tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21316143
Tiểu thuyết
08.12.2012
Nguyễn Nguyên Bẩy
Linh hồn lang thang

- Mày sa đọa tận cùng rồi.


- Đó là quan niệm của anh, còn tôi, tôi hài lòng với lẽ sống của mình.


- Đến bây giờ ta mới hiểu, tại sao cuộc chiến đấu ngoài mặt trận chậm thắng lợi...


Thế cắt ngang lời anh bằng tràng cười ngạo mạn:


- Là bởi hậu phương còn những thằng chó má như tôi?


Tiếng cười của Thế làm anh ngộp thở, tim nghẹn lại, anh hiểu là mình phải rời chỗ này ngay, nếu không tim sẽ vỡ.


Tiếng cười cũng làm thân xác Thế tỉnh lại. Nó vươn tay đập con muỗi đang cong chân rít máu nơi bụng nó.


Cúc thức dậy, từ trong nhà đi ra. (Sau ngày anh đi, căn bếp được sửa lại thành một phòng ngủ, kê được hai cái giường, một cho hai vợ chồng, một cho xấp nhỏ. Nhà bếp nới ra phía bờ ao).


- Khuya rồi...


Thế vừa ngáp vừa đáp lời Cúc:


- Ừ, khuya rồi. - Mắt Thế chợt bắt gặp đôi mắt Mạnh từ trên bàn thờ nhìn xói. Thế lắc lắc đầu, cố xua đi đôi mắt ấy.


- Anh sao vậy?


- Không.


Thế bước ra cửa, vén quần đứng tiểu ngay dưới gốc cây dừa, rồi cúm núm đi vào, đóng cửa, cài then ngang.


Cúc tắt đèn, vào giường. Thế nằm chình ình một đống, tay vắt lên trán. Giường bên, những tiếng thở đều đều của Mai Vàng và Mai Duyên vọng sang. Cúc nhẹ mình nằm xuống cạnh Thế.


Cơn mơ khủng khiếp quá. Anh ta ốm o, xanh lét, chỉ còn cặp mắt là nguyên vẹn sức sống. Nếu anh ấy về thật, thì mình chẳng đủ can đảm đối thoại với anh ấy đâu. Anh ấy đã cứu mạng mình những ngày mình ngã xuống bùn. Những thanh tà vẹt trên vai. Có lẽ những thanh tà vẹt ấy sẽ đè mãi vai mình, không phải bằng sức nặng của nó, mà bằng cái án kỷ luật của khinh bỉ. Anh ấy đã đỡ mình dậy, đưa mình vào ngồi chiếc ghế sang trọng để người đời gọi mình bằng trí thức, dù mình biết, trình độ của mình làm sao có thể trở thành nhà báo. Mình hốt hoảng trước việc anh ấy đi B. Không phải vì mình thương anh ấy, mình tiếc cho hạnh phúc đầm ấm gia đình anh ấy dang dở, mà mình sợ rằng anh ấy đi rồi, mình biết bươn chải làm sao với công việc chưa hề được làm bằng thực lực của mình. Những bài báo của mình biết nhờ ai sửa cho để có thể sử dụng. Anh ấy không đi, thì con đực trong mình đâu đến nỗi đốn mạt thế này. Mình đã ngụy biện đủ mọi thứ lý luận với anh ấy, nhưng mình làm sao che đậy được cái xấu xa, nhơ bẩn của mình. Anh ấy bảo mình sa đọa đến tận cùng. Mình làm sao cãi. Phản bội một người bạn đã xả thân cho mình như anh ấy, mình thật chó má...


- Cúc à...


Thế nghiêng người về phía Cúc, gọi nhỏ. Cúc nín lặng làm như ngủ không nghe thấy.


- Cúc à...


Thế khẽ đụng tay vào vai Cúc.


- Nghe anh nói này. Anh đã lừa dối em. Anh Mạnh chưa chết...


Thế nghe thấy tiếng khóc tấm tức của Cúc. Tiếng khóc rung đôi vai gầy, truyền lan sang tay Thế. Thế vội rụt tay lại, bỗng khiếp hãi những rung động nghẹn ngào ấy.


