tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20773831
Tiểu thuyết
10.12.2012
Hà Văn Thùy
Nguyễn Thị Lộ

 - Chúng ta gặp nhau từ lâu lắm rồi, nàng nhớ không? 


   - Thưa bệ hạ, từ đêm Thánh tiết…


   - Không, không phải vậy, từ lâu, lâu lắm rồi… Nhà vua trẻ đăm đắm nhìn nàng. Nàng cúi mặt e lệ. Nhà vua đứng dậy, tay chắp sau lưng bước những bước ngắn theo một vòng tròn mà nàng là tâm điểm… Ta nhớ vào một chiều mùa đông, có một đứa bé được nuông chiều vẫy vùng trong bồn tắm nước nóng hương thơm ngào ngạt. Tắm táp kỳ cọ cho đứa bé là một cô tiên tuyệt vời dịu dàng và xinh đẹp. Đứa bé nhìn cô tiên như bị hớp hồn. Tắm xong, ôm đứa bé vào lòng, cô tiên lau khô nó bằng chiếc khăn bông mềm. Trong lòng cô tiên, đứa bé ngước nhìn khuôn mặt thần tiên thật gần. Cô tiên đẹp mê hồn. Từ cô tỏa ra mùi hương quyến rũ cũng mê hồn. Đứa trẻ nghịch ngợm luồn tay vào trong yếm đào, mân mê bộ ngực rồi còn tinh nghịch hơn, nó vạch yếm để lộ ra bầu vú trắng ngần. Mũi cô tiên khẽ nhăn lại làm xấu và cô tiên nhẹ đẩy tay đứa bé. Quần áo mặc xong, đứa bé vô tư chạy vội đi theo tiếng gọi nào đó… Không hiểu sao cô tiên trở nên ám ảnh với đứa trẻ. Suốt tuổi thơ nó là cuộc kiếm tìm. Nó tưởng đó là mẹ ở xa về với nó. Nó cũng nhìn thật kỹ và tìm mùi thơm từ những bà phi những cô cung nữ luôn chiều chuộng bế ẵm nó. Không phải, nó hiểu, không có ai như vậy cả! Cuộc tìm kiếm làm nó mỏi mòn trong sự khắc khoải. Rồi tới lúc nó chợt nghĩ, hay đó chỉ là giấc mơ, cô tiên không có thật? Và rồi nó yên tâm đó là giấc mơ. Nhưng có những lúc, không chịu yên như thế, nó lại nghĩ mùi hương là thật, da thịt ấm nóng là thật, bộ ngực tròn đầy là thật. Và nó không chịu yên… Suốt tuổi thơ, nó đi tìm giấc mơ của mình. Cuộc kiếm tìm khắc khoải đến đau đớn. Khi lớn lên, va chạm với cuộc đời, giấc mơ phai mờ dần chìm vào quên lãng… Nàng biết không, ta là đứa bé tội nghiệp ấy. Suốt tuổi thơ ta tìm kiếm giấc mơ của mình, nàng tiên của mình. Cuộc kiếm tìm vô vọng khiến ta mệt mỏi. Rồi một hôm, đúng vào ngày sinh thứ mười bảy của mình, ta gặp nàng và ngay lúc đó nhận ra giấc mơ xưa... Nàng chính là cô tiên ngày ấy!


     - Thưa bệ hạ, người nhầm rồi, chưa bao giờ…


     - Đừng, đừng ngắt lời ta! Ta mà lầm sao? Nàng dối ta sao nổi! Chính là nàng. Đôi mắt ta nói với ta thế. Trái tim ta nói với ta thế và hơi thở cũng nói với ta như thế. Cô tiên đó chính là nàng. Ta trách mình sao không tìm lại nàng sớm hơn? Nhưng ta lại nghĩ, phải chăng số phận đã nuông chiều ta, cho ta gặp lại nàng vào lúc này, lúc mà cả ta và nàng cùng vào độ chín!


