tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20517805
17.12.2012
Triệu Xuân
Cụ Tom, Nghệ nhân Dân gian: Cất tình thành rượu!

Cuối tháng Bẩy 2010, vài ngày trước lễ khai mạc Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII, tôi cùng một người bạn thân tìm đường đến thăm Cụ Tom.


Sáng ngày 31-7-2010, từ Hà Nội, tôi tới thành phố Bắc Ninh, hỏi đường đến làng Vân, nơi có rượu Cụ Tom làng Vân nức tiếng. Người tài xế taxi nhiệt tình chỉ vẽ cho người lái xe đưa chúng tôi đi đến bến đò qua sông Cầu. Có hai bến qua sông để tới làng Vân. Một bến ở đầu làng Vạn, phía Bắc Ninh, để xe ô tô trên đê, qua đò sang làng Thổ Hà. Làng Thổ Hà còn giữ được cổng làng, đình và chùa cổ rất đẹp! Cuối làng Vạn, nơi có nhà thờ đạo Thiên Chúa soi bóng xuống dòng sông thơ mộng, có bến đò nhỏ, phục vụ ban đêm sang làng Vân. Bến thứ hai là đến làng Đại Lâm qua phà sang Vân.


Xe dừng ở bến Vạn. Chúng tôi xuống đò. Đó là chiếc phà nhỏ, lúc đông khách có thể chở được chục chiếc xe gắn máy và hai chục người. Chuyến đò tôi đi chỉ có bốn chiếc xe gắn máy và chín người. Máy nổ, phà rời bến. Nước sông mùa này không trong xanh, nhưng quả là chảy lơ thơ chứ không cuộn sóng. Tôi hỏi một cháu trai mặt mũi khôi ngô, cỡ tuổi học sinh trung học:


-          Cháu có biết đường về nhà Cụ Tom, chỉ giúp chú!


-          Cụ Tom rượu Vân phải không bác? – Cháu ngước đôi mắt to, đen láy, vừa cười vừa hỏi lại tôi.


-          Đúng.


-          Dễ lắm. Lên đò, bác cứ qua cổng làng Thổ Hà, đi thẳng tới làng Vân, qua trường học, đến giữa làng thì rẽ tay phải…


Một cháu bé ở làng Thổ Hà cũng biết rành rẽ đường về nhà Cụ Tom! Tôi vừa nói lời cám ơn cháu bé thì phà cập bến Thổ Hà. Ấn tượng sâu sắc với tôi ngay sau khi rời bến lên làng là một chiếc cổng làng cổ, một ngôi đình cổ và chùa cổ. Từ sau năm 1954, cổng làng, chùa và đình ở làng quê miền Bắc trong đó có làng tôi, cứ vắng bóng dần. Mãi đến những năm từ 1998- 2000 lại đây, lác đác một số làng mới khôi phục đình chùa, nhưng kiểu cách dựng cổ chẳng ra cổ, kim chẳng ra kim… Thế nên, đến Thổ Hà, một trong 34 làng quan họ nổi tiếng, thấy cụm kiến trúc cổ, lòng tôi trào lên niềm vui… Tôi tranh thủ chụp ảnh làng Thổ Hà rồi gọi một chiếc xe ôm đi sang làng Vân. Người chạy xe ôm là bạn học của Việt, cháu nội Cụ Tom. Xe chạy qua con đường ruột, rẽ vào đường xương cá nhỏ hẹp, chỉ vừa đủ cho một chiếc xe gắn máy tránh một người đi bộ, hai bên là những bức tường liên tu bất tận xây bằng gạch, bằng mảnh sành, cao quá đầu người. Mười phút sau, xe dừng trước cánh cổng bằng gỗ nhà Cụ Tom.


-          Việt ơi! Cụ Tom ơi! Có khách quý từ Nam ra này! Mở cổng đón khách!


La toáng lên như vậy rồi chàng trai trẻ ấy rồ máy xe vụt đi.