Hơn một lần, mình thú nhận điều đó với cô ấy. Nhưng những lần trước sự thú nhận của mình chỉ muốn làm cho lương tâm mình và lương tâm cô ấy nhẹ vơi đi những dày vò, dằn vặt. Những lần ấy, Mạnh chưa hiện lên một ảnh hình nào cụ thể. Và nếu Cúc có khóc nấc lên thì đôi tay hộ pháp này sẽ ôm chặt cô ấy trong lòng và nó biết cách làm cho tiếng khóc đó câm nín. Nhưng lần này, hình ảnh Mạnh đã hiện ra xương thịt trong tầm tay. Mọi dối gạt của mình đều bị phơi bầy giữa ánh sáng mặt trời.


- Em hãy vì các con mà tha lỗi cho anh. Anh sẽ bỏ nơi này ra đi, em hãy đón anh ấy trở về...


- Đừng nói nữa. - Tiếng nói của Cúc vỡ trong nước mắt.


- Anh van em...


Cúc không đáp lời, lẳng lặng ngồi dậy.


Cúc bước ra nhà ngoài, đánh que diêm, châm ngọn đèn Hoa Kỳ trên bàn thờ Mạnh. Rồi Cúc ngồi sụp xuống. Anh! Hình như Cúc chỉ thốt được một tiếng, nước mắt đã tuôn như mưa. Cúc bưng mặt, cố khóa tiếng khóc trong cửa môi.


Thế cũng trở dậy, rén chân không, đi lại đứng đằng sau Cúc.


Năm


Irít ngồi trên cành cây cao, nhưng tầm mắt bị cây che khuất, không thể nhìn tung ra bốn phía. Trong căn lán nhỏ, ẩn mình dưới các lùm cây, Huyện ủy Nam Sông Ba đang họp, có đồng chí Hán trên tỉnh về dự. Yblem vắng mặt vì đang tập luyện cho đội du kích buôn Đrâyda. Hơben đang lo công việc dưới buôn Dú. Ama Vàng, Ama Dú và các đồng chí của mình đều mặc quần áo bà ba đen ngồi quây tròn bên nhau. Cuộc họp tập trung cao độ vào phương án giải phóng hoàn toàn các buôn làng khu vực Nam Sông Ba.


Không hiểu vì sao bọn giặc phát hiện cuộc họp bí mật đó, chúng đổ lính bủa vây.


Khi Irít nhìn thấy thằng lính đầu tiên, thì chúng đã tiến rất gần lán họp. Irít gõ chiêng báo động. Hàng loạt đạn nổ về phía cành cây Irít đứng. Irít trúng đạn, rớt xuống đất, tiếng chiêng cũng lặng đi.


Những người đang họp lao ra khỏi lán, chạy túa mỗi người một đường. Bọn lính lao lên, đạn xối xả đuổi theo.


Ama Vàng lao về phía suối. Đã mấy lần bị địch phục kích, lần nào anh cũng lao về phía suối. Anh linh cảm con suối luôn giúp anh thoát hiểm. Chợt anh thấy mình loạng choạng muốn té xấp.


Một ai đó bỗng thét vào tai anh:


- Ráng lên Ama Vàng, để tôi yểm trợ cho.


Người đồng chí đó là Ama Dú. Anh nghe thấy tiếng đạn của Ama Dú bắn ngược trở lại phía mấy tên lính.


Ama Vàng cố lao người lên, anh chạy, trước mặt anh cánh rừng chao nghiêng, cánh rừng chao ngửa. Tiếng nổ phía sau lưng như xô chân anh đi. Và cứ thế anh trôi. Anh trôi giữa những vòng rừng chao nghiêng, chao ngửa. Anh trôi cho tới khi kiệt sức, vật mình xuống cỏ, mê man.


Khi anh tỉnh dậy, mở mắt, một trời sao lấp lánh đêm. Cổ anh cháy khát, anh trườn mình về phía trước, nơi có tiếng nước chảy.


Anh chợt khựng lại trước một con suối lớn. Bên kia bờ suối, một con cọp đã phát hiện ra mùi máu tanh, nó gầm gừ nhìn anh, đôi mắt thèm thuồng.


Mình chết về tay ác thú mất. Anh chợt nghĩ. Nếu con cọp quăng mình qua suối, sang được tới bên này, thì anh làm sao chống cự. Một nỗi lo sợ bản năng, anh xoay người trườn trở lại, hy vọng thoát xa dần tầm giết người của con thú. Nhưng thực ra đó chỉ là lòng ham sống vô vọng. Bởi lẽ, nếu con cọp qua được suối, thì dù anh có chạy cách xa nó bao nhiêu trăm thước, nó cũng đuổi kịp và xé xác anh.


