đất vào chôn. Đấy là một nỗi đau, là bi kịch cứa mãi trong lòng đồng đội của ông, nhưng bi kịch hơn là sau đấy khi quay lại quy tập hài cốt thì... toàn bộ hài cốt đã không còn. Chỉ còn lại các dụng cụ cá nhân mà khi bị bắn chết ông vẫn mang trên người như quần áo, dép, vỏ đạn, bi đông... những thứ này bây giờ đang nằm dưới ngôi mộ có tên liệt sĩ nhà thơ Nguyễn Mỹ lúc nào cũng đỏ thắm hoa mười giờ do nhà văn Nguyễn Bá Thâm trồng và hôm nay thì rực đỏ hoa hồng do chúng tôi mang đến. Nhà văn Cao Duy Thảo, nhà thơ Thanh Quế và nhà văn Nguyễn Bá Thâm là người sống, chiến đấu cùng Nguyễn Mỹ thời ấy, đồng cam cộng khổ và hiện nay cũng là người siêng năng đi thăm và lo lắng cho mộ Nguyễn Mỹ nhiều nhất, khi kể chuyện này đều buồn rười rượi và các ông đều cho rằng, khả năng lớn nhất là xác nhà thơ Nguyễn Mỹ đã bị thú dữ đào lên ăn thịt. Nhà văn Cao Duy Thảo lặng lẽ ngồi bệt sát mộ Nguyễn Mỹ và kể cho tôi nghe câu chuyện trên. Ông giờ ở Nha Trang, để đến được với Nguyễn Mỹ hôm nay, ông đã vượt năm trăm cây số. Rồi ông kết luận: “Chiến tranh mà. Trong chiến tranh không có chuyện gì không thể xảy ra. Nhiều chuyện còn bi kịch và kinh khủng hơn nhiều, nhiều chuyện cố tin cũng không thể tin nổi, dù đấy là sự thật”. Ông kể thêm chuyện tìm mộ nhà văn Chu Cẩm Phong. Những người chôn Chu Cẩm Phong vẫn còn cả đấy, nhưng đào nát cả thửa ruộng đã chôn anh rồi mà vẫn không thấy hài cốt đâu. Cuối cùng bà mẹ anh xuất hiện. Bà thắp nhang vái rồi sẵn chai rượu mang theo, bà ngậm trong miệng phun khắp xung quanh. Và điều kỳ lạ xảy ra: Một đám cỏ chuyển màu có hình người. Đào lên thì đấy đúng là di cốt Chu Cẩm Phong...


Chúng ta hãy cùng nhau đọc lại bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ, để nhớ và hiểu thêm một thời hào hùng và bi tráng của dân tộc. Trên nắp mộ nhà thơ Nguyễn Mỹ, đồng đội ông cũng khắc mấy câu thơ rực đỏ ấy...


 


Văn Công Hùng


http://suckhoedoisong.vn/200912141016576p15c77/chuyen-bi-trang-ve-nha-tho-nguyen-my.htm


 


Nguyễn Mỹ và những vần thơ đỏ        


 


Nhân dịp được theo Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết về thăm lại căn cứ Khu ủy Khu 5 xưa ở Trà My (tỉnh Quảng Nam), căn cứ địa Nước Oa – “Thủ đô kháng chiến Khu 5” thời chống Mỹ, tôi được đến thăm và thắp nén hương trên phần mộ của nhà thơ – liệt sĩ Nguyễn Mỹ tại nghĩa trang liệt sĩ Bắc Trà My. Giữa núi rừng Trà My xanh thẳm, phần mộ của nhà thơ vẫn luôn thắm tươi sắc đỏ của những đóa hoa.


 


Nhà thơ Nguyễn Mỹ sinh ngày 21-2-1935 tại thôn Trung Lương, xã An Nghiệp, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên; hy sinh ngày 16-5-1971. Ông bắt đầu có thơ đăng trên Văn nghệ quân đội từ năm 1957. Một đời ngắn ngủi, vừa làm lính, vừa làm báo, làm thơ… mặc dù tác phẩm ông để lại không nhiều nhưng chỉ với bài thơ “Cuộc chia ly màu đỏ” (năm 1964), Nguyễn Mỹ đã được nhiều thế hệ độc giả yêu mến, ngưỡng mộ. Đó là một bài thơ dù viết về chuyện chia tay ra trận giữa lúc cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ của dân tộc đang đến hồi ác liệt nhưng không hề cương mà vẫn nhuần nhị, tinh tế một tình yêu quê hương, đất nước rất thuần khiết và một cảm xúc tin yêu dạt dào. “Những cánh hoa đỏ vẫn ngời rung nhè nhẹ/ Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào/ “Khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau”/Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy/ Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy/ Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi/ Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người/ Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp/ Một làng xa giữa đêm gió rét…/ Nghĩa là màu đỏ ấy theo đi/ Như không hề có cuộc chia ly…”. Màu đỏ của cuộc chia ly trong thơ Nguyễn Mỹ đã trở thành điều cao cả, thiêng liêng mà một thời vạn vạn người trẻ đã làm được và hoàn tất sứ mệnh vinh quang – chiến đấu để giành lại nền độc lập cho non sông, đất nước, hy sinh tình riêng vì nghĩa lớn.