Cửa mở! Người mở cánh cổng là Nguyễn Trung Ca, con trai út Cụ Tom. Chúng tôi bước vào khoảng sân gạch, một chiều chừng 9 mét, chiều kia chừng 5 mét. Xung quanh sân chất đầy chum, kiệu, nồi, bình gốm, sọt tre… những dụng cụ làm rượu, chuyên chở rượu. Phần chính giữa sân đang phơi toàn gạo nếp cái hoa vàng, trắng ngà, tỏa hương thơm dìu dịu! Từ trên cửa ngôi là chính - nhà ngói ba gian- Cụ Tom xuất hiện, lưng hơi còng, nhưng đôi mắt vẫn lộ vẻ tinh anh. Tôi vòng tay chào Cụ Tom:


-          Thưa Cụ! Chúng cháu là bạn của anh Nguyễn Trung Tuấn, từ Sài Gòn ra Hà Nội họp, về thăm Cụ!


-          Bạn của Tuấn à? Mời hai bác vào! Quý hóa quá! Mời hai bác vào nhà!


Tôi lễ phép cầm lấy bàn tay Cụ Tom, nhìn vào đôi mắt Cụ, rồi bất giác tôi ôm lấy hai vai Cụ… Tôi cảm nhận được cả một đời lam lũ vất vả chín mươi tư năm trời qua hai bàn tay nhỏ bé, xương xẩu, đôi vai gầy, và tấm lưng còng của Cụ. Lòng tôi rưng rưng, tôi chợt nhớ đến mẹ của tôi. Mẹ tôi sinh năm Ất Mão, trước Cụ Tom hai năm, nhưng đã mất từ năm 2003 rồi!


Nguyễn Trung Ca, con trai út Cụ Tom lo pha trà mời khách sau khi đưa mắt cho Việt - con trai độc nhất của Ca- bắt ngan làm thịt. Cụ Tom ngồi võng, tôi ngồi bệt xuống sàn nhà gần cụ, y như mỗi lần tôi về quê ngồi cạnh mẹ tôi…


-          Bác có ở gần nhà Tuấn? – Cụ thấy tôi nhiều tuổi hơn Ca, cho nên cứ gọi tôi là bác.


-          Dạ, nhà cháu cách nhà anh Tuấn chừng 10 phút đi xe gắn máy. Tháng nào chúng cháu cũng gặp nhau một vài lần Cụ ạ!


-          Hôm trước thằng Trung Anh về chơi, cháu nó cho tôi hai triệu đấy, tôi chỉ mong nó cưới vợ. Bác vào, bảo nó hộ tôi!


Trung Anh là con trai trưởng của Nguyễn Trung Tuấn, nguyên đại tá, Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đại tá Tuấn sinh năm 1942, đã nghỉ hưu từ 2003. Trước khi về Bộ Tổng tham mưu, anh Tuấn là Trưởng bộ môn Rada Trường sỹ quan phòng không, nay là Học viện phòng không-không quân. Do ở cùng binh chủng, anh Tuấn biết chú ruột tôi là đại tá Triệu Xuân Lan, từ thời chú tôi ở Bộ Tư lệnh Phòng không Không quân. Tôi và anh Tuấn thân nhau từ tháng 6-2008, ngay sau lần gặp đầu tiên, tại nhà anh, khi tôi theo dấu một bài báo, đi tìm địa chỉ Cụ Tom!


Có chín người con, nhưng anh Tuấn là người con mà Cụ Tom rất tự hào. Trước khi mất một năm, nhân một chuyến anh về thăm, Cụ Tom nói với con trai:


- Bà đẻ ra mày, bà có lãi, Tuấn à!


Giống như biết bao bà mẹ ở miền quê, có con thì khoe con, có cháu thì khoe cháu, coi sự trưởng thành của con, của cháu là niềm tự hào của mình. Cả một đời vất vả hy sinh cho chồng cho con cho cháu, Cụ Tom chẳng màng một chút vật chất vinh hoa cho riêng mình. Tất cả chỉ lo cho chồng, con, cháu… Mẹ tôi cũng thế. Hầu như phần lớn bà mẹ Việt Nam đều như thế! Trong câu chuyện của buổi gặp đầu tiên hôm ấy, chi tiết cháu Trung Anh biếu bà nội tiền được Cụ Tom nhắc tới ba lần. Có điều, Cụ đã lẫn, lúc thì nhớ là hai, lúc thì nói là ba triệu! Cả nhà cười vui: vợ chồng chú Ca, vợ chồng cháu Việt con trai chú Ca, cùng chúng tôi, nghe cụ nói, cười vang nhà. Thằng cháu trai con của Việt mới vài tháng tuổi thấy người lớn cười cũng rời vú mẹ cười thành tiếng, cười tươi như hoa!


