tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18928422
Tiểu thuyết
18.12.2012
Hà Văn Thùy
Nguyễn Thị Lộ

Nhà vua chăm chú nghe, hai người quên cả rượu và đồ nhắm trước mặt. Giọng vua tỏ vẻ ân cần:


   - Trẫm hiểu, khanh đã thực lòng… Nhưng khanh ra đi lúc này có vội quá không?


   - Tâu bệ hạ, thần nghĩ là không vội mà đúng lúc. Thần ra đi lúc này chính là thuận hơn cho bệ hạ để người bố trí ngôi tể tướng. Thần hiểu, có thể trong thâm tâm người trách thần sao lại ra đi lúc này, thiên hạ nghĩ thế nào về việc cầu hiền của triều đình? Quả là thần không dám nêu tấm gương không tham quyền cố vị nhưng việc ra đi của thần cũng giúp cho bệ hạ mạnh tay thanh lọc những kẻ bất tài bám vào triều chính. Muốn việc nước tốt đẹp, cầu hiền không tách rời việc thanh lọc bớt những kẻ bất tài vô hạnh.


   - Khanh nói cũng phải, nhưng như thế thiệt thòi cho khanh quá!


   - Thần không nghĩ đến chuyện thiệt thòi. Bệ hạ cho thần được về là phúc lớn với thần  rồi.


   - Được, trẫm đành cho khanh trí sĩ nhưng mỗi năm khanh phải hai lần về triều gặp trẫm để trẫm thỏa nhớ mong!


   - Thần xin ghi nhận, xin tạ ơn bệ hạ.


 


                                        *


                                    *       *


 


       Hãn về rồi, vua vẫn chưa thôi suy nghĩ. Lòng ông không thanh thỏa. Trong số công thần của ông, phần lớn thủ túc là họ hàng, là người cùng xứ, một đội quân anh em cha con sống chết bên nhau từ ngày mở nghiệp. Nếu họ là đàn gà thì ông là con gà trống đầu đàn. Nhưng trong đàn gà ấy lại lạc vào vài ba con khác giống: Trãi, Hãn và Xảo. Họ khác nào những con công. Hãn con dòng cháu giống nhà Trần, tướng phương phi lừng lững can trường mưu lược hơn người. Lòng dân còn nhớ nhà Trần liệu có trông vào Hãn? Trãi là túc nho bậc nhất thiên hạ, sáng láng không khác gì một vì sao. Xảo người Kinh lộ, là võ tướng có tài kinh bang tế thế… Trong đám người tâm phúc của nhà vua không ai được như họ! Ngày gối đất nằm sương họ là người đắc dụng nhưng lúc này, giành được nước rồi, chính cái bộ ba tướng sĩ tượng ấy lại thành mối lo. Như mọi đế vương trên đời, nhà vua lo cho ngôi báu. Vương rối ruột về con cái của mình. Thái tử Tư Tề có những khiếm khuyết trong nhân cách và thể chất khó đảm đương ngôi vị. Nguyên Long còn quá nhỏ, mới có sáu tuổi. Các con ông và những kẻ thủ túc trước họ khác nào bầy dê trước mãnh hổ? Nếu ông có mệnh hệ nào, ai là người có thể giữ gìn rường cột nhà Lê? Tự bao giờ không biết, có lẽ từ khi chiến thắng cầm chắc trong tay, vua nhìn những công thần đệ nhất này bằng cái nhìn e ngại đề phòng. Hãn ra đi là điều mừng, cái gai đã khuất mắt! Chí ít khỏi phải băn khoăn khi đưa Lê Sát làm tể tướng…


 


                                         *


                                    *         *


        Tây Hồ mênh mông bàng bạc dưới trăng non, không biết đâu là bờ. Thuyền trôi phiêu du. Xa xa những con thuyền sáng đèn như thoi dệt trên mặt hồ. Loáng thoáng ánh đèn mờ mờ phía bờ khiến cho ta cảm thấy Tây Hồ càng thêm mênh mông. Trong sương, tiếng gõ mạn của thuyền chài trầm đục vọng lên. Gió hiu hiu thổi, tiếng sóng ộp oạp vỗ vào mạn thuyền. Trong thuyền tỏa ra ánh sáng ấm áp và tiếng đàn khi réo rắt như suối chảy khi tung tăng như đàn ngựa trên đồng cỏ, khi lững lờ như mây bay, khi rì rào như gió thoảng qua rừng thông rừng trúc… Tiếng đàn khiến lòng người nao nao nghĩ về một vùng quê thân thương, nghĩ về tuổi thơ êm đềm. Ngồi trên chiếc chiếu giữa thuyền, thoang thoảng hương sen thanh khiết đầu mùa, lắng nghe tiếng đàn, Trần Nguyên Hãn nói: “Bác hiểu lòng em!”


    - Lòng chú sao mà anh không hiểu? Buông cây nguyệt cầm xuống chiếu, Nguyễn Trãi nói. Lòng chú cũng là lòng anh! Nhưng giờ thì chú mãn nguyện, còn anh… Nguyễn Trãi nói đến đây thì dừng lại, hỏi: vậy hoàng thượng nói với chú thế nào?


