tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21056624
Truyện ngắn
11.12.2012
Vũ Bằng
Cái tủ sắt hiệu Boxe (1)

Tôi đi chơi xa về, chưa kịp nghỉ ngơi thì con cháu Liễu đến báo một tin quan trọng: ba nó là ông Sáu Thiền bị bạo bịnh đã phải đưa về nhà riêng ở đường Công Lý.


Sáu Thiền và tôi không có họ hàng, bà con gì hết. Chúng tôi biết nhau từ năm một ngàn chín trăm năm mươi, năm mươi mốt gì đó. Hồi đó, ông Sáu làm Hội đồng, đi theo ông Thủ tướng ra Hà Nội. Vì có sự giới thiệu của người quen, tôi mời ông Sáu về ở nhà tôi anh em tâm đầu ý hợp, lúc ông ra về đã để cảm tình đằm thắm lại cho tôi.


Năm 1953, trước khi ký hiệp định Giơ Neo, tôi ra vô Sài Gòn như cơm bữa. Nói là để công tác cho cơ quan tôi làm việc, nhưng thực ra tôi đi đánh bạc ở Đại Thế Giới Kim Chung. Mỗi khi thua – mà một tháng ba mươi ngày, thì tôi thua có đến hai mươi tám, hai mười chín ngày – tôi lại đến Sáu Thiền vay mượn. Bao giờ ông cũng khuyên tôi không nên la cà vào Đại Thế Giới Kim Chung làm gì, nhưng lần nào ông cũng đưa tiền cho tôi xài.


Lúc ấy Sài Gòn ăn chơi dữ lắm. Chẳng có đêm nào chúng tôi không đi nhậu ở các nhà hàng. Nghe thấy có chỗ nào có món ăn đặc biệt, thế nào cũng tìm đến tại chỗ mà thưởng thức cho kỳ được. Chúng tôi hợp nhau về nhiều điểm, nhưng chỉ toàn là những điểm ăn chơi tán láo mà thôi. Về công việc làm ăn, chúng tôi không tán đồng ý kiến của nhau nhất là về thời cuộc thì càng kỵ lắm. Ông Sáu Thiền là một người bảo thủ. Ông ghét Pháp thực dân, nhưng chủ trương làm việc gì cũng phải tuần tự nhi tiến, chớ không thể nóng nảy, ngổ ngáo, e hỏng việc.


Sau này, đi sâu với ông hơn nữa, tôi mới biết thêm rằng mấy đời nay nhà ông theo đạo Khổng và từ đó ông sợ tập tục ngàn xưa, sợ cả những cái gì mà Đức Thánh đã viết và sợ luôn cả thần thánh, tà ma nữa.


Tôi không tán đồng nhân sinh quan của ông về nhiều điểm. Mỗi khi sắp chạm tới vấn đề gì xét ra có thể gay cấn, tôi thường gạt đi nói lảng sang chuyện khác. Nhưng kỳ lạ thay là tình bạn, hai cái mâu thuẫn ấy lại thân thiết với nhau hơn cả anh em ruột thịt. Mỗi khi ở nhà ông có chuyện gì trục trặc, ông lại cho con đến tìm tôi thảo luận và nhờ giải quyết giùm. Có món gì lạ ở xa đem biếu, thế nào ông cũng xẻ cho tôi. Vì thế hôm nay, ông bị đau nặng không cho ai biết mà chỉ cho con cháu Liễu đến bảo riêng tôi, không có gì lạ hết.


Mặc dầu mệt rã rời, tôi cùng với cháu Liễu đi xe đến đường Công Lý. Cũng như hầu hết các ông Hội đồng lúc bấy giờ, ông Sáu, ngoài vườn ruộng ở nhà quê, có hai căn nhà ở tỉnh: một biệt thự ở ngã ba ông Tạ để tiếp xúc với các ông tai to mặt lớn, làm “áp phe” và một ở đường Công Lý vừa là nhà thờ vừa là nhà để ở với bà lớn và Liễu là con gái duy nhất của ông.


Trước đây, ông có một con trai, nhưng bị chết trong tai nạn phi cơ ngày sáu tháng ba năm 1953 ở đèo Hải Vân.


Hai ông bà và cô con gái sống không lấy gì làm vui lắm. Để tiêu cái sầu của một cuộc đời đủ ăn nhưng tẻ như một khúc sông không cầu, ông thường kiếm các nơi có món ăn ngon để thưởng thức là vì vậy; mà nhậu nhẹt ngày hai buổi đến năm sáu ly rượu mạnh cũng là vì vậy


Có nhiều khi thấy ông uống hơi nhiều tôi hết lời khuyên nên giảm đi thì tốt hơn, nhưng ông Sáu chứng nào tật ấy không chừa được. Có khi lại uống dữ hơn là khác.