 


Nhà văn Triệu Xuân thăm Cụ Tom. Nghệ nhân dân gian Rượu Làng Vân. Ảnh chụp tháng 8-2010. 


Cụ Tom tên thật là Nguyễn Thị Mãi, sinh năm Đinh Tỵ, 1917, tại thôn Yên Viên, tức Vân xá, tức làng Vân, xã Vân Hà, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Tom là tên người con trai cả. Phong tục ở làng quê Bắc Bộ xưa, khi có con thì người ta gọi nhau bằng tên con đầu lòng. Làng Vân có cổ lệ không gả con gái làm dâu làng khác, không truyền nghề nấu rượu cho con gái, sợ mang bí quyết gia truyền đi lấy chồng ở làng khác! Cụ Tom vốn là một thiếu nữ mảnh mai, vầng trán rộng, tai to, mắt sáng, rất thông minh, tự nhìn cha mẹ làm mà biết nấu rượu từ năm 15 tuổi. 18 tuổi, Cụ lấy chồng cùng tuổi, cùng làng. Cụ Tom sinh tám người con, sáu trai hai gái. Chồng có vợ hai. Bà đẻ được người con trai thì chết vì bom napal của Pháp trên đường đi bán rượu. Cụ Tom nuôi người con này từ ẵm ngửa đến khi trưởng thành, ra ở riêng. Năm 1976, chồng Cụ Tom từ trần. Chồng cụ là người đàn ông cao một mét bẩy ba, vào hàng vài người cao nhất làng Vân lúc đó, tính tình cương trực, giỏi nấu rượu. Chín con, mới có năm người thành gia thất; từ chồng mất, việc nhà, việc dựng vợ gả chồng cho bốn người con trút cả lên đôi vai gầy Cụ Tom…


-          Nghe anh Tuấn kể, Cụ biết làm rượu từ mười lăm tuổi…


-          Riệu -phần lớn người miền Bắc phát âm rượu là riệu- ấy à, sớm hơn chứ, nhưng một mình một nồi từ đầu chí cuối thì đúng là từ mười lăm tuổi. Khi về nhà chồng, bên chồng tấm tắc khen tôi khéo. Tôi nấu riệu ngon, nuôi lợn mát tay, lớn như thổi, chăn tằm kéo sợi thì chả thua ai.


-          Vậy nghề Cụ thích làm nhất?


-          Riệu! Rõ là riệu chứ còn gì!


-          Nghe nói hai vợ chồng Cụ từng làm cho chateau Pháp (lò rượu) ở đầu làng Vân?


-          Có. Vợ chồng tôi làm hơn chín năm. Người Pháp họ khôn lắm! Họ biết rượu Vân ngon nức tiếng, từng được Vua Lê ban cho danh hiệu: Vân Hương Mỹ Tửu, thế là họ xây xatô rất to ở ngay làng Vân của tôi, chở gạo từ Nam Bộ ra, tuyển người làng Vân vào nấu, họ kiểm soát kỹ thuật. Rượu của họ, bác ạ, thực ra là của mình, vì cất bằng gạo Việt Nam, do người làng Vân nấu, củi lửa làng Vân, nước giếng làng Vân, men riệu Vân… Riệu trong vắt, thơm ngon lịm người, không độc. Họ đóng chai, đặt tên là Vân Hương Mỹ Tửu, bán khắp trong nước và xuất khẩu nữa! Khu vực họ xây nhà máy, bến cảng sông rộng lắm, tới hơn bốn mẫu Tây. Khi Nhật đảo chính Pháp, người mình chỉ biết căm thù Pháp; không nghĩ lò rượu ấy, nhà máy ấy là tài sản của mình, tài sản của người làng Vân; thế nên nghe ai đó hô hào, dân ta xông vào phá tan tành. Gạch ngói sắt thép cũng khuân về nhà làm chuồng lợn! Thiển cận quá! Nghèo quá, giận quá hóa mất khôn! Phải biết tốn bao nhiêu tiền mới xây được cái nhà máy to như thế, hiện đại như thế! Người Pháp ức lắm. Sau này, khoảng cuối năm 1947, Pháp quay trở lại, phá tan hoang đình làng Vân. Đình làng Thổ Hà nay còn đó, ai cũng khen đẹp, nhưng thật ra chưa to bằng đình làng Vân đâu, bác ạ!