 


Bản thân nhà thơ Nguyễn Mỹ cũng đã lên đường theo tiếng gọi ấy. Là một người con của miền Nam tập kết ra Bắc, năm 1968, Nguyễn Mỹ trở lại chiến trường miền Nam làm phóng viên mặt trận của Báo Cờ giải phóng Trung Trung Bộ với mong muốn cháy bỏng là sớm có được những trang viết hay về miền Nam ruột thịt – tiền tuyến lớn của cả nước đang từng ngày, từng giờ diễn ra bao sự kiện lịch sử. Những đồng đội từng công tác tại Ban Tuyên huấn Khu 5 và Báo Cờ giải phóng những năm chiến tranh gian khổ, ác liệt nhất vẫn còn nhớ rất nhiều kỷ niệm về Nguyễn Mỹ, một con người nhiều nét tài hoa, nổi tiếng không chỉ về làm thơ, viết báo mà còn rất thiện xạ nhưng thân phận lại mong manh quá đỗi. Sự hy sinh của Nguyễn Mỹ, đến bây giờ mỗi lần kể lại đồng đội của ông vẫn cứ rưng rưng quặn thắt khôn nguôi…


 


Nhà văn Cao Duy Thảo là người đã từng sống, chiến đấu với Nguyễn Mỹ thời ấy kể lại: Những ngày cuối đời, nhà thơ Nguyễn Mỹ gần như bị cách ly với cuộc chiến đấu và đồng đội mà nguyên nhân xuất phát từ một sự hiểu lầm ở quê nhà Phú Yên. Ông bị phân công ra rừng ở một mình đuổi khỉ, đuổi chim canh rẫy. Một hồn thơ mong manh nhạy cảm, một chiến sĩ đang khát khao được cống hiến, được hy sinh mà bị cách li với đồng đội, với thời cuộc, một mình với một nỗi cô đơn, mặc cảm, khắc khoải giày vò… thì nỗi đớn đau dằn vặt mà ông phải thấu chịu trong những ngày tháng cuối đời nặng nề biết bao nhiêu! Và, cũng bởi bị cách li lâu ngày, hoàn toàn mù tịt với tình hình chiến sự nên một hôm, ông gặp một tốp biệt kích địch mặc quân phục giải phóng; ngỡ là anh em, đồng đội nên quá sung sướng, quá hạnh phúc, ông nhào ra vẫy chào rốt rít: Các đồng chí ơi, tôi đây!... Bảy ngày sau, đồng đội mới biết ông đã bị bắn chết. Nhà thơ Nguyễn Mỹ đã nằm xuống đầy đau xót, nhưng đồng đội của ông còn đau đớn, dằn vặt hơn bởi không thể đắp cho ông một ngôi mộ vì kẻ thù đã hèn hạ cài mìn dưới xác ông nhằm tiêu diệt tiếp những người đồng đội đi tìm xác. Mọi người đành để ông nằm nguyên trên mặt đất, lấy đá xếp vòng xung quanh rồi đứng từ xa hắt đất vào chôn. Ngôi mộ của nhà thơ nhiều năm liền chỉ là một đống đất đá im lặng dưới bóng rừng già.


 


Chiến tranh cuốn đi với những diễn biến dồn dập trên chiến trường, rồi thời gian mưa gió… khi đồng đội ông quay trở lại tìm thì hài cốt của nhà thơ Nguyễn Mỹ đã không còn. Năm 1993, anh em văn nghệ sĩ đã cùng đồng bào địa phương tổ chức khai quật khu vực đồi Dơn, xã Trà Dơn – nơi Nguyễn Mỹ đã hy sinh nhưng cũng chỉ tìm được các dụng cụ cá nhân mà khi bị bắn chết ông vẫn mang theo người như quần áo, đôi dép cao su, vỏ đạn, bi đông, chai dầu “Vạn linh”… Những vật dụng này giờ đây đang nằm yên dưới ngôi mộ có tên Liệt sĩ – Nhà thơ Nguyễn Mỹ lúc nào cũng đỏ thắm màu hoa và khói nhang không tạnh trong nghĩa trang liệt sĩ huyện Bắc Trà My. Trên mộ là tấm đá hoa cương được lấy từ Ngũ Hành Sơn có khắc họa chân dung của ông và 4 câu thơ đầu trong bài thơ bất tử: “Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ/Tươi như cánh nhạn lai hồng/ Trưa một ngày sắp ngả sang đông/ Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ…”. Nhiều người yêu thơ và những đồng đội cũ của nhà thơ thỉnh thoảng tìm đến, thắp nhang và đọc lại những vần thơ ấy và lặng lẽ rơi nước mắt. Những giọt nước mắt như thể vừa bắt gặp lại kỷ niệm trong sâu thẳm tâm hồn ngày nào và những giọt nước mắt tiếc thương, đau xót cho cuộc đời, số phận của một nhà thơ tài hoa mà cho đến bây giờ, cả phần hồn và phần xác vẫn còn lẩn khuất đâu đó nơi những cánh rừng già Trà My. Chỉ còn lại với đời những vần thơ đỏ như lửa, gần nửa thế kỷ trôi qua vẫn cháy mãi khôn nguôi.