Ở miền Nam, trời nóng mà uống dữ thế nên có nhiều người đau bao tử, hư gan, lên máu chết. Ông Sáu Thiền tương đối vẫn mạnh, nhưng về sau này, nhậu nhẹt với ông luôn, tôi để ý thấy tay ông hơi run và lúc nói lưỡi hơi cứng, nói có lúc đớ ra, không uyển chuyển.


Vì thế ngồi ở trên xe, đoán hết thế nọ đến thế kia, tôi ngờ ông đau bịnh rượu. Mà đau nặng, hay là đứt gân máu ở đầu, chưa biết chừng!


Nhưng đậu xe xuống, chạy vội vào nhà thấy ông, tôi biết ngay là tôi lầm. Ông Sáu không có triệu chứng gì đứt gân máu nhưng người ông gầy một cách thảm hại, hai gò má nhô ra, mà mắt thì lạc mất thần, thỉnh thoảng lại liếc trộm rồi quay mặt vào tường nhắm mắt.


Tôi nắm lấy cổ tay ông thì thấy da nóng bỏng, mạch loạn. Không muốn làm kinh động trong lúc ông lim dim cặp mắt, tôi hỏi bà Sáu thì bà cho biết:


– Mấy hôm trước không làm sao cả, vẫn ăn uống như thường. Bỗng đêm hôm kia, đương ngủ, nhà tôi kêu lên mấy tiếng thất thanh. Thế là từ đó, ông nằm liệt vị, không dậy được, nói một mình suốt ngày suốt đêm.


– Mà nói những gì?


– Nói lảm nhảm chẳng ra đâu vào đâu cả. Nhưng quanh đi quẩn lại, ông nói về cái bàn thờ Bạch Hổ ở trên lầu sáng nào, chiều nào cũng đốt nhang cúng lễ cẩn thận và quét tước sạch sẽ. Vậy mà không hiểu sao đêm ấy – sau này, lúc tỉnh, ông ấy kể lại với tôi như thế – ông ấy đang thiu thiu sắp ngủ bỗng thấy ông Bạch Hổ từ trong cái tranh thờ vươn vai đứng dậy rồi nhảy vọt ra chụp lấy ông. Y như thật, không sai một mảy. Bởi vì ai cũng biết rằng một khi cọp chụp một người ăn thịt thì nó nhảy một cái tới người, tát một cái rồi lôi đi, nhưng nếu người lanh mắt mà né được thì cọp đi thẳng, không quay lại chụp lần thứ hai, như beo hay gấu. Trong lúc mơ mơ màng màng thấy bị ông cọp chụp, nhà tôi né được, nên thoát chết; nhưng tỉnh giấc rồi lại càng sợ hơn nữa là vì cọp đã đi khỏi từ lúc nào mà bên tai vẫn nghe thấy có tiếng nói văng vẳng: “Ngươi thờ ta mà không cúng kiêng cẩn thận, quét dọn bàn thờ sạch sẽ, điều đó nhất định không thể tha thứ được. Mai đây mốt nọ, ta sẽ quay lại hỏi tội nhà ngươi lần nữa”.


Muốn làm yên lòng người nhà bệnh nhân, tôi nói:


– Chẳng sao đâu, bác ạ. Đây chẳng qua chỉ là một hình thức tinh thần rối loạn, trị từ từ sẽ hết, chớ không có gì nặng đâu.


– Tinh thần rối loạn nghĩa là điên, có phải không?


– Không hẳn thế! Chỉ là tinh thần sút kém mà thôi. Nghĩa là thế này: đối với người bình thường, hoạt động tinh thần biểu hiện ra nhiều mặt: tri giác, tình cảm, trí nhớ, tư duy, vận động, ý thức trí năng... Mỗi khi tinh thần sút kém – tức là tinh thần bị bệnh – thì các hoạt động nói trên bị rối loạn, ở một vài hay nhiều mặt. Về phần bác trai, tôi ngờ rối loạn chủ yếu là ảo giác – tức là một thứ rối loạn thuộc về tri giác.


– Bác nói gì, tôi không hiểu.