-          Thưa Cụ, những năm làm cho chateau Pháp, cụ nhớ nhất điều gì?  


-          Chất lượng! Riệu phải chất lượng, tức là phải ngon. Mà muốn riệu ngon thì công nhân phải chấp hành nghiêm kỷ luật: Kỷ luật lao động gồm đi làm đúng giờ, giữ vệ sinh thân thể, thân thể quần áo có vệ sinh thì làm riệu mới sạch. Kỷ luật về kỹ thuật, à, bây giờ gọi là gì hả bác? – Dạ công nghệ ạ!- Phải rồi, công nghệ: Gạo chở từ Nam Bộ ra, phải sạch, không mốc, không lẫn trấu, rác, sạn… Khi nấu cơm, hễ khê cháy là bị phạt rất nặng. Nồi cơm phải chín đều, nếu lỡ bị khê, cháy thì đốc công bắt đổ bỏ ngay, không tiếc. Men phải đạt tiêu chuẩn. Men mốc, không thơm, không được ủ cơm. Bác biết không, men của nhà tôi ủ ấy mà, có tới 35 vị thuốc Bắc đấy! Số giờ ủ cơm trộn men phải thật chuẩn, không sớm quá, không quá muộn, thường là 24 giờ đến 30 giờ, tùy theo khí hậu nóng lạnh; rồi đổ nước vào ngâm từ ba ngày đêm, có khi đến hơn chục ngày đêm. Khó nhất là phải tùy theo mùa đông tháng giá hay mùa hè nóng chết cua chết cá mà quyết định giờ khắc bắc lên bếp nổi lửa chưng cất thành riệu. Tôi cứ nhớ mãi lời của một ông đốc công: Phải truyền cả tình người vào thì riệu mới ngon, mới có hồn! Tôi không biết chữ, không được đi học, nhưng nghe qua người thông ngôn được lời nói ấy, thật chí lý. Ý ông ta là: phải làm riệu bằng toàn tâm, toàn ý thì mới ra riệu ngon! Ý là phải cất tình thành riệu! Có lần, một ông cai vả mặt, tát tai người thợ vì để cho riệu chảy to quá (tức là dòng rượu ra nhanh quá, phải hãm bớt lò lại). Khi cất rượu, tôi phải nghe tiếng giọt riệu chảy bao nhiêu giọt một phút! Nghe nhiều hóa quen tai, chẳng cần nhìn, chỉ cần nghe cũng biết riệu đang ở mức 49 độ hay chỉ còn 40 độ, 35 độ!


-          Thưa Cụ, thế công nhân mình có bị Pháp ức hiếp không?


-          Có, nhưng chỉ những ai lười biếng, làm cẩu thả, lập tức bị chửi, bị phạt lương, thậm chí bị đuổi việc. Còn những người chăm chỉ, làm việc tận tâm tận lực thì luôn được thưởng! Tôi nói thật, bác đừng giận, chả cứ người Pháp mà ngay tôi đây, con tôi làm cẩu thả tôi cũng chửi, chửi nặng lời! Phải làm bằng cả tấm lòng, phải truyền cả cái tình trong người mình vào mới thành riệu ngon, bác ạ! Có phải ai cũng làm ra riệu ngon đâu! Các bác viết văn, làm thơ, là Trời phú cho, Trời bắt các bác phải làm nghề ấy. Không phải ai cũng thành nhà thơ được, nếu thế thì chỉ toàn thơ con cóc! Nghề làm riệu cũng vậy. Không phải ai có nếp cái hoa vàng, có men 35 vị thuốc Bắc, cứ làm theo công thức của tôi cho mà cất thành riệu Vân được đâu! Nếu thế thì cả thế gian này nhà nhà nấu rượu, tự cất tự uống à!


Tôi suýt phá lên cười khi nghe Cụ nói, vì chí lý quá. Trong khi đó Nguyễn Trung Ca bật cười ha hả, cười ầm nhà.


-          Thưa Cụ, nghe nói cả đời Cụ không xa lò rượu dù chỉ một đêm?