    - Hoàng thượng bảo, những lý do em đưa ra để xin trí sĩ đều không thể bác bỏ nhưng có phải nguyên nhân chính là “Vua giống Việt vương Câu Tiễn, không thể chung sung sướng được?”


            - Vậy chú trả lời ra sao?


      - Bác biết không, không thể dối vua nên em nói: Nhân tướng là dấu ấn mà hóa công in trên diện mạo hình hài của mỗi người. Cũng như Việt vương, như Hán Cao tổ, bên cạnh những nét như thế, nhà vua có nhiều nét đẹp của đế vương, chính vì vậy thần cùng nhiều người đã theo phò bệ hạ. Nhưng tướng cũng tùy tâm mà sinh mà diệt, bệ hạ làm việc chí thiện là tha mạng sống cho hàng chục vạn quân phương Bắc, nên nét tướng cũng có thể đổi thay…


           - Nhà vua tin vậy sao?


     - Tin hay không em không rõ nhưng nhà vua thuận ý cho về!


      Im lặng, mọi âm thanh dường như lắng lại. Sau lúc trầm ngâm suy nghĩ, Nguyễn Trãi nói chậm rãi:


    - Mừng chú đạt ý nguyện nhưng trong thâm tâm, anh vẫn không yên. Dưới mắt của hoàng đế, người không thể chung hưởng sung suớng là chúng ta mà trước tiên là chú. Chú dòng dõi Chiêu Minh vương hiển hách, lại tài vượt lên trên tất cả khiến càng dễ bị nghi ngờ. Anh cũng vậy. Và cả Thái úy Xảo nữa… Vì vậy, được về là mừng nhưng chưa phải hết lo!


     Ngồi bên trái chồng, hơi lui về sau một chút, Nguyễn Thị Lộ lắng im nghe rồi cầm chiếc nậm sứ men xanh đời Lý rót rượu vào chung cho hai người. Nâng nguyệt cầm lên, nàng hát. Tiếng hát quyện tiếng đàn lan trên mặt sóng. Hai người đàn ông im lặng như nhìn trong tiếng đàn những mông lung gập ghềnh của con đường nhân thế…


    - Hoàng thượng có hỏi em về việc ban thưởng công thần. Em nói là nhà vua đã phong thưởng công bằng. Nhưng ngài nói, chưa thật công bằng ít nhất với một người là Lê Trãi. Đáng lý ra với tài đức của anh phải ở vào hàng đê nhất công thần và đứng đầu trăm quan nhưng nếu làm vậy trước mắt sẽ gây xao động trong hàng võ quan là những người thủ túc theo vua từ đầu. Sau nữa, nếu đứng đầu trăm quan, chính sách của anh sẽ lợi cho dân cho nước nhưng lại thắt bóp quan lại, khiến họ không phục… Đành phải giữ anh lại dùng sau!


    - Dùng sau hay dùng trước ta không quan tâm, giọng Nguyễn Trãi thâm trầm, nhưng nhìn toàn cục thì nhà vua ứng xử rất phải. Thủ túc của vua là nông dân ít học, những kẻ võ biền, tầm nhìn rất thực tế và hẹp hòi. Họ là những người đầu tiên theo vua dấy nghĩa. Họ cũng là người chịu nhiều vất vả hiểm nguy, lập võ công bằng ngọn dáo, trên lưng ngựa. Được nước rồi, nhà vua lấy cái gì mà thưởng công cho họ? Kho tàng trống rỗng, đất công chẳng có bao nhiêu để mà phong hầu kiến ấp! Cái duy nhất ngài có là chức tước… Không nhìn người em họ, Trãi ngó ra màn đêm mênh mang thăm thẳm rồi nói chậm rãi. Nhưng chức tước không phải vô tận! Chức tước bây giờ như một thứ quả thực hiếm hoi phải cân nhắc khi ban phát. Để thưởng công là một phần nhưng cái chính là vỗ béo thủ túc để củng cố ngôi vị. Nhà vua không muốn còn bọn tay chân của ngài càng không chấp nhận một kẻ từ đâu tới, mang theo một quyển sách cùng những lời nói đầu lưỡi bỗng lại hưởng chức cao vọng trọng ngồi trên họ. Khi chiến tranh, trong màn trướng hoặc chỉ ngồi dưới vua trên đài cao ở Dinh Bồ Đề là chuyện sống chết bất khả kháng, vua không làm khác được và họ cũng không thay được. Lúc này chuyện không như vậy nữa! Vả chú cũng biết, một người làm quan cả họ được nhờ, họ không muốn bị ràng buộc tiết chế quá! Vua ta là người hiền nhưng vua cũng phải chiều đời, làm một chước hòa hoãn… Trầm ngâm suy nghĩ một lúc sau, Trãi chậm rãi nói:


    - Tiếc là ta chưa thể về được mà vẫn phải tại triều. Sẽ là đầu mối của sự ghanh ghét đố kỵ, sẽ khó khăn hơn thậm chí nguy hiểm hơn. Ai đo được lòng bể hoạn? Nhìn sâu vào mắt người em họ, ông tiếp, nhưng nói cho cùng, về như chú cũng chưa phải an toàn, có những mối họa theo ta sát gót suốt cuộc đời. Mong chú càng phải cẩn trọng!