– Nói thế này thì bác thấy rõ hơn. Trước một sự vật hay một hiện tượng không hề có trong thực tại khách quan, bệnh nhân cho là có thực. Thí dụ trong phòng không có ai, nhưng bịnh nhân lại thấy một ông cụ già ngồi trên một cái cây mọc ở giữa phòng nói chuyện với mình. Có nhiều ảo giác. Đây là trường hợp ảo giác về thị giác (thấy cọp hiện ra dọa ăn thịt mình) kèm ảo giác về thính giác (nghe thấy tiếng nói bên ngoài nhát mình hay sai khiến mình).


Vừa khi tôi nói tới đó, ông Sáu rú lên mấy tiếng cực lớn, tuồng như sợ hãi một cái gì ghê gớm lắm, tay chân co quắp lại mà mặt thì xám ngắt màu tro, y như một thây ma vậy. Thấy thế, mồ hôi tôi toát ra như tắm. Bà Sáu, Liễu và tôi chạy lại lay ông, kêu ông mãi, ông mới tỉnh. Tỉnh rồi, mở mắt ra nhìn rõ ràng thấy tôi rồi mà chân tay ông vẫn còn run. Ông uống hai ly nước đầy mà có vẻ vẫn chưa đã khát.


Thừa lúc ông tỉnh táo, tôi hỏi:


– Anh Sáu à, tôi nghĩ thế này, chẳng biết anh có tán thành không? Ở nhà, vắng vẻ, chỉ có hai người đàn bà và một bõ già săn sóc anh, tôi e không được... Ngộ đêm hôm, tối lửa tắt đèn, nói dại... có làm sao... Tốt hơn hết là để tôi lấy xe đưa anh vào nhà thương, trong đó có đủ bác sĩ, khán hộ săn sóc và máy móc tối tân, thuốc thang đầy đủ, có muốn chích hay bơm dưỡng khí, có luôn! Tôi cho là như thế tiện vô cùng. Anh bằng lòng, tôi đưa anh đi ngay bây giờ?


Ông Sáu lắc đầu, quay mặt vào tường và nằm nguyên như thế, không nhúc nhích mà cũng chẳng buồn đáp lại tôi một lời.


Bà Sáu kéo tay tôi sang phòng khách ở bên trái, mời tôi uống nước, rồi nói:


– Nhà tôi kỳ lắm, bác ạ. Không biết bao nhiêu lần, chúng tôi đã khuyên vào bệnh viện để người ta săn sóc thuốc thang chữa chạy, mà ông không chịu là không chịu. Thậm chí, thuốc Nam, thuốc Bắc cũng không uống nữa.


– Ủa, không chịu uống thuốc gì cả. Thế là tại sao?


– Không chịu uống một ly gì cả. Chỉ lo cúng mà thôi. Nói ra thì bác cho là kỳ cục, nhưng nhà tôi chăm lo cúng kiếng còn hơn cả đàn bà nữa. Nhất là bước sang năm nay lại là năm Tý, năm tuổi, lại càng cúng kỹ hơn. Tôi cũng là một người tin lễ bái, nhưng lễ bái gì thì lễ bái cũng phải có thuốc men mới được, chứ không lẽ có bịnh trọng mà cứ đành nằm chờ chết hay sao?


– Tôi chơi với bác trai đã lâu năm, trước đây đâu có thế!


– Đúng thế! Nhà tôi dở chứng như thế chỉ chừng vài tuần nay thôi. Trước đây có bịnh, ông ấy không dùng thuốc Tây thì dùng thuốc ta. Đến lần này, mới sinh ra chứng kỳ lạ như thế chớ! Bây giờ, ngồi nghĩ lại, tôi nhớ ra rằng nhà tôi dở cái chứng không uống thuốc từ hôm nằm mê thấy ông Bạch Hổ từ trong tranh nhảy ra vồ...


– Thế trước đó ít lâu, bác có thấy bác trai có biến chứng gì lạ không?


– Không... Tuyệt nhiên không. Ăn như thường, uống rượu như thường. Đối đãi, trò chuyện với vợ con, không có gì lạ cả. À, tôi nhớ rồi. Trước đó, chừng một tuần, nhà tôi thức khuya hơn thường lệ. Bảo đi ngủ, ông ấy trả lời là không ngủ được. Ông ấy lấy số tử vi ra coi, có khi đến hai ba giờ sáng. Hỏi xem số có thấy gì lạ không, thì nhà tôi bảo thế nào năm nay ông ấy cũng chết vì lớn tuổi rồi mà đại hạn có đào hoa, tiểu hạn có Đà la, hoa cái chinh chiến, bên này có Sát ngô phá, lại có kình chiếu sáng, khó qua được cái năm bốn chín. Ông ấy không chịu uống thuốc có lẽ vì quá tin tử vi một phần.