   -  Thưa bệ hạ, người nhầm rồi, thiếp chưa bao giờ tắm cho bệ hạ…


   -  Oi, nàng nỡ cay nghiệt với ta thế sao? Nàng nỡ đùa bỡn với tình cảm chân thành của ta thế sao? Nàng chẳng bao giờ hiểu được tình cảm của ta đâu! Với nàng, đó chỉ là chuyện bình thường, một lần vào cung thăm thú rồi nhân đấy tắm táp cho một ông vua con, một chàng hoàng tử bé tẹo mà chàng hoàng tử tí xíu ấy lại là đứa bé con tinh nghịch đáng ghét… Nhưng với ta, đó là một hạnh phúc, một nỗi nhớ suốt đời. Khuôn mặt nàng tiên, hơi thở nàng tiên hôm đó như là khuôn mặt thân yêu của mẹ ta mà ta đánh mất không bao giờ tìm lại được nữa… Nàng biết không, nàng chính là cuộc sống của ta! Nàng biết không, trước hạnh phúc lớn lao được gặp nàng, ta bỗng sợ! Ta linh cảm thấy một điều gì ghê gớm: Tai họa sẽ đến theo hạnh phúc tròn đầy!


   - Tai họa? Thưa bệ hạ!


   - Phải, tai họa! Ta đã lường trước tai họa. Nhưng rồi ta hiểu, chẳng tai họa nào lớn bằng tai họa khủng khiếp là ta lại mất nàng lần nữa! Vì vậy ta hiểu chẳng gì có thể chia cắt được ta với nàng!


   - Thưa bệ hạ, ngày ấy bệ hạ còn quá trẻ mà bây giờ thiếp lại quá già!


   - Quá già? Nhà vua dừng lại, đưa tay nắm lấy bàn tay nàng giá lạnh, ấp vào nơi có trái tim mình. Ta hỏi nàng, trăng có già không? Nàng sẽ trả lời ta là không chứ gì? Thì nàng ơi, nàng cũng vậy, nàng chả bao giờ già cả! Chính lúc này đây là lúc tròn đầy viên mãn nhất của vầng trăng nàng. Còn ta, cũng là lúc ta trưởng thành. Cảm ơn Trời cho ta gặp lại nàng đúng lúc này!


  - Thưa bệ hạ, nhưng thiếp yêu Nguyễn Trãi !


  - Trẫm không nghi ngờ điều đó. Nàng đã yêu Nguyễn Trãi và vẫn còn yêu. Nếu là nàng, ta cũng yêu Nguyễn Trãi. Ai cưỡng nổi tình yêu với Ức Trai? Ta yêu Ức Trai và ta ghen tị với Nguyễn Trãi. Ghen tỵ với tài trí của người, ghen tỵ với đức độ của người và càng ghen tỵ với tình yêu của người! Hai mươi năm trước, giữa lúc bơ vơ trong cuộc đời, Nguyễn Trãi gặp nàng rồi sau đó nàng cùng người đến Lỗi Giang làm nên một trong những thiên tình sử giầu ý nghĩa nhất của Đại Việt. Ta hiểu tình yêu của nàng không chỉ gợi hứng cho những thi tứ trác tuyệt của Ức Trai mà chính tình yêu đó góp phần làm nên tâm hồn, làm nên cuộc sống của Nguyễn Trãi. Nhưng lẽ nào trong lòng nàng không có chút gì dành cho ta sao?


    - Thưa, thiếp kính trọng bệ hạ!


    - Kính trọng! Ta cần gì thứ tình cảm vô bổ ấy? Cái ta cần là tình yêu của nàng!


    - Thưa, tất cả tình yêu của thiếp đều là của Nguyễn Trãi. Làm sao thiếp có thể cho bệ hạ cái mà thiếp không có? Hai mươi năm nay, hình ảnh người đàn ông duy nhất trong thiếp là Ức Trai. Với bệ hạ là sự kính trọng đấng quân vương tài trí.


   Nhà vua nổi nóng:


    - Đấng quân vương? Nàng giễu cợt ta sao? Nàng chọc tức ta sao? Nàng có biết chọc giận chúa sơn lâm hậu quả sẽ ra sao không?


  - Xin thánh thượng tha tội, Thị Lộ quỳ xuống dưới chân nhà vua, xin bệ hạ nguôi giận, thiếp chỉ nói thật lòng! Sự giận dữ của đấng quân vương có thể gây ra giông bão nhưng thiếp chắc là không thể làm nên tình yêu!


   Như đang cơn mê chợt tỉnh, nhà vua sững lại, ngây người ra. Không nói không rằng ngài lặng lẽ bỏ đi, hình như miệng lẩm bẩm điều gì…


 


                                   *


                               *      *


 


   - Có cách nào khanh chấn chỉnh hậu cung của trẫm? Làm mặt giận, nhà vua hỏi Thị Lộ vào một buổi chiều như tình cờ gặp nàng trên hành lang.