-          Kìa, bác uống đi, cốc riệu bác cầm trên tay lâu lắm rồi! Nào, bác đưa cho già này rót tiếp nhá! – Cụ Tom rót dòng rượu trong vắt, sủi đủ chín cái tăm quanh thành ly sứ trắng, giục tôi uống, nói tiếp: - thứ này đúng 50 độ đấy bác ạ! Bác uống có đằm không?


-          Dạ, đằm, ngon! Êm lắm, để lại cái hậu ở cổ, sướng lắm, thưa Cụ!


-          Bác hỏi vì sao tôi không xa lò rượu dù chỉ một đêm? Không nói ra thì các con các cháu chúng nó không hiểu tôi, chúng nó hờn giận tôi. Mấy đứa con dâu, con gái của tôi sinh đẻ bao nhiêu lần, tôi chỉ đến thăm một loáng, dúi cho mấy đồng bạc là mau mau chóng chóng về nhà ngay. Là cái hồn riệu nó giữ chân, bác ạ! Tôi nói thật nhá! Là tôi tin các con dâu, con gái tôi tự lập được cả, bởi tôi dậy chúng mà. Phải tự lập. Như nhà Hạnh vợ anh Tuấn đấy, cô giáo dạy văn, chồng là bộ đội đi biền biệt, vất vả lắm, tôi biết tất! Thế nhưng con dâu tôi nuôi dậy hai đứa con nên người đàng hoàng! Là ân đức Ông Bà Cha Mẹ hai bên cả đấy. Vì tôi tin các con tôi nên mới được toàn tâm toàn ý cho lò rượu. Tôi nấu được riệu ngon, trong đó có sự đóng góp tinh thần của các con các cháu tôi…


Con ngan (vịt Xiêm) nặng gần 3kg đã được vợ chồng cháu Việt làm thành ba món ăn ngon, nóng hổi, thơm lừng. Người bạn thân cùng đi, trẻ hơn tôi gần hai chục tuổi, nhắc nhỏ vào tai tôi: Đến giờ về Hà Nội cho kịp cuộc hẹn rồi anh! Cũng đúng lúc đó, người lái xe phone cho tôi báo đã đến giờ trở lại Hà Nội cho kịp một cuộc hẹn quan trọng. Cụ Tom không bằng lòng cho tôi về mà không ăn cơm. Vợ chồng Nguyễn Trung Ca nói lẫy:


-          Em cứ tưởng các bác ở lại chơi vài ngày mới đi chứ. Nào ngờ… Bác chê nhà em nghèo!


Chúng tôi phải năn nỉ mãi mới được Cụ Tom cho phép giã từ. Tôi đã hứa với cụ: Năm tới cháu sẽ ra thăm Cụ, sẽ ở lại một hai ngày để học Cụ nấu rượu!


Mối tình mới gặp mà đã ngấm, lưu luyến như hồn rượu Cụ Tom làng Vân giữ chân chúng tôi. Tôi mới uống có vài ly, chừng hai trăm mili lít mà bước đi đã cảm thấy phiêu bồng… Chú Ca tiễn chúng tôi ra tận bến đò cùng với món quà quý: bình gốm rất đẹp, màu da lươn, trong đựng ba lít rượu Cụ Tom. Đò cập bến làng Vạn, tôi nhìn trở lại, vẫn thấy Nguyễn Trung Ca với gương mặt giống hệt Cụ Tom đang vẫy tay… Người bạn tôi không giấu nổi nỗi xúc động, nghẹn ngào, hét vang qua sông Cầu:


-          Chào anh Ca! Anh về đi! Chúng ta còn gặp nhau mà!


Quay lại nhìn tôi, đôi mắt bạn tôi ướt nước, một lúc sau, người bạn trẻ nói:


-          Anh… hay thiệt! Cụ Tom chưa hề gặp anh, chưa hề quen biết gì, chỉ nghe anh nói là bạn anh Tuấn, không cần thư hay điện thoại giới thiệu chi cả, thế mà Cụ Tom và cả nhà tin liền, đối đãi như ruột thịt, giữ lại chơi vài ngày mới cho về!


Tôi cũng đang rưng rưng trong lòng…


Cụ Tom là thế đấy!