Nói đến đây, bà Sáu im bặt, không nói nữa.


Tôi gạn hỏi:


– Còn phần nữa tại sao?


Bà ngần ngại. Mãi sau, mới nói:


– Điều này, khó nói lắm. Là vì hẳn bác biết ở trong này có vài bịnh hiểm nghèo như sài con khỉ, bịnh trời leo, bịnh trái giống... Có người ở trong mắc phải mà nói huỵch toẹt tên bịnh thì bịnh không những nặng lên mà còn khó qua khỏi nữa. Trường hợp nhà tôi cũng thế... Đã lâu lắm nhà tôi sợ cọp, sợ một cái chết vì cọp, nhưng không dám nói ra với ai hết vì sợ nó vây vào người, khó gỡ được ra... Nhà tôi và tôi chỉ âm thầm lễ bái trời Phật và cầu xin đấng Bạch Hổ tinh quân phù hộ tai qua nạn khỏi... Tôi sợ quá, bác ơi... Chẳng biết có qua được cái năm tuổi không?


P P P


Ấy là vì ông Sáu Thiền tin rằng cái số ông đến đây là hết. Hơn nữa, cái oán nó theo dòng họ nhà ông đến ba đời rồi, đến năm nay là năm Tý sẽ đem ông “về” nốt với tổ tiên, không có cách gì tránh khỏi được. Cái số đã thế lại kèm cái oán nó theo thì chạy đi đâu cho thoát!


Ấy duyên do như thế, chớ rượu với trà gì, ảo giác và thị giác, thính giác cái quái gì? Ông Sáu tin chắc chắn như thế, cho nên tôi giải thích thế nào ông cũng không nghe. Hơn thế, ông lại còn cho rằng việc trời đã xếp đặt đâu vào đó rồi, chống lại vô ích. Do đó uống thuốc làm gì, mà có khi còn có hại là vì – theo suy luận của ông – mình cứ cam đành cái số kiếp của mình, may ra Trời Phật, thần thánh còn thương, chớ lại uống thuốc uống men nghĩa là chống lại số kiếp, bướng bỉnh với thần cọp thì chỉ tổ chóng chết, mà có khi hơn thế, cái oán nó cứ theo mãi mà còn vật chết cả đàn bà, con gái trong họ nhà mình cũng nên.


Biết là không thể khuyên giải ông về phương diện bệnh lý, tôi phải đánh ông về mặt tình cảm vậy. Tôi nhấn mạnh về việc cửa nhà vắng vẻ, không có người săn sóc, chăm nom chu đáo, ông vào bịnh viện thì hơn. Ờ, ông không uống thuốc thì thôi, cũng như bịnh viện một khi muốn mổ một bịnh nhân mà người nhà bịnh nhân không chịu thì ai dám mổ, ông cứ vào nằm tịnh dưỡng cũng được chứ sao? Ai lại còn không biết rằng y học hiện nay có nhiều phương pháp chữa bịnh tân tiến lắm: đau bao tử, đau tim, đau thần kinh... chỉ nghỉ ngơi rồi thay đổi cách dinh dưỡng ít lâu, ăn ròng những thức ăn đã kê khai trong một sổ riêng thích hợp với loại bịnh đó thì khỏi... chớ có cần chích hay uống thuốc gì đâu!!


Nói một lần không nghe, nói đến ba lần, ông Sáu Thiền nể vợ con và tôi, bất đắc dĩ chịu vậy. Chính tôi đã quàng vai ông dìu ra xe đi bệnh viện, nhưng ra đến gần cửa, sực nhớ, ông nhất định đòi quay vào, bắt người nhà đốt nhang đèn trên bàn thờ Phật và bàn thờ Bạch Hổ để ông lễ và có như thế thì ông mới yên lòng. Rồi ông nói với tôi:


– Yên lòng đối với Trời Phật, yên lòng với Thần Bạch Hổ chớ không phải yên lòng với bịnh. Bởi vì tôi biết chắc thế nào tôi cũng chết, thuốc men gì cũng chẳng tới đâu, chỉ có Trời Phật, Thần Thánh và Đức Bạch Hổ quân thương xót, xá u xá mê cho thì sống.