 


                                     *


                                 *       *


 


  Hôm Trần Nguyên Hãn rời kinh thành về quê, ông đưa số đồ đạc ít ỏi cùng gia nhân xuống thuyền trên sông Cái. Không đi xe không đi kiệu, ông mặc bộ quần áo đi đường nhẹ rồi đi bộ lẫn với bao người dân kinh thành. Tiễn đưa ông chỉ có Nguyễn Trãi. Bước trên những con đường quen thuộc của phường Yên Hoa, Hãn nhớ tới dinh của quan Tư đồ xưa nơi ông cùng anh Trãi sống những ngày tuổi thơ đầm ấm. Chiều chiều Trãi dắt ông ra ngõ, hai anh em tha thẩn chơi để đợi ông nội về, với những quả hồng quả vải lộc vua ban. Sau Hội thề, ông dẫn lính khinh kị vào đóng những nơi hiểm yếu trong kinh thành, cho dán trên các cửa ô bản Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi được viết chữ to… Đi bên người em thân thiết tình ruột thịt, Nguyễn Trãi thấy lòng mình trĩu nặng. Nhưng khi tới bến sông, nhìn dòng sông hiền hòa chảy mang mang, bên sông ngát xanh màu xanh trù phú của ngô khoai cùng những người nông phu gánh gồng cuốc xới, trong thoáng chốc ông thấy lòng vơi nhẹ.


     Thuyền giương buồm tách bến. Đứng trên mũi thuyền Hãn vẫy chào ông cho tới khi chiếc thuyền mờ trong khói sóng. Ong có cảm tưởng như Hãn phiêu du vào cõi bồng lai. Còn lại một mình trên bến, ông cảm thấy cô đơn đến thắt lòng.


    Rồi Hãn bị giết oan uổng, ông cũng bị tống lao vì nghi liên can. Hơn ai hết, ông biết đó là oan. Ngày trong ngục và mãi sau này, ông thầm trách Nguyên Hãn khinh suất, sao đã hưu trí rồi lại còn xây nhiều dinh thự, đóng những con thuyền lớn tạo cớ cho họa diệt thân. Nhưng rồi thì ông hiểu, thuyền cùng nhà cửa chỉ là cái cớ, còn cái chính là trong mắt nhà vua không dung tha những người như Hãn, như ông Xảo. Không cớ này sẽ có cớ khác! Người đời thường trách đám nịnh thần Đinh Bang Bản, Lê Quốc Khí, Trình Hoàng Bá, Nguyễn Trọng Chí, Lê Đức Dư vu cáo Nguyên Hãn nhưng bọn chúng cũng chỉ trong tay Thái tổ mà ra, chính chúng là công cụ giết người của vua. Không có bọn này tất có bọn khác làm cái việc ấy. Chỉ tiếc cho Nguyên Hãn. Tiếc cho Hãn, Nguyễn Trãi cũng tiếc cho công trình của ông ngoại Nguyên Đán. Thấy nhà Trần rốt cuộc cũng vào miệng Quý Ly - hầu mũi đỏ, ông ngoại đã nén nhục nén hận kết thân với Quý Lý, giao con cháu cho họ Hồ. Người đời từng trách ông ngoại là thiếu nghĩa khí, làm vậy khác nào đầu hàng, nối dáo cho giặc. Nhưng rồi nhân thế cũng có người hiểu quan Tư đồ: không chống được họ Hồ thì đành quy phục để tránh họa diệt vong của dòng họ. Nhờ vậy mới để lại cho đời một vị tướng kiệt hiệt là Nguyên Hãn. Nhưng rồi như ngôi sao, Hãn vụt tắt… Nguyễn Trãi bỗng rùng mình khi nghĩ đến cái thủ đoạn mà người ta dùng để giết Hãn. Chính cái mưu đục thuyền mà nhà Trần mấy trăm năm trước đã dùng với hàng tướng Ô Mã Nhi lại được đem ra hủy diệt hậu duệ họ Trần: Bắt Nguyên Hãn từ Tam Giang, thuyền chở về đến bến Đông Sơn thì đang đêm bị đục cho đắm! Giết Nguyên Hãn, người ta nhẫn tâm giết luôn bốn chục lực sĩ xá nhân được sai đi bắt Hãn để diệt khẩu phi tang. Lịch sử sau này sẽ ghi là cuộc đắm thuyền! Một cuộc đắm thuyền êm thấm! Nghĩ đến đây, ông bỗng rùng mình, phải chăng đó là báo ứng?! Phạm Văn Xảo thì đến cái cớ vặt cũng không có mà bị giết tức tưởi. Thoát khỏi tù ngục, Nguyễn Trãi đã tìm cách lánh đời nhưng vẫn không xong. Triều quan chẳng phải ẩn chẳng phải  là thân phận của ông dưới thời Thái tổ. Vậy đấy mà ông vẫn phải kéo dài cuộc sống của mình…