Hôm nay tôi đã được gặp Cụ, nhưng lần sau, biết bao giờ trở lại? Khi ấy, liệu Cụ có còn khỏe hay chăng? Mẹ già như chuối chín cây… Mẹ tôi đã mất năm 89 tuổi. Cụ Tom năm nay 94 tuổi ta, sau một cơn đột quỵ, đã yếu lắm rồi. May mà chú Ca, trai út của Cụ cùng với vợ là Cát, hai vợ chồng con trai Nguyễn Trung Việt, cả bốn người đều đã thành thạo nghề rượu!


*


 


Ngày 19-5-2011, Cụ Tom được phong tặng danh hiệu Nghệ Nhân Dân Gian.


Mười tháng sau, Cụ Tom thanh thản về miển Cực Lạc, ngày 16 tháng 3 năm 2012 (nhằm ngày 24  tháng Hai, Nhâm Thìn), thọ 96 tuổi.


Tháng Hai, Nhâm Thìn, 2012, tôi giật mình khi nghe anh Tuấn báo qua điện thoại: Triệu Xuân ơi, mẹ anh mất rồi! Anh chị đang ở sân bay Tân Sơn Nhất, chờ bay ra thọ tang Mẹ!


Tôi thắp ba nén nhang trên bàn thờ Ông Bà ở nhà mình, bái vọng Cụ Tom, cầu cho hương hồn Cụ siêu thoát!


Ngày 10-10-2012, tôi thực hiện chuyến đi thực tế ở miền Bắc một tháng. Ngày 26-10, từ Lạng Sơn, tôi về thẳng nhà Cụ Tom. Như tiền định, tôi đã nói là đi bến đò Đại Lâm, thế mà người lái xe vẫn nhầm, vẫn dừng ở bến đò Vạn. Thế là lần thứ hai tôi lại về Thổ Hà -vang bóng một thời về nghề làm đồ sành, gốm: chum vại, kiệu đựng rượu- trước khi đến làng Vân, nhà Cụ Tom. Cảnh cũ còn đây, người xưa đâu thấy! Không còn người mẹ già lưng còng ra đón nữa! Tôi thắp nhang trước bàn thờ Cụ Tom, cầu mong hương hồn Cụ phù hộ cho những người đang sống luôn được bằng an, may mắn, quốc thái dân an, bọn tham nhũng sâu dân mọt nước sớm bị vạch mặt và trừng trị.


Vợ chồng chú Ca đã già hơn. Nguyễn Trung Việt có con trai đầu ba tuổi, nay vừa có con gái ba tháng. Nhà không còn nuôi lợn (heo) nữa. Chú Ca bảo: Nấu rượu, nuôi lợn có lãi nhờ bã rượu, nhưng mất vệ sinh lắm, mùi hôi nồng nặc, giảm thọ. Nước sông Cầu ô nhiễm trầm trọng rồi anh ạ.


Lần này về Vân, tôi reo lên khi thấy dân làng đã được dùng nước sạch (nước máy). Nhà máy lọc nước sông Cầu dẫn tận nhà cho dân xài. Nguyễn Trung Ca, sinh năm 1961, biết nấu rượu từ năm 13 tuổi. Hàng ngày, bà Cát, vợ ông Ca dậy từ 3 giờ sáng, nấu 5 nồi gang xôi nếp cái hoa vàng, mỗi nồi 20 Kg gạo, khi chín nặng gần 40 Kg một nồi. Một mình bà Cát chuyển nồi cơm lên xe lăn, mang ra sân, dùng xẻng dỡ ra phơi cho nguội, rắc nem, trộn và ủ rượu. Đến 9g30 phút là xong những việc này. Ông Ca nói:


-          Mùa này là nếp chiêm, nhà em nấu ít. Đến vụ nếp mùa, gia đình em nấu hai đến ba chục nồi xôi mỗi buổi sáng! Giờ này, nhà em đã cất xong lượng rượu bán dịp Tết Nguyên Đán, đang khẩn trương ủ rượu cho Lễ Hội Xuân Quý Tỵ 2013 bác ạ!