Anh không chờ đợi một cái chết phanh thây như thế này. Thà rằng, một viên đạn của kẻ thù bắn vỡ tim anh, còn hơn nhìn thấy hàm răng đỏ lòm máu của dã thú.


Tiếng gầm rít của con cọp thật ghê sợ, gai ốc anh nổi lên, toàn thân lạnh cóng. Anh nhắm mắt lại. Chẳng còn hy vọng gì nữa. Quán Thế Âm Bồ Tát cũng không thể cứu được anh. Mạnh ơi, tội nghiệp thân mày.


Chợt anh thấy con cọp lồng lên, sự lồng của giãy giụa, chứ không phải sự lồng của oai hùng muốn băng qua con suối. Và nó quất đuôi bỏ chạy.


- Ớ. Ama Vàng...


Tiếng ai gọi va đập vào vách núi vọng lại. Nghe như tiếng Yblem.


Anh cố hết sức đáp lại.


- Yblem, Yblem...


Một bóng người lao về phía anh. Giàng ơi, đúng là Yblem, chiếc nỏ trong tay.


- Giàng ơi, Ama Vàng... Tao đi tìm mày khắp rừng, sao mày không lên tiếng cho tao hay. - Yblem ngồi xuống bên anh. - Mày bị thương nặng lắm phải không?


- Yblem vừa bắn con cọp dữ?


- Cũng nhờ con cọp mà tao tìm ra mày. Cọp ngửi mùi máu thính hơn người, nơi nào có nó, thì nơi đó có máu tanh. Tao trông thấy nó bên bờ suối. Nếu không phải đi tìm mày, thì con cọp không thể chạy thoát.


- Tao khát nước quá.


Yblem chạy xuống suối, vục một tay nước lên cho Ama Vàng.


- Giàng ơi, mày ra nhiều máu quá. Tao phải đưa mày tới nhà Ama Thương thôi.


Không kịp để anh phản ứng, Yblem xốc anh lên vai và chạy. Thoạt đầu Yblem còn chạy nhanh, sau chậm dần, anh nghe thấy hơi thở phì phò nơi hai lỗ tai Yblem. Nhưng Yblem không chịu để anh xuống, cứ vác trên vai băng qua rừng.


Ama Thương đang ngủ, Yblem đánh thức Ama Thương dậy.


Ama Thương đốt đuốc và rịt lá thuốc cho Mạnh.


Vết thương nơi chân Mạnh sưng vù, thâm tím, máu đông cứng.


- Phải đưa nó lên tỉnh thôi, Yblem ạ.


- Sao? Mày vẫn là thầy lang giỏi nhất buôn cơ mà.


- Chậm rồi, cái lá không cứu được nó, đạn còn nằm trong người nó. Tao chữa không được.


- Lên tỉnh, Ama Vàng sẽ chết mất.


- Sao mày không đưa nó tới đây sớm hơn.


Yblem lặng người:


- Nếu như thằng Irít nhà tao không chết, thì tao đã đi tìm Ama Vàng ngay...


Amí Thương mang võng và cây đòn ra. Thằng Thương cũng hết ngái ngủ, tay nó cầm cây đuốc.


Ama Thương và Yblem mỗi người một đầu khiêng Mạnh đi. Thương cầm đuốc dẫn đường.


- Ama Thương, mày nói đi, thằng Ama Vàng có phải chết không?


- Nó bị nặng, mất máu nhiều quá.


- Nếu thằng Irít nhà tao không chết... - Yblem nhắc lại với nỗi đau đớn tột cùng. - Tao đang tập bắn súng cho đội du kích buôn Đrâyda thì thằng Dú tới báo tin. Tao chạy về thì đã thấy thằng Irít chết. Tao hỏi Ama Vàng, không ai biết Ama Vàng đâu, thế là tao vác nỏ đi tìm nó. May có con cọp gầm bên suối nên tao tìm thấy nó... Nó bị thương nằm ở đó cả buổi rồi. Nếu thằng Ama Vàng phải chết, là Giàng bắt tội các buôn làng Êđê. Ama Vàng, vì người Êđê mình mà lên đây. Nó đang lo cho thằng Dú, thằng Lê, thằng Irít, thằng Thương ra Bắc đi học như con nó thì trúng cái đạn của giặc. Ama Vàng ơi...


