tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20017781
Những bài báo
21.12.2012
Mạc Ngôn
Người kể chuyện

Trích Diễn từ Nobel, phát biểu ngày 7- 12- 2012 tại Hàn lâm viện Thụy Điển


Qua các phương tiện truyền hình hoặc mạng lưới, tôi nghĩ rằng quý vị có mặt tại đây ít nhất cũng biết sơ qua về cái làng xa ngái ở Đông Bắc Cao Mật. Quý vị có thể thấy cha tôi 90 tuổi, cũng như các anh và chị, vợ, và con gái tôi, thậm chí luôn cả cháu gái tôi mới được một năm bốn tháng tuổi. Nhưng có một người tôi tưởng nhớ nhất, đó là mẹ tôi, quý vị sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy. Tôi được giải Nobel rồi, nhiều người chia sẻ vinh dự với tôi, nhưng mẹ tôi không sao chia sẻ với tôi được.


Mẹ tôi sinh năm 1922, mất năm 1994. Thi hài của bà (tác giả dịch “xương tro” là không hợp lý!) mai táng ở vườn đào, phía Đông trong làng. Năm vừa rồi, có một đường sắt xe lửa dự trù bắt xuyên qua làng, nên chúng tôi bắt buộc phải dời phần mộ của bà ra xa hơn nữa ngoài làng. Khi khai quật, chúng tôi thấy chiếc quan tài đã rã mục và xương thịt của bà đã hoà với bùn đất quanh đó thành một khối. Vậy nên chúng tôi đành chỉ lấy một chút đất làm tượng trưng dời đến huyệt mộ mới. Chính vào thời khắc đó, tôi thấy ra rằng, mẹ tôi đã thành một bộ phận của đất lớn, và khi tôi nói với đất mẹ, đó là tôi đang thực sự nói với mẹ tôi.


Tôi là đứa con út của mẹ.


Kí ức sớm nhất của tôi là việc mang chiếc bình thuỷ duy nhất trong nhà để đi lấy nước sôi ở bếp tập thể. Mệt nhọc vì đói, tôi đánh rơi chiếc bình thuỷ và làm nó vỡ tan. Sợ hết hồn, cả ngày tôi núp trong cây rơm. Mãi đến tối, tôi nghe mẹ tôi gọi tôi bằng cái tên hồi còn bé bỏng, vậy nên tôi bò ra từ chỗ ẩn nấp, chuẩn bị nhận một trận đòn hoặc bị la mắng. Nhưng Mẹ không đánh tôi, cũng chẳng rầy la gì. Bà chỉ xoa đầu tôi và cất tiếng thở dài.


Kỉ niệm nhức nhối nhất của tôi dính líu tới việc đi ra cánh đồng tập thể cùng với Mẹ để mót lúa. Những người mót lúa tản đi khi nhác thấy người trực canh. Nhưng Mẹ, đôi chân vốn bị bó, không chạy được; bà bị bắt và bị người trực canh, một người đàn ông cao lớn, tát mạnh đến nỗi bà ngã lăn xuống đất. Người trực canh này tịch thu số lúa mà mẹ con tôi đã mót được và vừa bỏ đi vừa huýt sáo. Khi bà ngồi trên mặt đất, môi tứa máu, Mẹ có một dáng vẻ tuyệt vọng mà tôi sẽ không bao giờ quên. Nhiều năm về sau, khi tôi gặp lại người trực canh ấy, bây giờ đã là một ông lão tóc muối tiêu, ở chợ, Mẹ phải cản tôi không được tiến tới để báo thù cho bà.


Bà nói bằng một giọng bình hoà: “Con ơi, người đã đánh mẹ và người này không phải là cùng một người”.


Kí ức rõ ràng nhất của tôi là một ngày Lễ Trung thu, vào lúc giữa trưa, một trong những dịp hiếm hoi, khi chúng tôi ăn bánh bao tại nhà mỗi bát một cái. Có một người ăn mày già nua tới cửa khi chúng tôi đang ngồi ở bàn, và khi tôi cố xua ông đi bằng nửa chén khoai lang khô, ông phản ứng một cách giận dữ; ông nói: “Tôi là một người già nua, các người đang ăn bánh bao, mà lại muốn cho tôi ăn khoai lang khô. Các người nhẫn tâm đến thế sao”? Tôi phản ứng giận dữ cũng không kém: “Chúng tôi may lắm mới được ăn bánh bao vài lần trong cả năm, mỗi cái vừa một chén nhỏ xíu, chỉ đủ để biết hương vị! Ông phải nên biết ơn là chúng tôi đã cho khoai lang, nếu thích thì lấy, không thích thì xéo”! Sau khi la rầy tôi, Mẹ trút nửa chén bánh bao của bà vào trong cái chén của ông già.