   - Thưa bệ hạ, mọi sự chấn chỉnh không qua sự học. Muốn thuần nhu, cung nữ phải được học. Có nhiều thứ phải học nhưng để thiết thực nên có học chữ, học nhạc, học múa, học nữ công, học lễ, cũng còn phải tập thể hình cho con người khỏe mạnh. Thần đã phân ra từng nhóm để ai cần gì cho học trước thứ đó. Ban đầu, thần xin bệ hạ cho một số học quan để giúp thần. Sau đó thần sẽ dùng những người học lớp trước dạy lớp sau…


   - Được, trẫm chuẩn tấu. Vẫn với vẻ mặt giận, nhà vua nói mà không nhìn nàng.


    Đúng là cái hờn giận con trẻ, nàng nghĩ, hờn giận của đứa trẻ được nuông chiều. Tuy chưa bao giờ làm mẹ nhưng thiên tư người mẹ trong nàng mách bảo rằng, đứa trẻ bướng bỉnh này trong khi giận đã không giấu nổi tâm trạng của mình. Là phụ nữ, nàng thật dễ chịu khi cảm thấy mình có một uy lực quy phục cả đến bậc quân vương. Lòng tự ái đàn bà được vuốt ve, nàng cảm thấy trong vòng vây tình ái của ông vua trẻ cũng có cái thú vị! Mà tình ái là gì nhỉ, nàng nghĩ. Tình của mình với Ức Trai có phải là tình yêu? Lần đầu tiên nàng nghĩ về nó với vẻ nghi ngờ. Nàng chẳng biết nữa! Nàng chỉ nhớ đấy là buổi chiều mưa xuân rây rây trên phố phường. Nàng đi sau chiếc xe kéo trên đường giao chiếu cho khách trở về qua chùa Quán Sứ thì nhận ra có người đi theo. Một người nho nhã, ra khỏi chùa, bước đi khoan thai như người đi dạo. Người đó theo nàng về tới cửa hàng chiếu của nàng bên bờ Hồ Tây. Chàng lân la mua chiếu rồi hỏi chuyện, sau đó ứng khẩu đọc bài thơ. Chưa biết chàng là ai, nàng họa lại, trong đó mang chút đáo để của dân kẻ chợ... Lần sau chàng đến, nàng nói về bài thơ của chàng… Nàng biết chàng đã có vợ có con, nàng còn biết chàng là văn nhân nổi danh chốn kinh thành. Chàng đến với nàng như số phận, như nhân duyên tự bao giờ. Rồi nàng theo chàng vào Thanh cùng nghĩa quân, đi suốt những năm kháng chiến… Chàng là thần tượng của nàng, là cuộc sống của nàng. Không biết cuộc sống khác, không biết tình yêu khác nên mối tình của nàng là duy nhất, không nặng xác thịt mà phảng phất hương hoa, đạm, thanh mà sâu sắc. Quen dần với tình cảm, với cách sống của chàng, những ham muốn tự nhiên trong con người nàng cũng dịu lắng đi, không còn là đòi hỏi bức thiết. Nàng chấp nhận tự nhiên như mọi việc bình thường khác trên đời. Nhưng giờ đây, bên chàng trai vương giả đầy đam mê, nàng bỗng thấy sự đời không giản đơn như mình nghĩ. Nàng nhận ra những nhu cầu của thân thể mình vẫn còn đấy, không mai một, nó chỉ ngủ quên đi. Những cái nhìn đắm đuối của chàng trai mười tám khát khao và bạo liệt dường như đánh thức bản năng yên ngủ trong nàng… Và điều đó khiến nàng khắc khoải buồn lo.


   - Vì sao nàng buồn? Nhà vua hỏi. Phải chăng trẫm có gì không phải với nàng? Nàng buồn khiến trẫm đau lòng nàng biết không?


  - Thưa bệ hạ, thiếp nhớ Nguyễn Trãi. Thiếp ở đây mà chàng mãi nơi góc bể chân trời, vò võ một mình, không ai chăm sóc! Thiếp và chàng chưa bao giờ xa nhau, ngay cả những ngày gối đất nằm sương trong rừng núi Lam Sơn…


  - Khanh sợ phu quân không người chăm sóc? Vậy thì trẫm ban cho Lê Trãi một cung nữ để thay khanh hầu hạ ông ta! Khanh thấy sao?


  - Đa tạ bệ hạ nhưng thiếp không dám lạm ơn của người!


  - Nàng đừng ngại, ta sẽ làm tất cả miễn sao nàng vui!


