tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21591715
Tiểu thuyết
18.12.2012
Hà Văn Thùy
Nguyễn Thị Lộ

Nhà vua chăm chú nghe, hai người quên cả rượu và đồ nhắm trước mặt. Giọng vua tỏ vẻ ân cần:


   - Trẫm hiểu, khanh đã thực lòng… Nhưng khanh ra đi lúc này có vội quá không?


   - Tâu bệ hạ, thần nghĩ là không vội mà đúng lúc. Thần ra đi lúc này chính là thuận hơn cho bệ hạ để người bố trí ngôi tể tướng. Thần hiểu, có thể trong thâm tâm người trách thần sao lại ra đi lúc này, thiên hạ nghĩ thế nào về việc cầu hiền của triều đình? Quả là thần không dám nêu tấm gương không tham quyền cố vị nhưng việc ra đi của thần cũng giúp cho bệ hạ mạnh tay thanh lọc những kẻ bất tài bám vào triều chính. Muốn việc nước tốt đẹp, cầu hiền không tách rời việc thanh lọc bớt những kẻ bất tài vô hạnh.


   - Khanh nói cũng phải, nhưng như thế thiệt thòi cho khanh quá!


   - Thần không nghĩ đến chuyện thiệt thòi. Bệ hạ cho thần được về là phúc lớn với thần  rồi.


   - Được, trẫm đành cho khanh trí sĩ nhưng mỗi năm khanh phải hai lần về triều gặp trẫm để trẫm thỏa nhớ mong!


   - Thần xin ghi nhận, xin tạ ơn bệ hạ.


 


                                        *


                                    *       *


 


       Hãn về rồi, vua vẫn chưa thôi suy nghĩ. Lòng ông không thanh thỏa. Trong số công thần của ông, phần lớn thủ túc là họ hàng, là người cùng xứ, một đội quân anh em cha con sống chết bên nhau từ ngày mở nghiệp. Nếu họ là đàn gà thì ông là con gà trống đầu đàn. Nhưng trong đàn gà ấy lại lạc vào vài ba con khác giống: Trãi, Hãn và Xảo. Họ khác nào những con công. Hãn con dòng cháu giống nhà Trần, tướng phương phi lừng lững can trường mưu lược hơn người. Lòng dân còn nhớ nhà Trần liệu có trông vào Hãn? Trãi là túc nho bậc nhất thiên hạ, sáng láng không khác gì một vì sao. Xảo người Kinh lộ, là võ tướng có tài kinh bang tế thế… Trong đám người tâm phúc của nhà vua không ai được như họ! Ngày gối đất nằm sương họ là người đắc dụng nhưng lúc này, giành được nước rồi, chính cái bộ ba tướng sĩ tượng ấy lại thành mối lo. Như mọi đế vương trên đời, nhà vua lo cho ngôi báu. Vương rối ruột về con cái của mình. Thái tử Tư Tề có những khiếm khuyết trong nhân cách và thể chất khó đảm đương ngôi vị. Nguyên Long còn quá nhỏ, mới có sáu tuổi. Các con ông và những kẻ thủ túc trước họ khác nào bầy dê trước mãnh hổ? Nếu ông có mệnh hệ nào, ai là người có thể giữ gìn rường cột nhà Lê? Tự bao giờ không biết, có lẽ từ khi chiến thắng cầm chắc trong tay, vua nhìn những công thần đệ nhất này bằng cái nhìn e ngại đề phòng. Hãn ra đi là điều mừng, cái gai đã khuất mắt! Chí ít khỏi phải băn khoăn khi đưa Lê Sát làm tể tướng…


 


                                         *


                                    *         *


        Tây Hồ mênh mông bàng bạc dưới trăng non, không biết đâu là bờ. Thuyền trôi phiêu du. Xa xa những con thuyền sáng đèn như thoi dệt trên mặt hồ. Loáng thoáng ánh đèn mờ mờ phía bờ khiến cho ta cảm thấy Tây Hồ càng thêm mênh mông. Trong sương, tiếng gõ mạn của thuyền chài trầm đục vọng lên. Gió hiu hiu thổi, tiếng sóng ộp oạp vỗ vào mạn thuyền. Trong thuyền tỏa ra ánh sáng ấm áp và tiếng đàn khi réo rắt như suối chảy khi tung tăng như đàn ngựa trên đồng cỏ, khi lững lờ như mây bay, khi rì rào như gió thoảng qua rừng thông rừng trúc… Tiếng đàn khiến lòng người nao nao nghĩ về một vùng quê thân thương, nghĩ về tuổi thơ êm đềm. Ngồi trên chiếc chiếu giữa thuyền, thoang thoảng hương sen thanh khiết đầu mùa, lắng nghe tiếng đàn, Trần Nguyên Hãn nói: “Bác hiểu lòng em!”