Tôi không cãi ông Sáu. Căn phòng ông nằm trong bịnh viện dành riêng cho những người yếu thần kinh. Ba ngày đầu, thử máu, thử nước tiểu, thử đàm, sang ngày thứ tư, thứ năm không uống thuốc, ăn một ngày ba bữa – không có rượu. Ông Sáu không rú lên như ở nhà. Dần dần ông ăn ngon miệng. Bấy giờ, bác sĩ mới cho uống mỗi ngày sáu viên thuốc to bằng cái cúc áo. Không hiểu vì mạnh ra hay vì thần cọp sợ nơi bịnh viện có đông người ra vô, có nhiều mùi thuốc hôi hám và có người ta la hét, rên rỉ và chết chóc. Cả đêm cả ngày, óc ông lần lần hết ám ảnh vì cọp; ông uống thuốc như ăn kẹo và sẵn sàng để cho cô y tá chích vào mông và cánh tay mỗi ngày hai ba mũi. Thế rồi ông Sáu khỏi bịnh và ăn uống còn mạnh hơn cả ông và cả tôi!


Hôm thanh toán tiền nhà thương để đưa ông về nhà, tôi buồn cười muốn chết. Cũng như người ghiền thuốc phiện ở tù ra, được thả lại đi hút liền, ông Sáu về đến nhà, việc thứ nhất là sai người bõ già quét dọn bàn thờ Bạch Hổ tinh quân, bật đèn thắp nhang trịnh trọng để cho ông lễ. Hình như là ông nằm ở nhà thương không trông thấy cái bàn thờ thì chẳng làm sao, nhưng về đến nhà thì chưa bước vào đến cửa đã bắt đầu ơn ớn sợ cọp rồi và tâm hồn ông không thể yên ổn nữa.


– Anh bị ám ảnh vì cọp. Tôi tưởng một tháng ở trong nhà thương, anh đã thấy rõ là không có cọp gì hết, đó chỉ là anh hoang tưởng mà thôi. Anh yên chí là không có cọp, cọp không rình mò để chụp anh, đừng hoang tưởng sẽ hết.


– Anh nói cái gì hoang tưởng?


– Hoang tưởng, theo tôi, là ý tưởng sai lầm, hoàn toàn không phù hợp với thực tế, do bịnh tinh thần sinh ra, nhưng bịnh nhân lại cho là hoàn toàn chính xác, không thể giải thích, đả thông được. Hoang tưởng chia ra nhiều loại. Trường hợp của anh là hoang tưởng bị hoại, anh tin tưởng chắc chắn là có con cọp theo dõi anh, ám hại anh. Bây giờ, anh cứ yên chí là không có người nào, không có vật nào theo dõi như thế, hoang tưởng sẽ hết. Tôi đề nghị dẹp luôn cả cái bàn thờ Bạch Hổ đi.


Sáu Thiền tái mặt, giơ tay ra vẻ ngăn tôi lại.


– Bậy! Không được! Anh làm như vậy, anh chết liền. Là vì anh không có ở trong cái cảnh ngộ của tôi, anh không thể nào hiểu được. Cái gì không nói chớ cái việc các ông cọp báo oán, tôi chắc chắn biết nhiều hơn anh. Anh đừng làm ra cái mặt văn minh tân tiến, cho tất cả những cái gì mà người ta không sờ mó được, không giải thích được bằng phương trình a + b = c thì đều là dị đoan. Không. Anh nên nhớ rằng trong đời có bao nhiêu chuyện khó tin, những chuyện không lý giải được mà không dị đoan chút nào. Một quả trứng bé nhỏ chui ra một con nòng nọc sống ở dưới nước, lớn lên rụng đuôi, thành con ra con cóc. Một con trùn ở dưới đất cả mấy năm trời, tự nhiên một hôm chui lên mặt đất, hóa xác thành một con ve nhỏ bé mà tiếng kêu to đến nỗi làm cho cả thành phố vang động. Lại một con sâu ăn lá dâu mà kết thành cái kén bằng tơ rồi đục cái kén chui ra thành một con bướm màu sặc sỡ. Đó chỉ là một vài ví dụ nhỏ bé và thô lậu về sinh vật trong vũ trụ, chứng tỏ rằng trong một kiếp sống, một sinh vật có thể thay hình đổi dạng nhiều lần mà vẫn giữ được cái tính của nó. Chúng ta chấp nhận sự việc đó rất tự nhiên và không bao giờ cho là dị đoan. Nếu đem sự việc đó áp dụng vào loài người chúng ta sẽ thấy nhiều thí dụ tương tự. Ta nhận rằng loài người có linh hồn, thế thì lấy cớ gì ta lại dám bảo rằng loài vật không có linh hồn? Nếu không có linh hồn, tại sao con mèo, con chó lại có nghĩa, lại biết ơn, lại biết buồn biết giận? Linh hồn ấy tồn tại sau khi thể xác chết đi. Thế thì tại sao linh hồn con người còn vất vưởng không thể đầu thai, chuyển kiếp như con ve, con bướm, và tại sao đã đầu thai được, linh hồn ấy lại không biết phù hộ người làm ơn cho nó và báo oán những người hại nó? Tôi không bằng lòng khi có những người Đông Phương làm ra mặt tiến bộ khoa học, động thấy, chạm phải một vấn đề gì huyền bí, không lý giải được vội vã cho là không thể có, mà tin là có tức là mê tín dị đoan. Người Tây phương có khuynh hướng đón nhận những sự viện kể trên với một khối óc hoài nghi và có ít nhiều cử chỉ khinh thường. Kệ họ. Xưa họ cũng hoài nghi khoa mổ óc, khoa châm cứu như thế đấy. Bây giờ, họ bắt đầu tin là có và tìm hiểu, tìm học. Phần chúng ta, cái thời nhắm mắt theo Tây đã qua rồi. Ta có nhiệm vụ phải nhìn vào những sự việc đó với một tinh thần cởi mở, khoáng đạt, tìm hiểu và học hỏi những hiện tượng lạ lùng bằng phương pháp khoa học như J. B Rhine, Warcollier, Mark Twain, Abraham Lincoln, Swedenborg...