                                      *


                                  *      *


 


     Dù chưa bằng lòng với Nguyễn Thị Lộ nhưng vua Thái tông sớm nhận ra từ khi nàng vào cung, hậu cung có sự thay đổi. Quả thật nhà vua đôi khi thấy ngán cái cảnh hàng lũ đàn bà suốt ngày ngắm vuốt chưng diện, ngồi lê đôi mách, bài xích ganh ghét nhau rồi hằng đêm phấn son lòe loẹt chờ đón ân sủng từ chàng. Cuộc sống như vậy thật nhàm chán vô vị, nó làm con người tầm thường, ngu độn đi… Từ khi có nàng, chàng nghe trong cung rộn rã tiếng học tam tự, ngũ tự kinh, rồi tiếng hát, tiếng đàn, nhịp phách. Một không khí vui tươi yêu đời chưa bao giờ chàng thấy. Khi trao cho nàng việc dạy cung nhân, chàng hỏi: Nàng làm bằng cách nào? Nàng nói, bệ hạ nghe chuyện Tôn tử luyện quân rồi chứ? Rồi nàng kể, Tôn tử sang Ngô, vua Hạp Lư hỏi: Khanh có thể dạy cung nữ của trẫm đánh giặc được không? Tôn tử bảo được và vua giao cho cầm đội quân một trăm cung nữ. Tôn tử chia họ thành hai đội, lấy hai cung nhân được vua yêu nhất dẫn đầu. Sau khi ra lệnh ai tập không nghiêm sẽ bị chém, Tôn tử bắt đầu cho đám con gái tập quay trước quay sau. Các cung nữ thấy lạ, chẳng ai chịu tập, chỉ bụm miệng cười. Hai người cung nữ đội trưởng ỷ thế được vua yêu cũng tưởng chuyện đùa vì nghĩ rằng vua không bắt tội mình. Tôn tử bắt hai người đội trưởng đem chém, vua Ngô xót người tình đứng ra xin cũng không được. Ngay sau khi hai người đội trưởng bị chém, các cung nữ khác sợ khiếp vía, đội quân con gái nghe lệnh răm rắp… Không có tài như Tôn Trường Khanh nhưng thiếp biết rằng tình cảm sẽ thuyết phục được họ, chỉ mong bệ hạ giúp thiếp. Quả thật, chỉ bằng tình cảm như chị em, mẹ con, bằng những lời khích lệ cùng phần thưởng nhỏ, nàng đã động viên được mọi người.


 


  Chương Ba.  


Những ngày Côn Sơn mùa đông năm Kỷ Mùi là những ngày rất dài với quan Hành khiển Nguyễn Trãi. Việc quan nhàn, ông vui cùng cây cỏ nhưng những ngày đông này cây cỏ tàn lụi cả vì không chịu được rét giá. Với ông càng giá rét hơn vì nàng đã ở lại cung. Hơn hai chục năm qua đây là lần đầu ông sống xa nàng. Sự xa cách này làm cho cuộc sống của ông đảo lộn, một trạng thái thực khó khăn với một ông già. Đọc sách mệt rồi, làm thơ chán rồi, tự nhiên ông muốn duyệt lại những ngày tháng qua.


   …Giấc mộng công danh của ông với nhà Hồ như lâu đài vừa được dựng lên bỗng tan thành cát bụi. Cha bị tù tội rồi chết vùi nơi đất Bắc, đời ông phải mười năm giam lỏng ở thành Đông Quan, lòng nung nấu chí cứu nước. Lúc đó nhiều người dựng cờ khởi nghĩa, Trần Quý Khoáng rồi nhóm Lam Sơn, những nhóm người thiểu số miền Thượng… Quý Khoáng có danh nghĩa nên hợp lòng người nhưng trong thâm tâm, ông nghĩ, danh nghĩa ấy suy cho cùng chỉ là danh hão. Suốt một đời vua Nghệ tông làm được gì ngoài việc từng bước đưa nhà Trần đến diệt vong. Một ông vua nhu nhược hẹp hòi. Những người tài năng như thân phụ ông thì chỉ vì tội lấy con hoàng tộc mà bị bỏ không dùng, trong khi đó giết cả con mình để làm vừa lòng gian thần. Cái họa mất nước chính từ ông ta mà ra rồi sau lại mê muội đến mức ngây ngô bày ra việc tặng tranh tứ phụ rồi hội thề Đồng Cổ! Số nhà Trần đã hết. Không theo Quý Khoáng nhưng ông cũng không vồ vập theo ngay Lê Lợi mà tỉnh táo nhìn xem bàn cờ thế sự.