                                      *


                                   *     *


 


    Nhận chiếu vua ban một cô cung nữ, Nguyễn Trãi vô cùng bối rối. Nhưng khi đọc thư, ông hiểu: chính vì phu nhân thương ông vò võ một mình, lòng thương ấy đã cảm động đến hoàng thượng nên ngài ban cho ông đặc ân. Chuyện xưa nay hiếm nhưng ông biết, với nhà vua trẻ, có việc gì không thể làm? Ong nhớ tờ chiếu: “Việc vợ chồng đầu gối tay kề, xa cách nào chẳng buồn chẳng nhớ, nghĩ tình cảnh khanh, trẫm thật lòng ái ngại. Ngặt vì Lễ nghi học sĩ nặng lo việc chốn nội cung, còn khanh cũng vì trẫm giữ gìn biên ải. Thương khanh buồng đơn gối chiếc không người sửa túi nâng khăn, trẫm đăc cách ban cho khanh cung nữ Cẩm Vân làm bầu bạn…” Như vậy là phu nhân vào cung đã được vua quý trọng. Yên tâm về nàng nhưng ông lại khó xử vì cô hầu non họ Phạm. Bất giác ông nở nụ cười buồn. Ong biết, tuy chấp nhận món quà của hoàng thượng nhưng đàn bà ai không ghen tuông? Rồi ông lại nghĩ, liệu có phải vì nàng hết yêu ông nên dễ dàng để người khác đến thay chỗ của mình? Và rồi trong lúc nào đó một ý nghĩ chợt đến: liệu nhà vua có tư tình gì với nàng mà bày trò đổi chác? Có lẽ nào lại như vậy được? Ong nghĩ. Nhà vua chỉ đáng tuổi con nàng… Ong hiểu nàng không phải người quá ham hố về nhục dục càng không phải người dễ thay dạ đổi lòng. Hai mươi năm cay đắng ngọt bùi cho ông tin vậy. 


 


                       CHƯƠNG   BỐN


     Ban ngày, hết qua nơi dạy chữ lại đến nơi dạy múa dạy hát… Nguyễn Thị Lộ cuốn vào công việc và nàng tìm thấy niềm vui. Vốn có lòng yêu con người cùng với con mắt thẩm mỹ tinh tế, nàng tìm ra nơi cô cung nữ này có giọng hát hay, ở cô khác có bàn tay mềm mại cùng óc thẩm âm thuận với việc tập đàn, còn cô kia là óc thông minh học nhanh nhớ kỹ… Khéo tổ chức, khéo động viên, Thị Lộ đã khơi dậy những phẩm chất tiềm ẩn trong từng người. Nhờ vậy, họ học hỏi tấn tới. Ai cũng vui, cũng nao nức học. Cuộc sống trong cung thay đổi, như có làn gió xuân thổi vào lòng mọi người. Trong những công việc đang làm, nàng chú ý xây dựng một đội nhạc mà nàng hình dung ra trong những cuộc trò chuyện bàn bạc với chồng ngày trước. Nàng nhớ những lời Ức Trai nhận xét về nhạc của Lương Đăng: “Nhạc này mô phỏng nhạc khí của nhà Minh mà làm ra. Nhạc tấu ở trên nhà, có trống cái, bộ khánh, bộ chuông, đàn cầm, đàn sắt, sinh, tiêu, quản, thược, chúc, ngũ, huân, trì. Nhạc tấu ở dưới thềm, có: phương hưởng, không hầu, đàn tỳ bà và quản dịch dùng. Bộ khánh gồm mười sáu chiếc cùng treo một giá, bề dài bề ngang giống nhau nhưng độ dày mỏng khác nhau để hợp với mười hai chính luật và bốn bội luật. Chuông: có mười sáu chuông cùng treo một giá, chia làm hai đợt, ăn khớp với mười hai chính luật và bốn bội luật. Chuông đều hình chầy, dưới phẳng miệng, cao độ bảy tấc năm phân, xếp theo độ dày. Rập khuôn nhạc cụ của người đem vào nước là chuyện dễ, còn tấu lên những thanh âm gì không đơn giản. Phi người am hiểu đến tinh tế về thanh luật lại có đội ngũ nhạc công điêu luyện thì sao làm nổi. Nhạc là âm thanh vô hình nhưng nó là hồn người hồn nước. Hồn người Nam không giống hồn người Bắc nên sai cung lạc nhịp khi tấu nhạc không chỉ khiến con người bất an mà còn làm cho tâm linh xao động…”  Hiểu lòng chồng nên nhân việc tìm người vào dạy nhạc cho cung nữ nàng đã dần dần mời được những danh cầm danh ca ngày trước phiêu tán khắp nơi về cung và cùng họ lập ra dàn nhạc.