    - Lòng chú sao mà anh không hiểu? Buông cây nguyệt cầm xuống chiếu, Nguyễn Trãi nói. Lòng chú cũng là lòng anh! Nhưng giờ thì chú mãn nguyện, còn anh… Nguyễn Trãi nói đến đây thì dừng lại, hỏi: vậy hoàng thượng nói với chú thế nào?


    - Hoàng thượng bảo, những lý do em đưa ra để xin trí sĩ đều không thể bác bỏ nhưng có phải nguyên nhân chính là “Vua giống Việt vương Câu Tiễn, không thể chung sung sướng được?”


            - Vậy chú trả lời ra sao?


      - Bác biết không, không thể dối vua nên em nói: Nhân tướng là dấu ấn mà hóa công in trên diện mạo hình hài của mỗi người. Cũng như Việt vương, như Hán Cao tổ, bên cạnh những nét như thế, nhà vua có nhiều nét đẹp của đế vương, chính vì vậy thần cùng nhiều người đã theo phò bệ hạ. Nhưng tướng cũng tùy tâm mà sinh mà diệt, bệ hạ làm việc chí thiện là tha mạng sống cho hàng chục vạn quân phương Bắc, nên nét tướng cũng có thể đổi thay…


           - Nhà vua tin vậy sao?


     - Tin hay không em không rõ nhưng nhà vua thuận ý cho về!


      Im lặng, mọi âm thanh dường như lắng lại. Sau lúc trầm ngâm suy nghĩ, Nguyễn Trãi nói chậm rãi:


    - Mừng chú đạt ý nguyện nhưng trong thâm tâm, anh vẫn không yên. Dưới mắt của hoàng đế, người không thể chung hưởng sung suớng là chúng ta mà trước tiên là chú. Chú dòng dõi Chiêu Minh vương hiển hách, lại tài vượt lên trên tất cả khiến càng dễ bị nghi ngờ. Anh cũng vậy. Và cả Thái úy Xảo nữa… Vì vậy, được về là mừng nhưng chưa phải hết lo!


     Ngồi bên trái chồng, hơi lui về sau một chút, Nguyễn Thị Lộ lắng im nghe rồi cầm chiếc nậm sứ men xanh đời Lý rót rượu vào chung cho hai người. Nâng nguyệt cầm lên, nàng hát. Tiếng hát quyện tiếng đàn lan trên mặt sóng. Hai người đàn ông im lặng như nhìn trong tiếng đàn những mông lung gập ghềnh của con đường nhân thế…


    - Hoàng thượng có hỏi em về việc ban thưởng công thần. Em nói là nhà vua đã phong thưởng công bằng. Nhưng ngài nói, chưa thật công bằng ít nhất với một người là Lê Trãi. Đáng lý ra với tài đức của anh phải ở vào hàng đê nhất công thần và đứng đầu trăm quan nhưng nếu làm vậy trước mắt sẽ gây xao động trong hàng võ quan là những người thủ túc theo vua từ đầu. Sau nữa, nếu đứng đầu trăm quan, chính sách của anh sẽ lợi cho dân cho nước nhưng lại thắt bóp quan lại, khiến họ không phục… Đành phải giữ anh lại dùng sau!