     Hồ Quý Ly là người thế nào? Nhiều lúc Nguyễn phân vân tự hỏi. Tuy mang ơn sâu với nhà Hồ nhưng trong thâm tâm ông không phục. Mưu lược ư? Canh cải ư? Có tất cả đó nhưng để được cái gì? Sự mưu lược, canh cải phải sao cho kết quả! Họ Hồ có khác nào kẻ tự châm lửa đốt nhà mình. Học Tào Tháo thói gian hùng nhưng so với Tào thì Hồ chỉ là đứa trẻ! Tào hơn Hồ không chỉ mưu lược mà còn hơn hẳn ở chữ nhẫn. Biết thời cuộc, Tào không cướp ngôi nhà Hán. Còn Hồ thì vì quá ham hố vội nhảy lên ngai vàng! Không xứng anh hùng, họ Hồ cũng chẳng phải người đảm lược, rời bỏ sức vạn người là lòng dân để dựa vào cái thành đá Tây Đô. Trong tình huống đất nước ngàn cân treo sợi tóc lúc đó, cái phép thần giữ được nước là lòng dân. Chiếm nước của nhà Trần, họ Hồ làm tan rã ý chí chiến đấu của Đại Việt. Đắp Tây Đô lại là sai lầm hủy hoại chút sức lực cuối cùng của đất nước, mở sẵn cửa cho giặc Minh vào giày xéo. Kết cục là nước mất, thân tù! Cái kết cục bi hài của nhà Hồ khiến Nguyễn nhìn rõ hơn về thời cuộc. Có người khen họ Hồ táo bạo muốn canh tân đất nước, cải cách hành chính, tiền tệ, đổi mới văn tự… Nhưng hơn cả những cải cách ấy là con người! Họ Hồ đã sai lầm khi hy sinh con người hy sinh đất nước cho ý tưởng phiêu lưu của mình! Nhà Trần đã lỗi thời nhưng sự quá khích của nhà Hồ còn nguy hiểm gấp bội! Phải tìm con đường khác… Trong những ngày bị giam lỏng ở Đông Quan ấy, Bình Ngô sách từng trang một ra đời.


    Vào một ngày cuối năm, ông cùng Nguyên Hãn và Thị Lộ trốn khỏi Thăng Long vào Lam Sơn. Nhận Bình Ngô sách, Bình Định vương vui hơn người bắt được của. Bởi lẽ, trước khi ông xuất hiện, phong trào Lam Sơn chỉ là cuộc dấy loạn của nhóm nông dân bất bình với quân đô hộ. Tuy có ít nhiều đọc sách nhưng binh pháp mà Lê Lợi học được chỉ là những chiến thuật hành quân, phục kích, vây thành chém tướng mà thiếu một chiến lược bao quát cho toàn cuộc. Lê Lợi thông minh, đáng măt thủ lĩnh chính vì biết cái thiếu cái sở đoản của những người nông phu Lam Sơn mà vồ vập chiến lược bình Ngô của ông. Cùng với sách lớn ấy, ông cũng dùng một tiểu xảo để thu phục lòng người: cho người tâm phúc lấy mỡ viết lên lá cây tám chữ Lê Lợi vi quân Nguyễn Trãi vi thần. Kiến thấy mỡ kéo đến ăn, làm vết mỡ nổi lên thành chữ. Lá rụng xuống suối, nước suối đưa đi xa, nhiều người nhặt được truyền nhau đọc rồi một đồn mười, mười đồn trăm… Tin vào chân mệnh thiên tử của chúa Lam Sơn, người theo nghĩa quân đông như trẩy hội. Những ngày kháng chiến tuy gối đất nằm sương nhưng với ông là những ngày tuyệt vời hạnh phúc vì tài ông được dùng, vì chí ông được thỏa. Ong chỉ sau nhà vua trong những quyết định đại cuộc. Với một người quân tử thì đó là hạnh phúc không gì sánh nổi. Thêm vào đó, ông còn có Thị Lộ và bên cạnh là người em thân thiết Trần Nguyên Hãn…


                                   *


                                *      *


 