      Ban ngày thì vậy nhưng đêm xuống nàng lại buồn vì cảnh mình chăn đơn gối lẻ vò võ canh trường. Những lúc như vậy nàng lại nhớ đến chồng. Nỗi nhớ không yên trong lòng nàng đòi được giải thoát bằng tiếng đàn…


    Trong một đêm nàng quên thời gian, quên tất cả để gửi lòng trong tiếng tơ miên man khi vút cao khi sâu thẳm thì linh cảm khiến nàng giật mình nhìn lên. Từ bao giờ, nhà vua đã đứng sau nàng. Nàng buông đàn cúi đầu thi lễ. Nhà vua cúi xuống nâng nàng dậy. Thấy mắt nàng ướt nước, người nhẹ nhàng hôn mắt ướt rồi không nói không rằng ôm chặt nàng trong đôi tay trai tráng. Bất giác rùng mình, nàng chống đỡ yếu ớt, miệng rên rỉ: “Nguyên Long, Nguyên Long đừng… đừng…” Trong khi đó nhà vua đã nâng bổng nàng, đặt lên giường.


   Tỉnh lại Thị Lộ thấy mắt mình đẫm nước. Lòng nàng quặn đau buốt nhói, một nỗi đau thắt ruột làm tâm hồn nàng tê dại, người nàng mềm nhũn suy kiệt. Nàng chợt nấc lên tiếng khóc tức tưởi. Ức Trai, Ức Trai! Thiếp có lỗi với chàng, thiếp đã phụ chàng! Nàng thấy mình quá xấu xa nhơ nhuốc. Oi, giá mà chết được, nàng nghĩ! Nằm nghiêng bên nàng, người hơi co lại, Nguyên Long ngủ ngon lành vô tư tin cẩn như đứa trẻ bú no nằm bên mẹ. Trong ánh đèn mờ mờ, vầng trán chàng hiện lên thanh tú, cái miệng trẻ thơ nhếch ra bên khóe như cười trong giấc mơ gợi lên nơi nàng tình thương dìu dịu giống tình thương của người mẹ. Không cầm được lòng, nàng đăt lên trán chàng nụ hôn nhẹ như thoảng qua. Cái gì đã xảy ra? Nàng tự hỏi. Tội lỗi, tội lỗi, nàng thầm nhủ. Nhưng sao lạ quá, một cái gì đó mới mẻ chưa bao giờ nàng thấy. Nó dữ dội nó bạo liệt như xoáy lốc cuốn nàng bay vút lên tới tận trời xanh, toàn thân nàng đê mê như tan ra, nàng như muốn ngộp thở, nàng kiệt sức ngất đi… Tình yêu là như vậy sao? Nàng tự hỏi. Thật khác xa những gì nàng đã có với Nguyễn Trãi. Khi gần nhau người âu yếm nhưng khi nàng chỉ vừa cất cánh bay khỏi mặt đất thì mọi việc ở chàng đã kết thúc và nàng như con chim gẫy cánh rơi thê thảm xuống mặt đất trần trụi. Ngay sau đó chàng chìm vào giấc ngủ mặc cho nàng thao thức. Một lần như thế, nhiều lần như thế, nàng cũng quen đi và để tự bảo toàn, nàng đã phải thích ứng. Chiều chồng, nàng tự kích thích tạo ra sự hứng khởi hưởng ứng chàng để chàng yên tâm để chàng vui. Và rồi nàng cũng vui theo cái vui của chồng. Lần đầu tiên nàng phát hiện một cảm giác khác, lần đầu tiên nàng hưởng khoái cảm chưa từng biết trên đời… Nghĩ tới đây nàng bỗng giật mình, phải chăng mình hư hỏng, mình là con đàn bà đĩ thõa? Nàng trằn trọc, nước mắt lại ứa ra.


    - Nàng khóc sao? Từ lúc nào không biết, chàng trở dậy nằm chống tay lên đầu ngắm nàng rồi hỏi bằng giọng xót thương. Nàng giận ta sao? Ta thật có lỗi với nàng! Nhưng nàng hiểu không, ta yêu nàng biết bao nhiêu! Vừa nói, chàng vừa nhẹ nhàng lau nước mắt cho nàng đồng thời đặt lên mắt lên môi nàng những chiếc hôn nồng nàn. Rồi chàng vồ vập đòi yêu nữa. Nàng buông người vô cảm. Dù sao việc cũng đã rồi, hối cũng đã muộn, nàng nghĩ, và mặc cho chàng vày vò. Nhưng rồi sau đó những kìm nén mà nàng cố tình gìn giữ bị phá tung, không cưỡng nổi bản thân, nàng hưởng ứng cuồng nhiệt. Cơn khát thèm tích tụ bao ngày đã được thỏa mãn ở lần trước, lần này chàng trai trẻ từ tốn điệu đàng dẫn nàng vào cuộc vui, đưa nàng lên cực điểm khoái lạc.