 


36 năm sau ngày Nguyễn Mỹ hy sinh, sự mất mát đau thương của những người yêu quý ông phần nào được bù đắp bởi Nguyễn Mỹ là một trong những người được truy tặng đợt đầu “Huy chương vì sự nghiệp báo chí Việt Nam” và “Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật” vào năm 2007 với các tác phẩm: “Trận Quán Cau”, “Thơ Nguyễn Mỹ”, “Nguyễn Mỹ, nhà thơ chiến sĩ”…


 


Hà Xuyên Khê


http://tapchihuongnghiep.com.vn/PrintPreview.aspx?ID=4153


 


Nhà thơ liệt sĩ Nguyễn Mỹ và “Cuộc chia ly màu đỏ”


Với lòng ngưỡng mộ nhà thơ liệt sĩ Nguyễn Mỹ; cách đây tròn 20 năm trong một chuyến thâm nhập về sự kiện phát hiện đàn đá Phú Yên (1992) trên quê hương ông ở xã An Nghiệp, huyện Tuy An, tôi có dịp ghé thăm ngôi nhà thi sĩ chào đời và lớn lên thời niên thiếu.


 


Vẫn trên nền cũ nhưng nhà đã xây dựng mới sau chiến tranh đổ nát, duy chỉ có cây khế hàng trăm tuổi đứng đó và cái giếng đá gia đình luôn tiết ra mạch nguồn mát lành theo năm tháng như xưa. Bên cạnh di ảnh nhà thơ, người anh rể, giờ chăm lo ngôi nhà tổ phụ của nhà thơ Nguyễn Mỹ và nhạc sĩ Nhật Lai cho biết, cậu Mỹ nó hồi nhỏ ở nhà siêng năng và tài hoa lắm. Học hành giỏi giang. Tuy còn nhỏ nhưng săn chim bắt cá, lao động sản xuất thì nhất làng. Mầm thơ phú cũng bắt đầu xuất hiện khi vừa học hết cấp 2.


 


Nguyễn Mỹ cất tiếng chào đời tại làng quê Trung Lương, An Nghiệp, Tuy An, Phú Yên vào năm 1935 (tuổi Hợi). 16 tuổi, Nguyễn Mỹ tình nguyện gia nhập bộ đội tham gia kháng chiến đánh Pháp. 3 năm sau, tập kết ra Bắc, đóng quân ở Nghệ An. Từ năm 1957, Nguyễn Mỹ đã có thơ đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Cuối năm 1959, ông theo học lớp Báo chí của trường Bộ Văn hóa, về làm công tác biên tập ở Nhà xuất bản Phổ Thông rồi theo học Đại học Văn. Năm 1968, ông xung phong về Nam chiến đấu đánh Mỹ, công tác ở Tiểu ban Tuyên truyền thuộc Ban Tuyên huấn Khu V, đồng thời là phóng viên chiến trường báo Cờ Giải Phóng miền Trung Trung bộ.


 


Ông ngã xuống trong một trận càn lớn của địch vào khu sản xuất Nước ta bên bờ sông ĐăckTa thuộc huyện Trà My tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng vào lúc 9h sáng ngày 16 tháng 5 năm 1971, ở tuổi 35 đang là một chàng trai son rỗi.


 


Tác phẩm ông đã được xuất bản, gồm: Trận Quán Cau (bút ký, 1954), Sắc cầu vồng (thơ, in chung với nhà thơ Nguyễn Trọng Định, 1980); tập Thơ Nguyễn Mỹ (1993); nhưng bài thơ tạo ấn tượng mạnh mẽ nhất cho cả thời đại đánh Mỹ đến nay của ông có lẽ là Cuộc chia ly màu đỏ; thậm chí giờ người ta còn chọn câu thơ trong bài này để làm tiêu chí cho chương trình phát sóng uy tín, chiếm cảm tình đông đảo khán giả trong và ngoài nước trên Đài Truyền hình Việt Nam: “Như chưa hề có cuộc chia ly”.