  Mùa xuân năm Thuận Thiên thứ nhất là mùa xuân thái bình. Sau Hội thề, ngày mười hai tháng Chạp bọn Mã Kỳ, Phương Chính tới Dinh Bồ Đề tạ vua rồi hai cánh thủy bộ kéo về Bắc. Sáng ngày mười tám, sau một đêm uống ruợu trò chuyện thân tình với Bình Định vương, Tổng binh Vương Thông nhận trâu, dê, trướng hồng vua tặng rồi dẫn toán quân cuối cùng rời Thăng Long. Đất nước sạch làu bóng giặc. Không kẻ nào còn dám dòm dỏ bờ cõi. Bốn biển yên lành. Cái nền thái bình bền vững hơn lại ở lòng người. Hai mươi lăm vạn quân giải ngũ trở về sum họp gia đình, nhiều thứ thuế được tha được giảm, đám cường hào thường đè nặng cuộc sống người dân bị pháp luật chế tài, trường học mở khắp nơi, chiếu cầu hiền đến tận thôn cùng xóm vắng mong tìm người tài giúp nước. Non sông Đại Việt bước vào vận hội mới.


    Từ Dinh Bồ Đề, triều đình vào thành Thăng Long tổ chức cho dân ăn cái tết độc lập đầu tiên tuy còn nghèo còn khó nhưng thật vui vẻ tưng bừng. Tháng Hai mở Đại hội tuyên dương công trạng các công thần. Rằm tháng Tư vua lên ngôi…


    Mười năm, mười năm rồi, nhà vua nghĩ, mười năm gối đất nằm sương, mười năm xông pha mưa tên bão đạn. Không ngờ cuộc kháng chiến lâu dài đến thế. Một điều chưa từng có trong Nam sử. Đức Triệu Vũ đế xưa sáng nghiệp là do thời, lúc nhà Tần tao loạn, nhân cơ hội cướp quân chiếm đất xưng đế xưng vương. Đinh Tiên hoàng đế thống nhất các sứ quân bằng những trận đánh nhỏ rồi Lý rồi Trần nối nhau vương triều nọ qua vương triều kia chỉ là sự chuyển tiếp bằng cuộc đảo chính cung đình. Mình từ tay trắng dấy nghiệp trong lúc bĩ cực nhất của thời cuộc. Dân chúng bị đàn áp bị bóc lột đến tận cùng, cường giặc lập ra chế độ cai trị cực kỳ hà khắc, bọn tay sai mọc lên như nấm độc mong vinh thân phì gia… Từ buổi đen tối ấy cho đến đại định hôm nay là sự nghiệp to lớn tưởng như con người không làm nổi! Vốn là người chất phác không ưa mơ mộng nhưng trong đêm cuối xuân mát mẻ này, nhà vua cho phép mình phiêu diêu nghĩ về những tháng năm cũ, lòng thầm tự hào về công lao hiển hách với sử xanh. Trong phút giây lâng lâng hạnh phúc, nhà vua nao nao cảm thấy niềm vui của mình chưa tròn đầy, hình như còn có điều gì đó vương vướng. Cái gì nhỉ? Ngài tự hỏi rồi lúc sau nhận ra, đó là tờ biểu xin trí sĩ của quan Tả tướng quốc Lê Hãn. Bài biểu đọc mấy lần khiến nhà vua gần như thuộc: “Nhờ hồng phúc của bệ hạ, thần lập được chút công lao. Được bệ hạ quá yêu, đặt thần giữ vị trọng. Ơn tri ngộ quá to thần nhận mà run. Nhưng nghĩ mình chỉ là kẻ võ biền đức mỏng tài hèn, có thể làm được vài việc trong thời chiến, biết đâu chẳng làm hỏng việc của bệ hạ lúc thái bình. Chí ít cũng là ngồi choán chỗ của những người tài trí, thần lấy làm hổ thẹn. Thần muốn được thả mình về đồng nội là nơi quen thuộc để có thể thờ bệ hạ bằng những công việc khác mà thành quả chẳng kém gì những trận Phú Xuân, Xương Giang xưa…”


   Trong thâm tâm nhà vua mừng khi nhận tờ biểu nhưng sau nỗi mừng ấy lại là sự hụt hẫng: “Ngươi dám coi thường ân huệ của ta sao?”  Khi cảm thấy quyền uy của mình không còn tuyệt đối nữa là nỗi buồn xâm chiếm tâm trạng nhà vua. “Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược! Nhà vua bật nói thành lời. Ta xuống chiếu cầu hiền mà kẻ đứng đầu bách quan của ta, vị tướng lĩnh giỏi nhất của ta lại bỏ ta ra đi! Thiên hạ sẽ nghĩ thế nào? Ngươi toan tính chuyện gì đây?” Đứng dậy bước từng bước ngắn trên nền điện lát gạch hoa, ngài đưa tay vỗ vỗ vào vầng trán rộng vững chãi: “Nhớ ra rồi, nhớ ra rồi, việc này có gì giống với viên phán quan họ Trần nào đó, vừa thắng giặc xong thì xin nghỉ, khi ta định xét ban công trạng y liền gọt đầu đi tu rồi trốn biệt? Gã là tay vô danh tiểu tốt đã đành, còn đây là một đại công thần! Dù có thế thì vuốt mặt cũng cần nể mũi, hắn bỏ đi đúng vào những ngày này! Phải chăng hắn xem thường ta quá?” Nghĩ tới đây người bất giác nắm chặt tay giận dữ.