Anh nghe tiếng ai gọi mình, tiếng gọi từ cõi nào xa xăm lắm, anh đang bị nhốt trong căn nhà ngổn ngang những xác chết biết nói biết cười, phải chăng đây là ngôi nhà âm phủ? Không. Anh nghe tiếng cọp gầm. Đúng rồi, con cọp đã bay qua được suối và đuổi riết theo anh. Nó xé đôi người anh ra, bỏ cái bắp chân anh vào miệng, máu tứa ra hai bên mép. Anh hốt hoảng thét lên: Yblem, cứu tôi với. Anh mở bừng mắt. Yblem đang ngồi bên anh, trên một chiếc giường của viện quân y.


- Ama Vàng, Yblem đây mà.


Bàn tay Yblem nắm bàn tay anh run run.


- Ama Vàng sống lại, tao mừng cái bụng lắm. Bây giờ tao về buôn, báo cho già làng, báo cho Ama Dú, báo cho Hơben biết là mày còn sống. Mày là người bạn tốt nhất của người Êđê chúng tao, mày không được chết.


Những người bạn Êđê bảo anh không được chết, anh phải sống. Cúc của anh, Mai Vàng của anh cũng bảo như thế, anh làm sao có thể chết được.


Yblem về hôm trước thì hôm sau Hơben đã đến với anh.


- Già làng nói Hơben lên nuôi Ama Vàng, khi nào Ama khỏe, đưa Ama về buôn.


- Giàng ơi, thế còn công việc của Hơben dưới buôn Dun, buôn Đrâyda.


- Ama Dú giao cho Yna làm thay. Ama Dú cũng bảo, nếu Hơben không đưa được Ama Vàng mạnh khỏe về buôn làng người Êđê, thì Hơben cũng đừng về.


Anh cười. Hơben cảm thấy vui cái bụng.


- Hơben biết cách làm cho Ama Vàng mau khỏe mà.


Anh hoàn toàn tin điều đó. Có Hơben bên cạnh, anh thấy yên lòng lắm. Đây là lần thứ hai Hơben nuôi anh trên giường bệnh. Những ngày anh ở bên Cúc, anh khỏe như một con voi, chưa một lần sổ mũi nhức đầu. Sao trời không cho anh cảm cúm một lần để Cúc nấu cho anh bát cháo tía tô, đập thêm cái trứng gà nữa thì tuyệt lắm. Anh vụng về nắm bàn tay Hơben.


- Hơben ơi!


- Ama Vàng nói đi!


Đôi mắt Hơben nhìn anh ấm áp, trìu mến. Hơben đang chờ nghe anh nói điều gì mà trái tim Hơben đập mạnh thế, bàn tay Hơben run thế.


- Mấy hôm nữa, Hơben đưa Ama Vàng về buôn, Ama Vàng sẽ xin với già làng cho Ama Vàng nhận Hơben là em gái, Hơben có chịu không?


Hơben không đáp lời, chỉ gật đầu.


- Trong gia đình người Kinh, em gái phải vâng lời anh trai.


- Hơben sẽ vâng lời Ama Vàng mà. Hơben sẽ ngoan mà... Nhưng Hơben biết là già làng không chịu đâu. Già làng chỉ muốn Ama Vàng ở mãi với người Êđê thôi.


- Dù ở đâu, đi đâu, lòng Ama Vàng cũng nghĩ tới cái buôn làng Êđê, cũng nhớ tới em gái Hơben.


Hơben nhìn anh rưng rưng nước mắt.


*


Chiều thứ bảy anh Ba vào bệnh viện, xin phép bác sĩ cho Mạnh được về nhà chơi ngày chủ nhật. Bác sĩ đồng ý với hai điều kiện: Chiều chủ nhật phải đưa Mạnh trở lại bệnh viện. Đừng làm cho Mạnh quá xúc động về những chuyện gia đình. Về điều kiện thứ hai, bác sĩ giải thích thêm:


- Những cơn sốt rét của anh Mạnh ở thể tái phát vivax sẽ trở thành sốt cách nhật lành tính. Bệnh viện chúng tôi có thể điều trị dứt hẳn. Những vết thương ở tay và chân làm cho anh ấy đau đớn, khó chịu khi thời tiết thay đổi. Điều đó cũng không đáng ngại. Chúng tôi chỉ ngại, một cái gì đó quá mạnh có thể gây nên những cơn sốc tinh thần. Hình như hoàn cảnh gia đình anh Mạnh có những trục trặc?


Anh Ba gật đầu. Vị bác sĩ cười nhạt:


- Trong chiến tranh ác liệt thế này, gia đình nào mà chẳng có trục trặc.


- Vợ chú ấy tưởng chú ấy đã chết nên đi lấy chồng. Chú ấy thương vợ lắm.