 


Bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ lần đầu ra mắt bạn đọc trên tuần báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam vào năm 1964 tại miền Bắc, đã được dư luận xôn xao ngạc nhiên, thích thú trước vẻ đẹp mới lạ của áng thơ.


 


Nhiều người cho rằng Cuộc chia ly màu đỏ được chú ý bởi nó ra đời đúng thời điểm. Bởi thời gian này miền Bắc trở thành hậu phương lớn và đang ra sức chi viện cho miền Nam. Nhiều chàng trai phải xa người yêu, nhiều người chồng phải xa gia đình, người thân lên đường đi B chiến đấu. Nguyễn Mỹ nắm bắt được không khí của thời cuộc và cho thơ lên tiếng đúng lúc. Điều đó nếu đem so với chiều dài của lịch sử dân tộc với biết bao cuộc chinh chiến thì đề tài Nguyễn Mỹ viết không có gì là đặc biệt. Chúng ta đã từng có những áng văn chương lớn nói về những cuộc chia ly làm não lòng nhiều thế hệ người đọc Việt Nam. Giọt nước mắt của người chinh phụ như còn đầm đìa trên trang sách Chinh phụ ngâm, những tác giả như Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Chế Lan Viên… cũng có thơ nói đến chia ly, tiễn biệt. Thế nhưng, cuộc chia ly của Nguyễn Mỹ vẫn là biểu tượng đẹp và khó quên nhất gắn liền với hiện thực thời chống Mỹ, cứu nước. Lại có người cho rằng bài thơ độc đáo là do sắc màu rực rỡ của nó. Nguyễn Mỹ đã chọn màu đỏ tươi, chói sáng thay màu “xanh ngắt” trong Chinh phụ ngâm, thay cho màu tím “biền biệt” của Hữu Loan. Viết về một cuộc chia ly bịn rịn, lưu luyến giữa chồng với vợ mà màu đỏ lại vốn chói chang khó diễn tả tình cảm nhất! Mới lạ trong thơ Nguyễn Mỹ là ở chỗ đấy. Đi qua cuộc chiến tranh kéo dài với rất nhiều cuộc tiễn đưa và những giọt nước mắt, bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ cùng một số bài thơ khác của liệt sĩ Nguyễn Mỹ vẫn còn giữ được sức hấp dẫn của nó và được đánh giá cao là những vần thơ hay của thời kỳ kháng chiến. Điều ấy thi sĩ - chiến sĩ Nguyễn Mỹ quá xứng đáng được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Văn học nghệ thuật cách đây 5 năm.


 


Đọc lại thơ Nguyễn Mỹ, nhà thơ - nhà phê bình văn học Vũ Quần Phương nhận xét, thi sĩ đã lập trình đường bay riêng của thơ mình một cách độc đáo, rất có ý nghĩa đối với sự cách tân cả thi đàn; nhưng viên đạn của quân xâm lược đã làm sã cánh khi thơ Nguyễn Mỹ vừa chạm đường bay.


 


Giờ đây bài thơ Cuộc chia ly màu đỏ ra đời gần nửa thế kỷ và hơn 40 năm ngày nhà thơ liệt sĩ Nguyễn Mỹ đi vào cõi vĩnh hằng, bài viết như nén tâm hương bày tỏ lòng ngưỡng mộ đối với người thi sĩ - chiến sĩ, kinh qua cuộc chiến tranh khốc liệt dai dẳng mà không hề… chia ly, bởi lý tưởng cao đẹp của nhà thơ ra trận đã tỏa sáng: “Khi Tổ quốc cần, họ biết sống xa nhau”!


 


Nguyễn Tường Văn


http://baolamdong.vn/vhnt/201207/Nha-tho-liet-si-Nguyen-My-va-Cuoc-chia-ly-mau-do-2181089/

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Biển Đông lại sắp…dậy sóng!? - Nguyễn Hồng Lam 22.06.2017
Nhà báo Nguyễn Công Khế nói về những 'điều cấm kỵ' - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
Nghề báo lắm hiểm nguy - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
‘IS đã chính thức thừa nhận thất bại’ - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thủ tướng Hun Sen đi bộ qua biên giới, thăm lại 'đường cứu nước' - Nhiều tác giả 21.06.2017
Kiếp sau tôi vẫn chọn nghề báo - Trần Thị Sánh 21.06.2017
Muôn lần bất diệt con người! - Lưu Trọng Văn 19.06.2017
Tôi là dân Quận 3 - Sơn Trà - Võ Kim Ngân 19.06.2017
Làm báo thuở thanh xuân - Trịnh Bích Ngân 19.06.2017
Từ Trường thi Gia Định đến Nhà văn hóa Thanh niên - Hồ Tường 18.06.2017
xem thêm »