Kỉ niệm ăn năn nhất của tôi liên can tới việc giúp Mẹ bán cải bắp ngoài chợ, là việc (chứ không thể và việc như bản đã in báo) tôi bán cho một người dân làng cao tuổi đắt hơn một hào – cố tình hoặc vô tình, bây giờ tôi cũng không nhớ được – trước khi đi đến trường. Chiều hôm đó khi trở về nhà, tôi thấy Mẹ đang khóc, là điều hiếm khi bà làm. Thay vì mắng tôi, bà chỉ nói nhẹ nhàng: “Con ơi, hôm nay con làm mẹ mất mặt”.


Mẹ mắc bệnh phổi nghiêm trọng khi tôi còn ở tuổi thiếu niên. Đói, bệnh, và sự quá lao lực khiến mọi việc hết sức gian khổ đối với gia đình tôi. Con đường phía trước xem ra đặc biệt u ám, và tôi có một cảm giác xấu về tương lai, lo lắng rằng Mẹ có thể tự vẫn. Mọi ngày, điều đầu tiên tôi làm khi bước vào cửa sau một ngày lao động cực nhọc là cất tiếng gọi Mẹ. Nghe thấy tiếng bà như khiến lòng tôi có một sinh lực mới. Còn không nghe được tiếng bà, tôi như bị ném vào một sự kinh hoàng (chứ không thể: “ bà ném tôi vào… như bản đã in). Tôi ắt đi lùng kiếm bà trong cái chái bên cạnh và ở chỗ cối xay. Một bữa kia, sau khi tìm kiếm khắp mọi nơi mà không thấy bà, tôi ngồi ở ngoài sân và khóc như một đứa bé. Đó là tình cảnh bà thấy tôi khi bước vào sân với một bó củi địu trên lưng. Bà rất buồn lòng tôi, nhưng tôi không thể kể cho bà về điều tôi lo sợ. Dù thế bà vẫn biết. Bà nói: “Con ơi, đừng lo lắng, đời mẹ có thể chẳng có niềm vui nào, nhưng mẹ sẽ không bỏ con cho tới khi Diêm Vương gọi mẹ đi”.


Tôi sinh ra xấu xí. Dân làng thường cười vào mặt tôi, và lũ tai quái ở trường đôi khi đánh đập tôi chỉ vì điều đó. Tôi vừa khóc vừa chạy về nhà, nơi mẹ tôi lên tiếng: “Con không xấu xí đâu, con ơi. Con có đủ cả mũi và hai con mắt, và tay chân con không sao cả, vậy làm sao con lại xấu xí được? Nếu con có một tấm lòng tốt và luôn luôn làm điều phải, cái bị coi là xấu xí cũng trở thành đẹp đẽ”. Sau này, khi tôi rời ra thành phố, có những người có học cười nhạo sau lưng tôi, thậm chí có người còn nói thẳng vào mặt tôi; nhưng khi tôi nhớ lại điều Mẹ đã nói tôi chỉ bình thản đưa ra lời xin lỗi.


Người mẹ thất học của tôi coi trọng những người biết đọc chữ. Gia đình chúng tôi nghèo tới nỗi thường khi chúng tôi không biết bữa ăn tới kiếm ở đâu ra, nhưng bà chẳng bao giờ từ chối khi tôi yêu cầu mua một cuốn sách hoặc giấy vở tập viết. Do bản tính chăm làm bà chẳng ưa gì con cái lười biếng, nhưng tôi có thể tránh được việc tạp dịch trong nhà chừng nào tôi còn chúi mũi vào sách.