 


                                    *


                                *       *


 


     Trăng thượng huyền soi chênh chếch, tỏa ra thứ ánh sáng xanh mát dịu. Gió hiu hiu thổi. Trên bàn đá tròn đăt giữa đình thưởng nguyệt, ngọn hồng lạp cháy lung linh, chiếc mâm thau sáng bóng có mấy món nhắm nhẹ, nậm ruợu và hai chiếc chén ngọc. Bọn quân hầu ra ngoài cả, chỉ còn lại nhà vua và Tả tướng quốc Lê Hãn ngồi đối diện trên những chiếc đôn hình con voi. Nhà vua thân rót rượu vào chung mời tướng quốc :                                      


    - Khanh uống đi. Đêm nay ta muốn cùng khanh uống thật say!


    Lê Hãn đưa chung rượu lên ngang mặt: kính mời bệ hạ! Uống xong ly rượu, đặt chung ngọc xuống bàn, nhà vua nói:


   - Khanh nghĩ sao về việc tuyên dương công thần vừa qua?


   - Dạ, thưa, bệ hạ đã công bằng. Nhìn nhà vua, Hãn từ tốn nói.


   - Theo ý khanh như vậy là công bằng sao?


   - Thưa, công bằng. Công thần làm nên cuộc đại định hôm nay chủ yếu là người xứ Thanh, những người theo bệ hạ từ đầu. Họ được công cao là phải lẽ nhưng những kẻ đến sau, mà công lao cũng không có gì đặc biệt như chúng thần mà vẫn được dự vào hàng công huân, chứng tỏ bệ hạ có tấm lòng trời biển ưu ái, không phân biệt. Chúng thần lấy làm cảm kích.


  - Khanh nghĩ sao về trường hợp Lê Trãi? Nhà vua nhìn Hãn thăm dò. Có người cho rằng trẫm đối với Trãi còn hẹp, chưa xứng với công lao,  tài trí của ông ta!


   Sau lúc trầm ngâm suy nghĩ, Hãn thưa:


     - Quả cũng có ý như vậy. Trãi tuy không chiếm thành bắt tướng nhưng cái mưu Trãi giúp cho thánh thượng thì khó ai bằng. Nhìn về sau nữa, nếu được ở địa vị cao, đứng đầu bách quan, lại được tin dùng thì tài của Trãi ích lợi cho nước nhà nhiều lắm!


    Nhà vua nheo nheo mắt nhìn thẳng vào mặt Nguyên Hãn như xoi mói trong khi cân nhắc từng lời của vị công thần. Sau lúc lặng đi suy nghĩ, ngài nói bằng giọng chân thành:


   - Khanh nói không sai. Người ta cũng nói với quả nhân như vậy! Các khanh không biết rằng ta quý ta trọng Trãi tới mức nào! Khanh biết đấy, bản nhiên ta đâu muốn làm vua, ta chỉ mong cuộc sống yên ổn. Vì vậy, ta vét bao của cải đút lót cho Trương Phụ mong được yên thân. Nhưng chúng như hổ đói, bao nhiêu cũng không đầy túi tham, truy bức ta, ép ta đến cùng. Trước cái sống và cái chết, ta buộc phải vượt qua cái chết để tìm cái sống. Ban đầu, ta chỉ biết đánh, bằng mọi cách để thắng từng trận. Nhưng thế giặc mạnh khiến nhiều phen sự nghiệp cũng như tính mệnh ta như ngàn cân treo sợi tóc. Từ khi Trãi đem Bình Ngô sách đến với ta, ta như  người trong rừng rậm bước ra đường quang, như trời vén mây mù cho ta nhìn toàn cảnh trước mặt… Từ đó những mưu Trãi hiến đều được ta dùng. Cái mưu cho Vương Thông cầu hòa một phần cũng nhờ Trãi mà có. Giữa trăm tướng ham công sát khí đằng đằng, giữa đám dân chúng sôi sục hận thù muốn ăn gan uống máu giặc mà đưa ra kế sách hòa hiếu nào có dễ gì? Chính lời của Trãi làm nghiêng cán cân quyết định của trẫm. Và càng ngày trẫm càng thấy kế hay. Việc cho dựng tháp cao ở Bồ Đề rồi cho Trãi ngồi quan sát giặc trong thành là cần thiết cho công việc nhưng cũng một phần cho quần thần thấy vai trò của Trãi. Đó cũng là cách để trẫm dùng Trãi sau này… Nhưng khanh biết không, khi cân nhắc lại hơn thiệt mọi điều, trẫm thấy không thể dùng Lê Trãi hơn được. Khanh hiểu sao không?