Thấy ông Sáu nói thao thao bất tuyệt, tôi chạy tìm một chai rượu mạnh rót hai ly. Tôi nâng ly thứ nhất chúc Sáu Thiền khỏi bịnh. Đến ly thứ hai, tôi chúc mừng ông cọp đã bỏ anh mà đi lên rừng.


Sáu Thiền không cười, nghiêm mặt nói:


– Không, tôi đã nói là tôi không giỡn mà! Mình không biết chắc thì chớ đưa ra nhạo báng!!


Nói rồi, Sáu Thiền rót ly thứ ba cụng với tôi, rồi nói:


– Phải, đừng có nhạo, có ngày chết oan đa! Câu chuyện cọp báo oán dòng họ nhà tôi – duyên do nỗi lo âu, sợ hãi của tôi trong bao nhiêu năm nay – tôi biết rõ từng chi tiết, tôi sống và sống trực tiếp từng phút, từng giây, anh cần phải biết, rồi muốn nói gì hãy nói. Có như vậy, anh mới thấy tôi sợ không phải là vô cớ. Rất có thể anh tưởng bây giờ khỏi bịnh rồi, đi lại bình thường là tôi hết sợ ngài cọp rồi? Không đâu. Tôi nói anh đừng buồn, tưởng như thế là lầm lắm. Tôi vẫn sợ và tôi vẫn nghĩ rằng tôi mạnh thế này là một cái may, nhưng may không có nghĩa là tôi hoàn toàn hết sợ cọp báo oán tôi.


– Anh bi quan quá!


– Không bi quan gì hết. Tôi thực tế hơn anh. Chính tôi đã thấy ông nội tôi, cha tôi, một đứa em của tôi chết vì cọp báo oán, anh bảo không tin và không sợ sao được? Này, tôi hỏi anh: từ ngày vào đây, có bao giờ anh nghe thấy người ta nói có bốn cái kỳ lạ đặc biệt ở miền Nam này là những con gì không?


– Là tứ đổ tường: cờ bạc, trai gái, rượu và thuốc phiện, chớ gì?