Một người kể chuyện có lần tới chợ, và tôi lẻn đi nghe ông. Bà bất bình với tôi vì lẽ tôi bỏ bê công việc nhà. Nhưng đêm đó, khi bà ngồi vá những tấm áo bông cho chúng tôi dưới ánh đèn dầu yếu ớt, tôi không sao dằn được việc kể lại những câu truyện tôi nghe được hôm đó. Thoạt đầu bà bồn chồn lắng nghe, bởi trong mắt bà những kẻ kể chuyện chuyên nghiệp là những người đàn ông ăn nói trơn tru trong một ngành nghề đáng ngờ. Không có điều gì tốt lành có thể xuất phát từ miệng lưỡi của họ. Nhưng dần dà bà bị lôi cuốn vào những câu truyện tôi kể lại, và kể từ hôm đó trở đi, bà không bao giờ giao việc nhà cho tôi những ngày có phiên chợ, một cách cho phép không nói ra để tôi ra chợ lắng nghe những truyện mới. Để trả ơn cho lòng tử tế của Mẹ và như một cách chứng tỏ kí ức của mình, tôi kể lại cho bà trong từng tình tiết sống động.


Chẳng bao lâu thấy ra rằng việc kể chuyện lại cho người khác là không thoả lòng, vậy nên tôi bắt đầu làm duyên làm dáng cho việc kể của mình. Tôi nói những điều biết là ắt làm Mẹ hài lòng, thậm chí thỉnh thoảng còn thay đổi cả đoạn kết cuộc. Và bà không phải là thành viên duy nhất trong đám người nghe tôi kể, sau này bao gồm cả các chị tôi, các dì, luôn cả bà ngoại tôi nữa. Đôi khi, sau khi đã nghe một truyện tôi kể, bà còn hỏi bằng một giọng trĩu nặng quan tâm, gần như tự nói với mình: “Con ơi, con sẽ ra sao khi lớn khôn? Không lẽ hoá ra con lại trở thành một kẻ ba hoa để kiếm sống về sau ư”?


Tôi biết tại sao bà lo lắng. Những đứa trẻ nói nhiều không được đánh giá cao trong làng tôi, bởi chúng có thể mang hoạ vào bản thân và cho gia đình. Có một chút của cái tôi ít tuổi trong đứa bé trai nói nhiều bị dân làng ghét bỏ trong truyện ngắn “Ngưu” (Con bò) của tôi. Mẹ thường dặn dò tôi chớ có lắm miệng; bà mong tôi là đứa bé ít lời, kín tiếng, yên ổn đàng hoàng. Thay vì thế tôi lại mang một sự kết hợp nguy hiểm – những kĩ năng hoạt bát lưu loát và một đam mê mạnh mẽ kèm theo. Năng lực kể chuyện của tôi làm bà vui, nhưng cũng tạo cho bà mắc vào vòng mâu thuẫn sâu sắc.


Tục ngữ có câu “Giang sơn dị cải, bản tánh nan di” (sông núi dễ đổi, tính gốc khó dời). Mặc dù mẹ cha không ngớt dạy bảo, sự ham muốn nói chuyện tự nhiên của tôi chẳng hề bỏ mất, và đó là điều khiến tên tôi – Mạc Ngôn, tức “đừng nói” – rất giống sự giễu cợt bản thân.


Sau khi lìa bỏ trường tiểu học, tôi còn quá nhỏ để lao động cực nhọc, nên tôi trở thành đứa bé chăn bò chăn dê trên bãi cỏ ở bờ sông gần nhà. Cảnh tượng những bạn cùng học trước đây vẫn chơi trong sân trong lúc tôi lùa bầy súc vật ngang qua cổng trường làm tôi đau lòng và khiến tôi nhận thức được, thật khó cho bất cứ ai – thậm chí một đứa bé – phải rời đoàn thể.