Bác sĩ lại cười nhạt:


- Người ta không chờ đợi được mình thì thôi, có gì mà phải buồn thảm.


- Bác sĩ nói nghe đơn giản quá.


- Sai lầm lớn nhất của đời tôi là tôi đã lấy vợ. Nếu pháp luật rộng rãi một chút thì chúng tôi đã bỏ nhau. Gấu ó nhau suốt ngày, hết chuyện tiền bạc, lại đến chuyện ăn uống, chuyện con cái. Chiến tranh liên miên, gia đình nào cũng một chốn đôi ba nơi, làm sao mà đủ ăn. Chẳng gia đình nào là không bi kịch. Tôi cho rằng những người sống độc thân là sướng nhất.


- Thà là vậy, nhưng đời sống vợ chồng là cái tình, cái nghĩa.


- Nghèo quá thì khó lòng mà nghĩa mà tình được. Ai chớ, con vợ tôi, tôi mà đi công tác vài tháng là cắm sừng lên đầu tôi ngay. Muốn có hạnh phúc gia đình phải có tiền. Lương bác sĩ chỉ đủ nuôi miệng, đào đâu ra tiền. Tôi không nhớ một văn sĩ nào đã viết: Đồng tiền là giác quan thứ sáu, không có tiền thì cả năm giác quan vốn có của con người không hoạt động được. Tôi chỉ ước sao, ngủ qua một đêm, tỉnh dậy được là người chưa lấy vợ.


- Bác sĩ khôi hài giỏi quá.


- Tôi nói nghiêm túc đấy. Vợ chồng thời buổi này khổ quá.


- Nhưng chú ấy không nghĩ như bác sĩ.


- Có nghĩa là anh ta thích có vợ. Dễ ợt. Gái thời chiến đâu phải lá mùa thu. Vợ bỏ, lấy vợ mới càng trẻ, càng đẹp hơn. Nếu anh ta muốn, tôi sẽ làm mối cho một dây gái.


Anh Ba cười, đứng dậy. Thời buổi lạ thật, người ta nói chuyện gì cũng ngược ngạo. Luân thường đạo lý mà người ta coi như trò đùa. Về điều này, những quả bom Mỹ đã ném trúng đích, tâm hồn người nào cũng bị trúng bom.


Anh Ba thoáng nghĩ tới gia cảnh mình. Yên ổn quá, đẹp quá. Con trai anh ở Liên Xô mới gửi thư về, nó khoe nó học rất giỏi. Còn chị Ba đi sơ tán theo cơ quan cũng như đi nghỉ an dưỡng. Chiều nay, thế nào chị cũng về, anh mới viết thư gửi xe cơ quan lên khu sơ tán. Anh dặn chị mua gà đãi khách. Phải chăng bom Mỹ đã né tránh ốc đảo gia đình anh? Không có gì phải sợ hãi những quả bom đó. Chiến tranh sẽ xua tan mọi bi kịch. Sẽ chẳng có di hại nào hết. Và chiến thắng đang đi từng bước, chân anh đang tới rất gần, rất gần...


Hai anh em đèo nhau trên chiếc xe đạp Phượng Hoàng mầu cánh chả. Anh Ba khoe với Mạnh, chiếc xe này của chị, tốt hơn chiếc xe đạp Liên Xô của anh vẫn đi. Chị Ba mới từ khu sơ tán đạp xe về. Từ ngày đi sơ tán, chị Ba mập và khỏe hơn. Trên đó chẳng có việc gì làm, chỉ suốt ngày lo nấu ăn, đọc sách và ngủ. Tuổi năm mươi đạp xe gần năm chục cây số về nhà mà không một tiếng kêu rêm mình...


- Chị mong được gặp chú lắm.


- Dạ. - Anh đáp lơ đễnh.


Đường phố Hà Nội tĩnh quá, gần như thời gian chẳng làm cho thành phố thay đổi bao nhiêu. Những xe đạp guồng chầm chậm, người bộ hành bước giống nhau, một vẻ mệt mỏi. Phố xá cây cối xanh mướt, những căn nhà thấp nhỏ, xưa cổ, nhấp nhô. Anh cảm như mình chưa đi xa thành phố tới một năm, chứ đừng nói tới mười năm.


- Hà Nội mình đánh Mỹ ác liệt như thế mà vẫn nên thơ phải không chú?


- Dạ.