 


                                  *


                             *        *


 


     Như những đêm khó ngủ khác, nàng ru giấc ngủ bằng cách nằm nghiêng người về bên trái, tay trái buông lỏng đặt nhẹ lên vai phải, tay phải đặt nhẹ nhàng xuống chiếu, chân trái hơi thẳng, còn chân phải hơi co lại ở trên chân trái. Đấy là tư thế nằm không mấy thoải mái, nếu nằm lâu sẽ mỏi. Nhưng không hiểu sao trong tư thế ấy nàng lại thấy dễ ngủ. Nàng biết rằng sau đó, bằng cách nào không hay, trong giấc ngủ, cơ thể nàng tự chuyển sang tư thế thoải mái hơn và cứ thế, nàng yên giấc tới sáng. Có lần nhìn nàng ngủ, mẹ thở dài: số con này rồi vất vả. Nàng chỉ biết cười. Nhiều lúc nàng tự hỏi số mình có vất vả không nhỉ? Mười sáu tuổi, từ giã khung dệt chiếu xứ Thanh, nàng theo vua vào cung. Một con bé nhà quê ngơ ngác lẫn vào giữa muôn hồng ngàn tía nơi cung cấm, nàng lo đến thắt ruột. Cũng những ngày đó, những việc tày đình nổ ra trong cung: hai bà Nguyên phi, Chiêu nghi lần lượt bị phế. Nàng may mắn bước lên địa vị đứng đầu hậu cung. Khi sinh hoàng tử Nghi Dân thì nàng được phong làm quý phi. Khi con nàng được phong thái tử thì nàng làm chủ Đông cung… Đời nàng như con diều bay trên bầu trời danh vọng. Nàng cứ nghĩ mọi sự an bài: khi con nàng lên làm vua, nàng sẽ là thái hậu, uy trùm thiên hạ… Đó là chuyện mà nàng cho là không thể khác! Chưa nỗi lo nào đáng kể đối với nàng.


    Đêm nay không vậy. Để ru giấc ngủ, nàng nằm theo tư thế nghiêng trái cho đến lúc người mỏi nhừ, mà giấc ngủ vẫn không đến, mắt nàng vẫn căng ra thao thức, nàng buộc phải trở mình qua phải. Trong ánh đèn lồng hồng nhạt, nàng thấy cái giường rộng mênh mông vắng lạnh… Chàng đâu? Nàng tự hỏi. Năm đêm rồi chàng không về với nàng, năm ngày đêm chàng không ngó ngàng gì đến nàng đến con. Vì sao vậy? Nàng đã làm gì khiến chàng giận? Không, nàng không có lỗi gì cả. Hôm ra đi người còn vui vẻ lắm cơ mà. Vậy vì sao? Chàng có niềm vui gì mới chăng? Rất có thể. Nhưng đó là đâu, tại sao nàng không hay biết. Nàng bất giác nghiến răng lại: sẽ trả thù tàn khốc kẻ nào làm ta khốn khổ đêm nay! Thao thức không ngủ được, nàng trở dậy, trùm chiếc áo gấm vàng lên mình rồi sang phòng bên nơi thái tử Nghi Dân ngủ. Trong ánh đèn mờ mờ, nàng thấy con mũm mĩm hồng hào nằm say ngủ bên người cung nữ. Yên tâm về con, nàng càng cảm thấy trống vắng, mở cửa sổ, nàng ngắm vừng trăng lạnh tỏa ánh sáng chan hòa khắp kinh thành. Từ nơi nào đó ba tiếng trống cầm canh trầm đục vang lên.


       Sáng ra, người phờ phạc, Dương Quý phi ăn lót dạ qua loa rồi đòi viên quan hầu Lưu Cung đến hỏi:


       - Hoàng thượng đi tuần du phương nào mà mấy hôm nay không thấy trong cung?


       - Bẩm nương nương, hoàng thượng có đi đâu đâu, người vẫn ở trong cung mà!


       - Sao ta không thấy hoàng thượng? 


       - Dạ bẩm… bẩm…


       - Vậy mấy đêm nay hoàng thượng nghỉ ở cung nào?


       - Dạ bẩm nương nương, nô tài không rõ ạ!


       - Không rõ? Làn môi mỏng của nàng cong lên, giọng kéo dài chì chiết. Không rõ? Chả nhẽ ông ăn hại đến vậy sao? Là viên quan chủ quản Đông cung mà đến hoàng thượng ngự ở cung nào ông cũng không biết! Ong muốn trêu ta hay ông định giấu diếm ta điều gì đây?


    Viên quan hoạn bối rối, quỳ xuống:


   -  Dạ bẩm nương nương, nô tài không dám ạ. Có điều nô tài không dám nói!


   - Không dám nói? Có gì mà không dám nói. Tất cả nội cung này là nhà của hoàng thượng, người nghỉ ở đâu không được mà ông không dám nói? Ong định chọc tức ta sao? Vậy thì…


   - Dạ bẩm nương nương, nô tài có tội, xin nương nương bớt giận, nô tài xin nói. Chỉ xin nương nương đừng nói với hoàng thượng là nô tài …


    - Có gì mà phải rào trước đón sau vậy? Ong nói đi! Giọng nàng đanh lại khắc nghiệt.


    - Dạ thưa, mấy đêm nay hoàng thượng nghỉ ở chỗ Lễ nghi học sĩ ạ!