Tôi thả bầy gia súc ăn cỏ bên bờ sông dưới một bầu trời xanh biếc như biển cả và dải đất trải thảm cỏ dài ngút tầm mắt – không có bóng dáng một ai, chẳng hề có tiếng người, không một thứ gì ngoài tiếng chim hót trên cao. Tôi hoàn toàn một mình và cô đơn ghê gớm; lòng tôi cảm thấy trống trải. Đôi khi tôi nằm ngả mình trên bãi cỏ ngắm mây trôi qua lờ lững, và làm nảy sinh đủ thứ hình ảnh mông lung. Miền đất Sơn Đông là xứ sở nổi tiếng về những câu chuyện hồ li hoá thành gái đẹp, và tôi mơ mộng tưởng ra một gái hồ li tới chăn bò dê với mình. Cô ta chẳng hề tới. Tuy nhiên, có một lần kia một con chồn đỏ rực nhảy ra khỏi lùm cây ngay trước mặt tôi, làm tôi chết sững đôi chân hết nhúc nhích nổi. Tôi vẫn ngồi trân mình mà run rẩy mãi lâu sau khi con chồn đã biến mất. Đôi khi tôi ngả mình bên cạnh mấy con bò và nhìn vào cặp mắt xanh đậm của chúng, những con mắt nhốt bắt sự suy tư của tôi. Có lúc tôi trò chuyện với lũ chim trên trời cao, bắt chước tiếng hót của chúng; lại những lúc khác tôi tâm sự những hi vọng và mong mỏi cùng một cái cây. Nhưng lũ chim không thèm biết đến tôi, và cây cối cũng vậy. Nhiều năm về sau, khi đã thành một người viết tiểu thuyết, tôi viết một số những hoang tưởng này vào những tiểu thuyết và truyện ngắn của tôi. Người ta thường xối vào tôi những lời tán dương trí tưởng tượng sống động của tôi, và những người yêu văn học thường hỏi tôi yêu cầu tôi tiết lộ bí quyết khai triển một trí tưởng tượng phong phú. Đáp ứng duy nhất của tôi chỉ là ngu ngơ mỉm cười.


Bậc tiên hiền của Trung quốc là Lão tử nói rất hay: “Phúc nằm chờ trong hoạ; hoạ dựa núp trong phúc” (Phúc hề hoạ sở phục; hoạ kề phúc sở ỉ). Tôi bỏ trường khi còn bé, thường bị đói, và luôn luôn cô đơn, lại không có sách gì để đọc. Nhưng tất cả những lí do này, giống như nhà văn của thế hệ trước, là Thẩm Tòng Văn, tôi có một sự khởi đầu sớm sửa để đọc cuốn sách lớn của đời sống. Kinh nghiệm tôi ra chợ phiên để nghe người kể chuyện chỉ là một trang trong cuốn sách đó.


Sau khi bỏ trường, tôi bị quăng một cách lộn nhào vào thế giới của người lớn, nơi tôi dấn mình vào một cuộc du hành lê thê để học hỏi qua sự lắng nghe. Hai trăm năm về trước có một trong những nhà kể chuyện cự phách nhất của mọi thời – là Bồ Tùng linh [tác giả bộ Liêu trai chí dị] – sống gần chỗ tôi lớn lên và là nơi nhiều người trong đó có tôi, mang truyền thống chính ông đã hoàn thiện. Bất cứ tình cờ tôi ở đâu – làm việc ngoài đồng với hợp tác xã, trong chuồng bò hay chuồng ngựa của đội sản xuất, hay trên sàn bếp có hun nóng làm giường ngủ, thậm chí cả trên xe bò lóc cóc lắc lư trên đường, hai tay tôi đầy ắp những truyện kể về cõi siêu tự nhiên, những giai thoại lịch sử, và những truyện quái dị và thu hút, tất cả đều gắn liền với cảnh quan tự nhiên và các sự tích của các dòng họ, và tất cả chúng tạo nên một thực tại mạnh mẽ trong tâm trí tôi.


Ngay cả trong những giấc mơ hoang đường nhất tôi cũng không thể hình dung rằng một ngày kia tất cả những thứ này sẽ là chất liệu cho hư cấu của mình, vì tôi chỉ là một đứa bé ưa thích chuyện kể, và mê đắm những chuyện mọi người xung quanh tôi đang kể ra. Lúc đó, không hồ nghi gì, tôi là một kẻ hữu thần tuyệt đối, tin tưởng rằng vạn vật đều được phú bẩm linh tính (nhất cả tuyệt đối đích hữu thần luận giả, ngã tương tín vạn vật đo hữu linh tính). Tôi hẳn ngừng lại và kính lễ một gốc cổ thụ cao ngất, nếu tôi nhìn thấy một con chim, tôi chắc chắn nó có thể biến hoá ra người bất cứ lúc nào nó muốn; và tôi ngờ rằng mọi người lạ tao ngộ đều là một con thú thay hình đổi lốt. Ban đêm, những nỗi sợ hãi khiếp đảm theo bước cùng tôi về nhà sau khi đã tính nộp công điểm lao động, vậy nên tôi cất tiếng hát căng hết lồng phổi cùng với việc chạy bán sống bán chết để thu góp can đảm; giọng của tôi lúc đó vỡ tiếng, tạo ra những bài hát the thé, tru tréo làm gai tai của bất cứ dân làng nào nghe thấy.