– Nếu thế, còn nói làm chi nữa? Ai chẳng biết như thế, mà ở đâu chẳng vậy, cứ gì phải ở miền Nam. Ở miền Nam, có bốn cái kỳ lạ đặc biệt là mưa Đồng Cọ, gió Tu Hoa, cọp Ổ Gà, ma Hòn Lớn. Khoan nói về mưa Đồng Cọ, gió Tu Hoa và ma Hòn Lớn, tôi chỉ nói về cọp Ổ Gà thôi. Ổ Gà thuộc Đại Lãnh, tức là Khánh Hòa (Nha Trang). Ở đó, cọp nổi tiếng đông và dạn, trước đây vào lúc mặt trời lặn, chúng đi nghênh ngang ở đường cái như chó vậy. Nhưng theo tôi, cọp đông và dữ chừng nào đi nữa thì cũng chỉ đến như nơi tôi ở là cùng. Chắc anh đã biết là mấy đời nay nhà tôi sinh sống ở Tây Ninh – Trảng Bàng sát với biên giới Cao Miên. Cả một vùng từ Châu Rai đến Lô Mang đều biết tiếng nhà tôi, phần vì có của ăn của để, mà phần vì cha truyền con nối về nghiệp võ. Dòng họ nhà tôi nổi tiếng là hảo hán giang hồ cũng có. Những người đưa trâu bò hay hàng hóa lậu qua biên giới đều phải có lời thưa trước với ông nội tôi. Ai bị ức hiếp điều gì, ai có chuyện bất mãn trong sóc, ai bị cướp bóc hay gặp điều oan uổng, hầu hết đều đến nhờ ông nội tôi che chở. Lúc nào ở trong nhà tôi cũng có hàng chục người làm, biết đôi ba miếng võ, để đi khắp trong vùng xem xét, khi nào rảnh rỗi thì làm rẫy, mà không rảnh rỗi thì ăn xong tìm việc vặt trong nhà ra để làm... Như đã nói trên kia, cái vùng tôi ở có nhiều cọp có tiếng, nhất là ở Trảng Lớn. Tại đây có một cái truông rộng bạt ngàn sơn dã, cây cối um tùm. Ngày thường, cứ vào lúc lặn mặt trời, cọp ra ngồi ngoài đường như ngồi chơi mát cho nên những người đi cày cấy hay buôn bán về qua truông ấy – kêu là truông Mít – phải đợi nhau tại một chỗ nhất định, đông đủ cả rồi mới kéo nhau ra về, chớ không ai dám đi một mình. Ấy là nói lúc bình thường. Gặp hôm nào động rừng, cọp kéo nhau ra cả lũ ở ngoài lộ thì các tiền họ cũng chẳng dám đi, dù là đi từng đoàn, từng lũ. Những khi đó, họ vào tìm ông nội tôi, nhờ cho người bảo vệ. Ông nội tôi lại cử một vài người mang khí giới đi dẫn đường. Và cứ như thế, cọp lảng hết, không có chuyện gì đáng tiếc xảy ra.


Là vì, theo lời các cụ truyền lại, giống cọp thực ra cũng nhát, chứ không dữ như người ta thường nói. Hễ thấy đông người, mà trong đó lại có người cầm cây vót nhọn giơ lên hăm dọa, chúng lỉnh rất nhanh. Nhưng có một hôm, có một con cọp rất lớn nằm chắn ngang đường lộ, thấy đoàn người do một học trò của ông tôi dẫn lộ, không những đã không lỉnh vào truông, lại cứ nằm mở mắt thao láo ra để nhìn, nhe răng ra để dọa và quặp ở hai chân trước một cái lá to bằng bàn tay.


Theo luật đi rừng, gặp những con cọp như thế, phải đứng lại nghe chừng, nhất là không nên tiến ẩu mà có khi chết cả đoàn, cả lũ... Thường thường, thấy người đứng lại như thế thì con cọp đứng lên đi, bỏ cái lá trên đường. Người dẫn đường tiến lên cầm lấy cái lá soi lên thì thấy cái lá có in hình một người nào đó trong bọn. Thế là người ấy có số bị cọp vồ. Bao nhiêu người trong bọn có bổn phận phải vây lấy người ấy giơ mũi nhọn lên trời để đưa đi, trong khi người dẫn đường đi trước để coi đường và đối phó kịp thời, nếu có việc gì. Nhưng vẫn theo lời các cụ già kể lại, thì đề phòng như thế chẳng ăn thua gì cả. Mười lần như một, con cọp không biết từ bao giờ và rình ở đâu, phóng tới nhanh như chớp và táp đúng ngay vào người có in hình trên chiếc lá, mang đi.


Đoàn người, do một người học trò của ông tôi dẫn đường, không theo luật rừng nói trên, không đứng lại. Anh Bính – tên người dẫn dường – cứ ngoắt tay bảo đoàn người tiến theo sau anh ta, yên chí là con cọp thấy đông người sấn lên thì phải lùi. Vả chăng Bính đã chuẩn bị đâu đó cả rồi, nếu cọp hỗn, phóng lên, thì anh ta đã có thể diệt liền, nhưng... bao nhiêu tính toán đều vô ích. Trong chớp mắt, cọp nhảy tới quất đuôi một cái, tha anh Bính đi mất hút.