Từ nhiều năm nay, gia đình Cụ Tom đưa ra hai loại sản phẩm chất lượng tuyệt hảo nấu từ nếp cái hoa vàng: Rượu trắng 50 độ, đóng thùng, đóng chai tùy theo nhu cầu khách hàng; và rượu 40 độ màu vàng nhạt đựng trong bình gốm ba lít rất đẹp màu da lươn thương hiệu CT- Cụ Tom.  Đêm ấy, chúng tôi thức khuya, trò chuyện về kiểu dáng bình rượu, chai rượu mà Nguyễn Trung Ca đang nhờ thiết kế để tung ra thị trường trong nước và quốc tế. Trung Ca nói:


-          Ước mơ của em là xây dựng Chateaux Cụ Tom với sản lượng hàng năm vài triệu đến vài chục triệu lít. Rượu Cụ Tom chất lượng cao nhưng sản xuất nhỏ thì uổng phí quá, phải không bác!


-          Thế còn nếp cái hoa vàng? Nguồn nguyên liệu này cạn kiệt do diện tích ngày càng thu hẹp?


-          Em tính rồi, bác ạ! Em sẽ tiến tới ký giao kèo với vài chục chủ hộ, bằng mọi giá duy trì giống nếp cái hoa vàng, tinh hoa của xứ sở trồng lúa nước Việt Nam. Em trung thành với mẹ em: Không có nếp cái hoa vàng thì không đỏ lửa!


Con Cụ Tom là thế!


Nguyễn Trung Ca kể: Đã không ít lần có bà con trong xã đến nhờ nhà em thổi (nấu) hộ vài chục nồi cơm bằng gạo tẻ, với giá khá cao. Em kiên quyết từ chối. Cả đời mẹ em chỉ nấu rượu từ nếp cái hoa vàng. Ngay cả trong những năm Nhà nước cấm nấu rượu bằng gạo, cả vạn Vân nấu bằng sắn, lời lắm, thì mẹ em vẫn chỉ nấu bằng nếp cái hoa vàng. Nay, nếu hám lời, nấu vài chục nồi cơm bằng gạo tẻ, có ai biết được, chả hóa ra mình Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng ư!


Con Cụ Tom là thế!


Từ năm 2008, sau khi kết thân với anh Nguyễn Trung Tuấn, mê mết rượu Cụ Tom, mỗi khi đi du khảo nước ngoài, tôi đều mang theo một hai chai rượu, trong đó có rượu Cụ Tom, vì tôi thích giới thiệu đặc sản nước mình với bạn bè. Đầu năm 2012 đến tháng 9-2012, tôi đã đi sáu nước, trong đó có năm nước châu Âu là Pháp, Bỉ, Hàlan, Đức, Ý; và Cộng hòa liên bang Myanmar. Trong những chuyến đi ấy, ngoài hai chai rượu Tây, tôi luôn luôn mang theo rượu Cụ Tom. Vào những lúc vui vẻ nhất, tôi mang rượu Cụ Tom mời bạn bè, kết cục, ai cũng dành uống rượu Nếp cái hoa vàng nhãn hiệu Cụ Tom.


Rất nhiều tửu đồ sành rượu, nhiều bạn bè xa gần đã nhờ tôi cho số phone của Đại tá Nguyễn Trung Tuấn, nhằm làm quen và mua rượu Nếp cái hoa vàng Cụ Tom.


Cụ Tom cất tình thành rượu, là thế!


 


Thành phố Hồ Chí Minh, tháng Mười, Nhâm Thìn, 12-12-2012.


Nhà văn Triệu Xuân


www.trieuxuan.info








Theo tài liệu mà tôi sưu tầm được, cụ Nguyễn Thị Mãi là cháu đời thứ tám của Quế Quận Công Nguyễn Đức Uyên; giòng họ Nguyễn Đức, sáu đời khoa bảng. Sáu vị Quận công này đang được thờ tại Miếu Đại Trung, nằm phía Tây Bắc làng Guột (Dũng Quyết), xã Việt Hùng, huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh. Miếu do Quế Quận Công Nguyễn Đức Uyên vâng lời chúa Trịnh xây dựng năm 1708, để thờ cha mình là Ân Quận Công Nguyễn Đức Nhuận, một danh tướng thời chúa Trịnh Căn đánh chúa Nguyễn Hiền. Hiện nay, miếu thờ 6 vị quận công: Hùng Quận Công, Cẩm Quận Công, Ân Quận Công, Quế Quận Công Nguyễn Đức Uyên, Chiêm Quận Công, Giao Quận Công (TX).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
xem thêm »