    - Dùng sau hay dùng trước ta không quan tâm, giọng Nguyễn Trãi thâm trầm, nhưng nhìn toàn cục thì nhà vua ứng xử rất phải. Thủ túc của vua là nông dân ít học, những kẻ võ biền, tầm nhìn rất thực tế và hẹp hòi. Họ là những người đầu tiên theo vua dấy nghĩa. Họ cũng là người chịu nhiều vất vả hiểm nguy, lập võ công bằng ngọn dáo, trên lưng ngựa. Được nước rồi, nhà vua lấy cái gì mà thưởng công cho họ? Kho tàng trống rỗng, đất công chẳng có bao nhiêu để mà phong hầu kiến ấp! Cái duy nhất ngài có là chức tước… Không nhìn người em họ, Trãi ngó ra màn đêm mênh mang thăm thẳm rồi nói chậm rãi. Nhưng chức tước không phải vô tận! Chức tước bây giờ như một thứ quả thực hiếm hoi phải cân nhắc khi ban phát. Để thưởng công là một phần nhưng cái chính là vỗ béo thủ túc để củng cố ngôi vị. Nhà vua không muốn còn bọn tay chân của ngài càng không chấp nhận một kẻ từ đâu tới, mang theo một quyển sách cùng những lời nói đầu lưỡi bỗng lại hưởng chức cao vọng trọng ngồi trên họ. Khi chiến tranh, trong màn trướng hoặc chỉ ngồi dưới vua trên đài cao ở Dinh Bồ Đề là chuyện sống chết bất khả kháng, vua không làm khác được và họ cũng không thay được. Lúc này chuyện không như vậy nữa! Vả chú cũng biết, một người làm quan cả họ được nhờ, họ không muốn bị ràng buộc tiết chế quá! Vua ta là người hiền nhưng vua cũng phải chiều đời, làm một chước hòa hoãn… Trầm ngâm suy nghĩ một lúc sau, Trãi chậm rãi nói:


    - Tiếc là ta chưa thể về được mà vẫn phải tại triều. Sẽ là đầu mối của sự ghanh ghét đố kỵ, sẽ khó khăn hơn thậm chí nguy hiểm hơn. Ai đo được lòng bể hoạn? Nhìn sâu vào mắt người em họ, ông tiếp, nhưng nói cho cùng, về như chú cũng chưa phải an toàn, có những mối họa theo ta sát gót suốt cuộc đời. Mong chú càng phải cẩn trọng!


 


                                     *


                                 *       *


 


  Hôm Trần Nguyên Hãn rời kinh thành về quê, ông đưa số đồ đạc ít ỏi cùng gia nhân xuống thuyền trên sông Cái. Không đi xe không đi kiệu, ông mặc bộ quần áo đi đường nhẹ rồi đi bộ lẫn với bao người dân kinh thành. Tiễn đưa ông chỉ có Nguyễn Trãi. Bước trên những con đường quen thuộc của phường Yên Hoa, Hãn nhớ tới dinh của quan Tư đồ xưa nơi ông cùng anh Trãi sống những ngày tuổi thơ đầm ấm. Chiều chiều Trãi dắt ông ra ngõ, hai anh em tha thẩn chơi để đợi ông nội về, với những quả hồng quả vải lộc vua ban. Sau Hội thề, ông dẫn lính khinh kị vào đóng những nơi hiểm yếu trong kinh thành, cho dán trên các cửa ô bản Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi được viết chữ to… Đi bên người em thân thiết tình ruột thịt, Nguyễn Trãi thấy lòng mình trĩu nặng. Nhưng khi tới bến sông, nhìn dòng sông hiền hòa chảy mang mang, bên sông ngát xanh màu xanh trù phú của ngô khoai cùng những người nông phu gánh gồng cuốc xới, trong thoáng chốc ông thấy lòng vơi nhẹ.


     Thuyền giương buồm tách bến. Đứng trên mũi thuyền Hãn vẫy chào ông cho tới khi chiếc thuyền mờ trong khói sóng. Ong có cảm tưởng như Hãn phiêu du vào cõi bồng lai. Còn lại một mình trên bến, ông cảm thấy cô đơn đến thắt lòng.


    Rồi Hãn bị giết oan uổng, ông cũng bị tống lao vì nghi liên can. Hơn ai hết, ông biết đó là oan. Ngày trong ngục và mãi sau này, ông thầm trách Nguyên Hãn khinh suất, sao đã hưu trí rồi lại còn xây nhiều dinh thự, đóng những con thuyền lớn tạo cớ cho họa diệt thân. Nhưng rồi thì ông hiểu, thuyền cùng nhà cửa chỉ là cái cớ, còn cái chính là trong mắt nhà vua không dung tha những người như Hãn, như ông Xảo. Không cớ này sẽ có cớ khác! Người đời thường trách đám n