   - Thần xin thánh thượng chỉ giáo!


   - Khanh nghĩ coi, bây giờ nếu đặt Trãi vào vị trí thái tể, tất nhiều người không phục vì họ là người đến với trẫm từ đầu, lại là số đông, có công chiếm thành chém tướng. Việc này đã khó rồi về lâu về dài càng khó hơn vì ở vị trí đó, Trãi sẽ thực thi những chính sách không được lòng các công thần, lúc đó triều đình khảng tảng, tạo nên mối họa chia rẽ! Chính vì cân nhắc đến mọi lẽ, trẫm đành phải để Trãi ở vị trí hiện thời. Mong sao sau này tình hình thuận hơn, có thể dùng được Trãi!


  - Thần hiểu, thưa bệ hạ!  


  - Khanh hiểu trẫm như thế thì tốt. Bây giờ nói chuyện về khanh đi! Trẫm đã đọc biểu xin trí sĩ của khanh. Khanh viết khéo đến làm trẫm cảm động. Những lý do khanh đưa ra đều khó bề bài bác… Dường như do dự lắng lại một chút, vua nói tiếp, trẫm hỏi thực khanh, liệu còn lý do nào khác nữa chăng?


   - Dạ thưa, đấy là tất cả lòng thành của hạ thần, ngoài ra không còn lý do nào khác nữa!


   - Vậy là khanh chưa thực lòng với trẫm rồi! Lê Lợi nhìn người võ tướng cao lớn, khuôn mặt phương phi, lông mày xếch, mắt sáng rờ rỡ khiến ông cũng cảm thấy nể trọng. Thôi để trẫm nhắc khanh vậy! Chẳng phải vì “Nhà vua có tướng như Việt vương, không thể cùng sung sướng được” sao? Nguyên Hãn cúi đầu và ông như còn nhìn thấy ánh nhỡn quang từ mắt nhà vua xoáy vào gan ruột mình. Lặng im hồi lâu rồi ông trầm tĩnh nói:


   - Tâu bệ hạ, nhân tướng là những nét thiên phú khắc họa lên diện mạo lên hình hài con người, không giấu được. Với các bậc quyền quý, người ta càng xem tướng kỹ hơn. Xem cho biết để rồi thờ rồi nhờ cậy, để yêu ghét, gần gũi hay xa lánh… Nhân tướng của bệ hạ nhiều người thấy nhưng không ai dám nói, đúng hơn, họ chỉ nói những nết tốt để lấy lòng bệ hạ. Thần là kẻ võ biền thô lậu, trong lúc vui chén rượu có buột miệng nói với người xung quanh vô tình xúc phạm thiên nhan. Bệ hạ không bắt tội là phúc lớn của thần nhưng chính là ở đức nhân của bệ hạ. Nét tướng ấy của bệ hạ là có thật nhưng sở dĩ thần vẫn theo phò bệ hạ là do bệ hạ có nhiều đức tốt khác: mắt sáng, mồm rộng, sống mũi cao, xương mi mắt gồ lên, bước đi như rồng như hổ, tiếng nói tựa chuông ngân… Đấy là tướng của bậc đế vương. Nhưng thưa bệ hạ, tướng cũng không phải là cố định bởi như sách tướng viết: tướng tùy tâm sinh, tướng tùy tâm diệt, từ đó đến nay nhân tướng của bệ hạ cũng biến đổi nhiều, nhất là việc bệ hạ mở lòng khoan dung tha chết cho hơn hai chục vạn quân Ngô, lại cấp ngựa cấp thuyền cho chúng về nước, cái lòng nhân đã động đến trời đất. Đối với kẻ thù còn thế, lẽ nào với công thần? Vì vậy, những gì thần tâu cùng bệ hạ đều là tự lòng thần!


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Thị Lộ. Tiểu thuyết lịch sử của Hà Văn Thùy. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
xem thêm »