Tôi đã sống hai mươi mốt năm đầu đời trong ngôi làng ấy, chẳng bao giờ dời nhà đi xa hơn là Thanh Đảo, bằng xe lửa, nơi tôi suýt bị lạc lối giữa các đống cây cao khổng lồ của xưởng cưa gỗ. Khi mẹ tôi hỏi tôi thấy gì ở Thanh Đảo, tôi buồn bã báo cáo lại là chỉ thấy những đống cây gỗ chồng chất. Tuy nhiên chuyến đi Thanh Đảo đó đã cấy trong tôi một thèm muốn mạnh mẽ là dời khỏi làng để thấy thiên hạ.


Tháng Hai năm 1976, khi tôi đăng vào quân đội và bước khỏi thị trấn Cao Mật vùng Đông bắc là nơi tôi vừa thân thương vừa thù ghét, bước vào một giai đoạn chuyển biến trong đời, mang trong túi sau lưng bộ sách bốn tập “Lược sử Trung Quốc” (Trung Quốc thông sử giản biên) mà mẹ đã mua cho tôi bằng cách bán hết nữ trang hồi cưới. Như vậy là khởi đầu giai đoạn quan trọng nhất của đời tôi. Tôi phải thú nhận rằng nếu không có hơn ba mươi năm phát triển và tiến bộ lớn lao trong xã hội Trung Quốc, và sau đó là sự cải cách toàn quốc và mở cửa ra với thế giới bên ngoài, tôi đã chẳng trở thành một nhà văn ngày nay được.


Giữa cái đời sống quân ngũ làm đầu óc mụ mẫm, tôi chào đón sự giải phóng về hệ tư tưởng và nhiệt tình văn học của thập niên 1980, và tiến hoá từ một cậu bé nghe kể chuyện và truyền lại bằng lời nói cửa miệng thành một kẻ thử nghiệm với việc viết những truyện đó xuống thành chữ. Thoạt đầu đó là một con đường sỏi đá, một thời khi tôi chưa khám phá ra là nguồn tư liệu văn học của hai thập niên sống ở hương thôn của tôi có thể phong phú xiết bao. Tôi cứ ngỡ là văn học toàn là chuyện những người tốt làm những việc tốt, chuyện về những hành vi anh hùng và những công dân gương mẫu; vậy nên vài bài văn của tôi được công bố chẳng có giá trị văn học là bao.