Cái tin ấy được cấp báo về nhà – ông Sáu Thiền kể tiếp – ông nội tôi tức giận không để đâu cho hết. Ông nội tôi lẩm bẩm: “Lại con cọp thọt rồi”. Và ông tôi nằm hút thuốc phiện cả đêm để nghĩ cách diệt trừ con thọt. Thì hôm sau, có tin một người thổ dân vào rừng, lấy móc để móc măng le, lại bị con thọt nó vồ ăn trọn cái mình, chỉ còn lại cái đầu. Rồi hôm sau nữa, lại có cái tin một bọn ba người nằm ngủ trong một căn nhà ở Lô Mang, nửa đêm có một người ra đi tiểu, lại bị con thọt tha đi nữa. Tại sao lại biết là con thọt?


Là vì sau khi các tai nạn xảy ra, người ta xem dấu còn lại ở trên mặt đất thì chỉ thấy có ba vết chân thôi. Người ta đoán rằng ông cọp ác ôn này hoặc đã bị bẫy, hoặc đã bị bắn, hoặc đã gặp tai nạn gì khác không biết, què mất một chân nên nó bị thọt. Do đó, nó đến đâu chỉ để lại ba vết chân rõ rệt, còn một vết thì lờ mờ, có khi không thấy nữa.


Tức giận không để đâu cho hết, ông tôi bố trí người ở chung quanh truông Mít, đánh thanh la não bạt để cho cọp chạy ra, nhưng lạ lùng thay, hành động như thế cả năm, sáu ngày rồi mà chỉ thấy con cọp thường trốn chạy, chứ tuyệt nhiên không thấy con thọt đâu.


Thế rồi một hôm ở Châu Rai, người ta thấy một con bò rừng cao lớn nghênh ngang, không biết từ đâu chạy về lăn ra chết ở bên ngọn suối. Dân làng chạy ra coi thì ở lưng con bò có lốt bàn tay cọp tát. Đồng thời, những người đi rừng lấy nấm và măng le cho biết một chuyện rừng hết sức lạ: một cây vàng anh lớn bốn năm người ôm không xuể bị tét ra ở giữa, thân cây có một lỗ hổng dài và lớn, mà trong cái lỗ đó lại lòi ra một bàn tay cọp có dính máu đã đông đặc lại.


Cả mấy ngày không ai hiểu ra sao. Mãi sau, có người đoán như thế này: cái bàn tay cọp tòn teng trong cái lỗ hổng trên cây vàng anh nọ là tay con cọp thọt. Nó giữ nó bám một tay vào đó, chờ cho con bò rừng đi qua táp một cái và quặp chặt lấy, định lôi đi như lôi một người. Bất ngờ con bò rừng mạnh quá, cứ chạy không ngừng lại, do đó lôi con cọp đi theo. Nhưng con cọp không chịu, một tay cứ bám vào cây vàng anh, một tay cứ giữ chặt lấy con bò rừng. Con bò rừng đương hăng máu, vận dụng hết lực kéo đi, con cọp rách mất bàn tay bám vào cây, mà con bò thì chạy về được đến suối Kha mới chết...


Mà chắc con cọp cũng chết luôn – người ta đoán như thế – vì đã có tới cả tháng nay, không ai thấy bóng dáng con thọt đâu. Nhưng nó chết thì xác nó đâu? Người ta nghi ngờ nhưng sau đành phải tạm chấp nhận là vợ con thọt đã tha xác chồng nó giấu vào hang hóc nào rất kín.


Lý thuyết ấy cũng tin được phần nào. Là vì từ khi vắng bóng con thọt thì truông Mít hằng đêm nổi lên những tiếng gầm thét long trời lở đất. Người ta bảo đó là tiếng con cọp cái nhớ chồng mà có lẽ lại còn ngờ rằng loài người đã giết chồng nó cũng nên, bởi thế không những nó gầm thét mà lại còn làm dữ nữa, đêm đêm về phá phách hoa mầu, giết hại những người đi đường và cả những người ở trong nhà, bất kể là có đèn đuốc sáng trưng.


(còn tiếp)


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học, 2002.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người đàn bà nghe nhạc đêm - Lưu Thị Mười 19.11.2017
Như vạt rêu ngoài suối - Kiều Duy Khánh 05.11.2017
Nhà số “100Big” - Y Mùi 17.10.2017
Nơi bão đi qua - Trịnh Bích Ngân 17.10.2017
Mụ Tân - Y Mùi 12.10.2017
Người tử tế - Y Mùi 12.10.2017
Vương quốc mộng mơ - Nguyễn Trường 23.09.2017
Yêu rừng như yêu đời - Triệu Xuân 01.09.2017
Nắng chiều - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Lầu 3 Phòng 7 - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
xem thêm »