     - Lễ nghi học sĩ? Tiếng Quý phi dường như ré lên kinh ngạc.


     - Dạ bẩm nương nương, đúng thế ạ, ở chỗ Lễ nghi học sĩ, nô tài không dám nói sai!


      - Thôi được rồi, ông ra đi!


     Mặt tái đi, Dương Quý phi lảo đảo, bước về giường, nàng nằm vật xuống. “Không ngờ, không ngờ, nàng lẩm bẩm, tình địch của ta lại là con đĩ già!” Nàng nhớ lại, buổi đầu tiên đến vấn an mình, thị ăn nói từ tốn lễ độ nhưng không hiểu sao nàng lại có cảm giác lo lo, không dám nhìn thẳng vào mắt thị. Có vẻ như nàng sợ khi nhìn vào khuôn mặt đẹp lộng lẫy của người đàn bà đang độ hồi xuân. Nàng có biết bao uy thế: tuổi trẻ, xinh đẹp, là Quý phi, mẹ của thái tử… Nhưng tất cả những cái đó cộng lại cũng không làm nàng yên tâm. Vẻ đẹp lộng lẫy, sự hấp dẫn nơi thân xác thuần thục đang hồi xuân của ả có thể hớp hồn bất cứ người đàn ông nào! Bên cạnh ả, nàng cảm thấy mình chỉ như chú gà nhép tội nghiệp trước con diều… Người đàn bà này sẽ gây họa cho ta, nàng thầm nghĩ. Nếu lúc đó chỉ là cảm giác mơ hồ thì nay bất hạnh đã là sự thật. Chưa bao giờ có chuyện đó trong cung. Ngoài nàng ra, hoàng thượng chưa từng si mê ai đến thế! Hoàng thượng đã sa vào cái bẫy lớn mà con dâm phụ khôn khéo dăng ra!


 


                                     *


                                *        *


 


     Ở ngôi chí tôn nhưng Lê Thái tông là người bất hạnh. Chàng sớm phải dứt tình mẫu tử. Trong ký ức của chàng, hình ảnh mẹ chỉ là khuôn mặt mờ mờ hương khói trong ngôi đền nhỏ một buổi chiều ảm đạm. Rồi mẹ biến mất và để chàng lại giữa những người xa lạ. Dù tất cả đều chiều chuộng nâng niu chàng thì chàng vẫn cảm thấy thiếu cái gì đó mà sau này chàng hiểu là tình mẹ. Cha quá bận rộn với những trận đánh, những cuộc hành quân, những việc lớn không có thời giờ chăm sóc chàng. Rồi cha cũng sớm ra đi, chất lên vai đứa trẻ là chàng cái gánh nặng quốc gia. Tuổi trẻ của chàng bị tước đoạt. Mới mười một tuổi, chàng đã phải đội mũ mang đai thiết triều, đối diện với những ông già râu bạc, những võ tướng oai phong. Tất cả đều phủ phục dưới chân chàng. Chàng không sao hiểu được mỗi lời nói của chàng lại có uy lực đến vậy. Do tính hiếu thắng con trẻ, chàng thích thú với quyền lực của mình. Nhưng rồi chàng nhận ra cùng với uy lực, chàng cũng mất bao nhiêu cái chàng yêu thích. Không được nói những điều muốn nói, không được làm những việc muốn làm. Tới lúc chàng nhận ra mình chỉ là con rối, là thằng hình nhân trong tay quan thái sư Lê Sát. Vừa là lão thần, vừa là cha vợ, lão luôn bắt bẻ luôn luôn cấm đoán. Chàng sợ lão như sợ ông ba bị. Vắng lão, chàng đã nổi loạn đòi lại tuổi thơ của mình bằng cách chơi đùa với bọn thái giám. Có bận chàng cưỡi voi cho chúng chọi nhau. Hai con voi đực lớn xông vào nhau phát ra tiếng động rầm trời. Giữa cuộc đấu voi, người ta dâng một con sơn dương đực lớn. Chàng liền cho con voi chàng đang cưỡi xông vào con sơn dương. Nhìn con vật đồ sộ, lúc đầu con sơn dương sợ sệt lui bước nhưng khi bị dồn đến đường cùng, con sơn dương liều chết xông lên giương sừng húc lại con voi. Đang khoái chí vì con “ngựa” của mình áp đảo đối phương, chàng chợt hoảng hồn khi con vật khổng lồ bỏ chạy. Chàng chỉ vừa trên mình voi phóng xuống đất thì con voi sa giếng… Cả triều đình hốt hoảng. Mấy tiểu thái giám thân thiết với chàng bị lôi ra chém. Từ đấy chàng bị giám sát chặt hơn. Bọn tiểu thái giám lạy như tế sao mỗi khi chàng bày trò tinh  nghịch. Người vợ đầu tiên người ta lấy cho chàng năm mười một tuổi là Nguyên phi Ngọc Dao, con của Đại tư đồ Lê Sát. Người thứ hai là Lê Chiêu nghi, con của Đô đốc Lê Ngân. Những cuộc hôn nhân được sắp đặt, dù muốn dù không, chàng cũng phải chấp nhận. Chàng có vợ nhưng không hề có tình yêu. Vì vậy, sau này khi Sát và Ngân có tội, chàng phế truất hai người cũng nhẹ nhàng. Chàng thực sự biết đến tình yêu từ Dương Thị Bí. Phải chăng ở tuổi mười lăm chàng đã trưởng thành nên người con gái vừa gặp đã hớp hồn chàng. Người vợ này không do mai mối sắp đăt mà do chính chàng tìm. Trong lần về Lam Kinh, chàng thăm một làng dệt chiếu và thấy người con gái xinh xắn ngồi trên khung dệt, chàng đưa nàng về cung phong làm Quý phi. Khi nàng sinh cho chàng đứa con trai đầu, hoàng tử Nghi Dân, chàng càng yêu quý hơn. Tuy nhiên, như mọi bậc đế vương trên đời, Lê Thái tông vẫn nạp phi và tuyển thêm cung nữ để thỏa mãn nhu cầu hưởng lạc.