Vào mùa Thu năm 1984 tôi được khảo nhận vào Hệ văn học trong Học viện Nghệ thuật của giải phóng quân, nơi đó dưới sự hướng dẫn của ân sư là tác gia trứ danh Từ Hoài Trung, tôi viết xong một chuỗi truyện ngắn và truyện vừa gồm cả “Lũ lụt mùa thu” (Thu thuỷ), “Sông cạn khô” (Khô hà), “Củ cải đỏ trong suốt” (Thấu mình đích hồng la bặc), và “Cao lương đỏ” (Hồng cao lương). Thị trấn Đông bắc Cao Mật xuất hiện lần đầu trong truyện “Lũ lụt mùa Thu”, và kể từ lúc đó, giống như một nông dân lang thang bán xới đã tìm được mảnh đất của riêng mình, tôi phải nói rằng trong dòng chảy sáng tạo lãnh vực văn học của tôi là Thị trấn Đông bắc Cao Mật, tôi được gợi hứng một cách cao độ bởi nhà tiểu thuyết nước Hoa Kì là William Faulkner và nhà tiểu thuyết nước Columbia là Gabriel García Márquez. Lúc đó tôi chưa đọc nhiều của cả hai nhà văn này, nhưng được khích lệ bởi cung cách táo bạo, không bị kiềm toả mà họ sáng tạo ra lãnh thổ mới trong văn viết, và học được từ họ rằng một nhà văn phải có một nơi chốn chỉ thuộc về riêng mình. Sự khiêm tốn và thoả hiệp là lí tưởng trong đời sống hàng ngày của một người, nhưng trong sáng tạo văn học, sự tự tin tối thượng và nhu cầu đi theo những bản năng của riêng mình là thiết yếu. Trong hai năm tôi đi theo bước chân của hai vị thầy này trước khi nhận thức ra rằng tôi phải thoát khỏi ảnh hưởng của họ; đây là cách tôi đã nêu ra đặc trưng của quyết định này trong một bài luận văn: họ là một cặp ống bễ thổi lửa, tôi là một khối nước đá. Nếu tôi tới quá gần, tôi hẳn sẽ bốc lên thành một làn hơi nước. Theo sự hiểu biết của tôi, một nhà văn ảnh hưởng một nhà văn khác khi họ cùng san sẻ một sự tương tự trong linh hồn. Điều này thường được gọi là trong lòng có một mối cảm thông linh thiêng, (tâm hữu linh tê nhất điểm thông). Điều đó giải thích tại sao, mặc dù tôi ít đọc tác phẩm của họ, chỉ một vài trang cũng đủ cho tôi thấu rõ điều họ đang làm và cách họ đang làm nó, dẫn tới việc tôi hiểu tôi nên làm gì và nên làm điều đó cách nào.


Điều tôi nên làm chính là sự giản đơn: viết những truyện của riêng tôi theo cung cách của riêng tôi. Cách của tôi là cách của người kể chuyện ngoài chợ, là điều tôi đã quá quen, cách mà ông bà tôi và những người xưa cũ trong làng thường kể chuyện. Nói hết sức chân thành, tôi chẳng hề nghĩ đến đám thính giả khi tôi đang kể những truyện của mình; không chừng đám thính giả của tôi hợp thành bởi những người giống như mẹ tôi, và có lẽ chỉ có mình tôi. Những truyện thời đầu tiên là những bản tự sự về sự trải nghiệm thiết thân của tôi: đứa bé trai bị đòn roi trong truyện “Sông cạn khô”, chẳng hạn, hoặc đứa bé trai chẳng bao giờ cất tiếng nói trong truyện “Củ cải đỏ trong suốt” của họ, trình diễn một cách tự do trên sân khấu của Thị trấn Đông Bắc Cao Mật.


Một người chỉ có thể trải nghiệm đến một mức độ, và một khi bạn đã vắt kiệt các câu truyện của riêng mình, bạn phải kể những truyện của người khác. Và vậy nên, từ đáy tầng những kí ức của tôi, giống như những binh sĩ nhập ngũ, bật lên những câu truyện của những thành viên trong gia đình, của những người cùng làng, và của những tổ tiên qua đời từ lâu mà tôi học được từ miệng của những bô lão. Họ trông mong chờ đợi tôi kể chuyện của họ. Ông bà tôi, cha mẹ tôi, các anh chị tôi, các cô dì chú bác tôi, vợ tôi và con gái tôi tất cả đều đã xuất hiện trong những truyện của tôi. Ngay cả những cư dân không liên hệ gì của Thị trấn Đông Bắc Cao Mật cũng đã xuất hiện đủ mặt. Dĩ nhiên họ đã trải qua những sự biến cải văn học để chuyển hoá họ thành những nhân vật hư cấu có vóc dáng lớn hơn đời sống.