    Nhưng từ khi gặp Nguyễn Thị Lộ, Thái tông cảm thấy cuộc đời mình không như trước nữa. Quyền lực vô biên của chàng lần đầu tiên bị thách thức. “Uy quyền có thể làm được nhiều điều nhưng không làm nên tình yêu!” Nàng nói. Quả vậy, nàng là người đàn bà đầu tiên mà chàng phải bỏ công chinh phục. Cảm hóa nàng không dễ. Chàng không ép buộc bởi chàng cần một người tình, người yêu chứ không chỉ là một con mái tuân phục! Chàng muốn nàng tự nguyện hiến dâng. Chàng biết nàng có cảm tình với mình. Chàng cũng biết, trong cái cảm tình ấy mong manh tình yêu. Nhưng sống lâu năm với con người đạo đức, nàng đã nhiễm thói quen kìm nén. Nàng khép lòng lại như vị tướng giữ thành. Chính cái đêm nàng gẩy đàn trong nước mắt ấy, chàng đã nghe rõ lòng nàng và chàng hành động. Lúc đó hoặc mãi mãi không bao giờ! Lúc đầu, nàng chống cự. Nhưng chàng biết, đó là nàng chống cự lại bản thân. Chàng đã giúp cho nàng chiến thắng… Sau đó mọi chuyện đã khác. Khi đã sang bờ bên kia, không còn quay trở lại được nữa, nàng trở về đúng với bản năng nàng: người đàn bà khao khát tình yêu. Nàng đã tận lòng dâng hiến... Nàng không mưu cầu ngôi vị, nàng không màng danh lợi. Vì vậy tình yêu của nàng là vô tư. Cái vô tư của nàng mang chút khắc khoải của tội lỗi. Tình yêu của nàng không chỉ ngọt ngào mà đầm vị đắng cay. Chính vì thế nó mang lại cho chàng hương vị lạ. Không phải chàng mà chính nàng là người dẫn dắt trong cuộc tình. Sau vồ vập ban đầu, nàng nói: “Chàng biết không, thiếp đã chiều chàng, nhưng như vậy sẽ làm hư chàng. Chàng biết vì sao lại gọi là tinh không? Tinh là tinh túy, là tinh khiết tức là cái quý giá nhất của con người. Tinh khí là của quý mà trời ban cho người đàn ông để duy trì nòi giống, để giáo dưỡng đàn bà. Không có cái đó cố nhiên không duy trì được nòi giống mà cũng không giáo dưỡng được đàn bà. Nguời đàn bà quy phục chồng ở chuyện đó. Người đàn bà phải theo phải quy phục người đàn ông rồi mới nói đến tam tòng tứ đức. Không có cái đó tắc loạn! Nhưng của trời cho có hạn, như ngọn nến đốt mãi cũng phải tắt. Vì vậy phải giữ gìn vật quý đó, đừng phí phạm, đừng bừa bãi. Mỗi lần vui thái quá sẽ là vị đắng chát về sau…”  Một cảm giác khác cũng đến với chàng. Đấy là lần đầu tiên chàng biết sợ một người đàn bà. Người ấy là nàng. Nàng là cô tiên của tuổi thơ chàng, nàng còn là mẹ mà khi gần nàng, chàng cảm thấy tâm hồn yên ổn. Nàng là người duy nhất chàng nhận những lời khuyên mà không cảm thấy bị coi thường. Từ nàng, chàng tìm được sức mạnh, được sự tỉnh táo trước mớ bòng bong phức tạp của cuộc đời. Hơn một cô tiên trong mơ bởi nàng là người thực. Hơn cả mẹ bằng xương thịt vì nàng có thể âu yếm có thể ôm ấp và đưa chàng lên đỉnh tuyệt vời của khoái cảm. Nàng là vị thần mà cuộc sống ban cho chàng. Chàng đê mê trong hạnh phúc.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Thị Lộ. Tiểu thuyết lịch sử của Hà Văn Thùy. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 09.03.2017
xem thêm »