Một bà dì của tôi là nhân vật trung tâm trong cuốn tiểu thuyết mới nhất của tôi, “Lũ ếch” (Oa). Sự loan báo về giải Nobel Văn học đã gửi các nhà báo hội tụ đến nhà bà để xin phỏng vấn. Thoạt đầu, bà kiên nhẫn chiều theo ý họ, nhưng chẳng mấy chốc bà phải chạy trốn những sự chú ý của họ bằng cách đào thoát đến nhà đứa con trai ở tỉnh lị. Tôi không phủ nhận rằng bà là kiểu mẫu khi tôi viết cuốn tiểu thuyết “Lũ ếch”, nhưng những sự dị biệt giữa bà và người dì hư cấu là suốt mạch. Người dì hư cấu thì kiêu căng và thống trị, có những chỗ gần như lưu manh, trong khi người dì thực sự của tôi thì tốt bụng và dịu dàng, một người vợ đảm và một bà mẹ hiền theo khuôn mẫu kinh điển. Những năm tháng hoàng kim của người dì thực sự của tôi đã hạnh phúc và thoả lòng; trong khi nhân vật tương ứng trong hư cấu về già mắc chứng mất ngủ như là hậu quả của việc khắc khoải về tâm linh, và ban đêm bước đi như một hồn ma, khoác chiếc áo đen. Tôi biết ơn người dì thực sự của tôi đã không nổi giận với tôi về cách tôi đã biến đổi bà trong cuốn tiểu thuyết. Tôi cũng hết sức kính trọng sự khôn ngoan của bà khi thấu hiểu mối quan hệ đa phức giữa các nhân vật hư cấu và những con người thực.


Sau khi mẹ tôi mất, giữa nỗi u buồn gần như làm tê liệt, tôi quyết định viết một cuốn tiểu thuyết cho bà. “Vú to mông nẩy” [bản dịch tiếng Việt của Trần Đình hiến nhan đề là Báu vật của đời] (Phong nhũ phì đồn) là cuốn tiểu thuyết ấy. Một khi kế hoạch đã thành hình, tôi cháy bỏng với xúc động đến nỗi tôi hoàn tất bản thảo gồm nửa triệu chữ ấy chỉ trong có 83 ngày.


Trong cuốn “Vú to mông nẩy” tôi trâng tráo sử dụng những tư liệu liên kết với sự trải nghiệm thực sự của mẹ tôi, nhưng trạng thái tình cảm của mẹ tôi hoặc là một sự chế tác hoàn toàn hoặc là một sự kết hợp của nhiều bà mẹ ở Thị trấn Đông Bắc Cao Mật. Mặc dù tôi đề “Gửi hương hồn mẹ tôi” trên trang đề tặng, cuốn tiểu thuyết này thực sự được viết ra cho mọi bà mẹ ở khắp nơi, có lẽ đó là bằng chứng về tham vọng ngút trời của tôi, chẳng khác nào như tôi hi vọng tạo cho Thị trấn Đông Bắc Cao Mật tí hon thành một tiểu vũ trụ của Trung Quốc, thậm chí còn của toàn thế giới.


Trong những tác phẩm ban đầu, tôi là một người nói sách hiện đại (hiện đại thuyết thư nhân), núp mình sau lưng của văn bản; nhưng với cuốn tiểu thuyết “Chết trên đàn trầm hương” (Đàn hương hình) tôi nhảy khỏi hậu đài ra tiền đài. Nếu tác phẩm thời đầu của tôi có thể gọi là một chuỗi những lời tự nói mình nghe, không nhìn đến người đọc; tuy nhiên, khởi từ cuốn sách này, tôi có cảm giác mình đang đứng tại một quảng trường, đối mặt với rất nhiều người nghe, kể chuyện mình gồm đủ cả thanh và sắc. Truyền thống này là một hiện tượng toàn thế giới về tiểu thuyết, càng đặc biệt cho tiểu thuyết Trung quốc. Có một thời gian tôi từng tích cực học tập hướng về tiểu thuyết hiện đại của phương Tây, và tôi thử nghiệm đủ loại phong cách tự sự. Nhưng sau cùng tôi trở về với những truyền thống của mình. Chắc hẳn, sự trở về này chẳng phải không mang theo những biến cải. “Chết trên đàn trầm hương” và những cuốn tiểu thuyết về sau là những kẻ kế thừa của truyền thống tiểu thuyết cổ điển Trung quốc, đồng thời cũng là những văn bản hỗn hợp có mượn soi chiếu thêm những kĩ thuật của tiểu thuyết phương Tây. Cái gọi là sáng tạo mới trong lãnh vực tiểu thuyết, trên cơ bản đều là những sản vật thuộc loại hỗn hợp như thế. Không chỉ là truyền thống văn học của bản quốc hỗn hợp với kĩ xảo của tiểu thuyết ngoại quốc mà còn là tiểu thuyết hỗn hợp với các môn loại nghệ thuật khác nữa, chẳng hạn như “Chết trên đàn trầm hương” hỗn hợp với hí khúc dân gian, trong khi một số những tác phẩm thời kì đầu của tôi được nuôi dưỡng một phần bởi mĩ thuật, âm nhạc, thậm chí cả tạp kĩ múa võ nhào lộn nữa.


Việc loan báo giải Nobel Văn học cho tôi đã dẫn tới sự tranh cãi. Thoạt đầu, tôi nghĩ mình là đối tượng của việc mọi người tranh cãi, nhưng với thời gian tôi nhận thức ra rằng đối tượng đích thực của sự tranh cãi là một con người không liên quan gì tới mình. Giống như một kẻ xem kịch trong một rạp hát, tôi quan sát những sự trình diễn quanh mình. Tôi thấy người thắng giải được choàng vòng hoa mà cũng bị những kẻ ném đá và ném bùn vây hãm. Tôi sợ anh ta sẽ gục xuống trước sự tấn công, nhưng anh ta hiện ra thoát khỏi những vòng hoa và đá ném, với một nụ cười trên gương mặt; anh ta chùi bùn đất lấm lem, đứng bình thản một bên, và nói với người ta:


Đối với một nhà văn, cách nói hay nhất là bằng việc viết. Những gì tôi cần nói tôi đã đều viết ra trong tác phẩm. Dùng miệng nói ra lời tan theo gió cuốn; dùng bút viết ra lời vĩnh viễn chẳng tiêu. Tôi mong các vị kiên nhẫn đọc sách của tôi. Tôi chẳng thể nào ép quý vị làm việc đó, và thậm chí các vị có làm, tôi cũng không trông chờ ý kiến của các vị về tôi thay đổi. Chưa từng có nhà văn nào xuất hiện ở bất cứ nơi đâu trên thế giới, được tất cả mọi người đọc yêu thích; điều ấy đặc biệt đúng với thời buổi như bây giờ.


Tôi là một người kể chuyện.


Vì kể chuyện tôi được giải Nobel về Văn học.


Nhiều điều lí thú đã xảy ra đối với tôi sau khi được giải, và chúng làm tôi vững tin rằng chân lí và chính nghĩa quả có tồn tại.


Những năm tháng từ nay về sau tôi sẽ tiếp tục kể những chuyện của mình.


Mạc Ngôn


 


Nguyễn Tiến Văn dịch từ nguyên tác Trung văn của Mạc Ngôn có tham khảo những bản dịch Anh văn và Pháp văn.


Nguồn: http://www.nobelprize.org/nobel_prizes/literature/laureates/2012/yan-lecture_ki.pdf


http://www.nobelprize.org/nobel_prizes/literature/laureates/2012/yan-lecture_en.html


 


* Bài in trên Văn Nghệ Trẻ/phongdiep.net còn nhiều lỗi. Bản này, www.trieuxuan.info đã biên tập.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Về việc Cục Xuất bản yêu cầu các Nhà xuất bản “xử lý kịp thời” câu văn của Vũ Bằng! - Triệu Xuân 23.07.2017
Một tư liệu “mật” về Thi hào Joseph Brodsky - Tư liệu sưu tầm 20.07.2017
Joseph Brodsky - Nobel Văn học 1987 - trò chuyện với bạn đọc: Chuyện của kẻ “lêu lổng” nhất Liên bang Xô Viết - Joseph Brodsky 20.07.2017
Chuyện "nghèo" của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý... - Lưu Trọng Văn 16.07.2017
Sứ sống Việt trên biên giới Trung Hoa - Phạm Vân Anh 14.07.2017
Nhà văn Nguyễn Quang Thân: Người khát sống - Tư liệu 09.07.2017
Chuyện làng văn: “hậu phương vĩ đại” của nhà văn Xuân Thiều - Châu La Việt 09.07.2017
Nhận chìm gần 1 triệu m3 bùn thải xuống biển Bình Thuận: Bản chất là xả thải - Tư liệu 07.07.2017
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Một con người sáng trong như ngọc - Phan Quang 06.07.2017
Tình hình chống tham nhũng như thế nào? (1) - Nhiều tác giả 06.07.2017
xem thêm »