Anh không thể đáp khác. Nên thơ, đó là quan niệm thẩm mỹ của mỗi người. Một buổi chiều tà, một hàng cây quen thuộc, một tiếng rao hàng, một dòng người chậm chạp, một sắc mầu gần như đồng loạt, sắc phục bộ đội, đầu nón cối, một vài dáng nghênh ngang thanh niên. Không. Anh không có quyền phản bác quan niệm nên thơ đó của anh Ba hay bất kỳ ai khác. Anh chỉ cảm giác Hà Nội tĩnh quá, chẳng một đổi thay ngoại hình, một cái gì đó tội tội, khổ khổ.


- Từ hôm chú ra tới giờ, đã hôm nào xuống hầm trú ẩn chưa?


- Dạ, rồi. Cứ nghe loa báo tin có máy bay Mỹ là các cô y tá lại đi từng giường lùa tụi em xuống hầm.


- Người nước ngoài phục chúng ta lắm chú ạ. Kể cũng lạ, vừa đánh giặc giỏi, vừa sản xuất giỏi, chẳng một ai bi quan. Họ khâm phục chúng ta cũng phải.


- Em nghe nói, có một nhà báo phương Tây ước mơ sau một đêm có phép mầu, tỉnh dậy thành người Việt Nam.


- Cả nhân loại, ai cũng ước mơ được sống, chiến đấu như người Việt Nam. Chúng ta sinh ra vào thời đại kỳ diệu thật. Đáng sống, đáng kiêu hãnh lắm.


Mạnh không nối lời anh Ba.


Anh ấy tốt quá, nhân hậu quá, nhưng cũng đơn giản quá. Đối nghịch với cái đẹp đẽ là sự xấu xa, cái cao cả là sự thấp hèn, cái nhân nghĩa là sự phản bội, cái hạnh phúc là sự bất hạnh, cái no đủ là sự đói khát. Chiến tranh, dù là chiến tranh gì đi nữa cũng sản sinh cùng lúc cả hai luồng âm dương đó. Vì thế, không nên chỉ biết mặt phải của tấm huân chương, mà còn phải biết mặt trái của nó. Phải biết hai mặt của chiến tranh.


- Tôi muốn dành cho chú một bất ngờ.


- Đối với em, cái gì bây giờ cũng bất ngờ cả.


- Tối hôm qua, vợ chồng tôi lại nhà chú. Cô ấy về quê thăm thằng Quảng, còn thằng Thế đang ngồi uống rượu. Chúng tôi xin phép sáng nay cho Mai Vàng lại đằng tôi.


- Có nghĩa là anh đã nói với Thế về em?


- Không. Nó đang có hơi men nên chẳng biết nghe chuyện gì cả.


- Thực tình em chưa muốn gặp cháu.


- Con nhỏ đâu có tội gì mà chú giận nó.


- Em muốn chữa cho lành bệnh rồi mới gặp cháu.


- Gặp chú, chắc nó mừng lắm.


- Liệu nó có nhận ra em không anh?


- Sao không? Tôi chưa nói cho cháu biết đâu. Muốn dành cho nó một bất ngờ.


... Bữa đó, thằng Irít chụm lửa nướng cá cho anh ăn. Anh đã kể cho nó nghe về Mai Vàng. Nó há hốc mồm ra nghe. Trước mắt anh Mai Vàng hiện ra bằng xương bằng thịt, chứ không phải trong tưởng tượng của anh. Đứng cao tầm thước, nhí nhảnh với mái tóc xõa vai. Nước da trắng nõn, thêm cái rét đầu mùa miền Bắc làm cho ửng hồng. Hai lúm đồng tiền thật sâu.


- Ba giới thiệu với con, đây là anh Irít.


- Mai Vàng chào anh Irít.


- Mai Vàng ạ, anh Irít nhiều tuổi hơn con, nhưng anh Irít biết ít cái chữ hơn con. Bởi anh Irít còn phải cùng buôn làng Êđê đánh Mỹ. Anh Irít đánh Mỹ rất giỏi, anh đi giao liên cho các bác, các chú. Anh Irít biết bắn con thú trong rừng, biết tát con cá dưới suối. Bây giờ anh Irít ra miền Bắc, con giúp anh Irít học thật giỏi để mai sau anh Irít trở về xây dựng các buôn làng Êđê.


- Nhất định con sẽ giúp đỡ anh Irít ba ạ. Con sẽ nói các bạn con cùng giúp đỡ anh Irít. Anh Irít sẽ kể chuyện Tây Nguyên cho tụi con nghe, tụi con sẽ dạy anh Irít múa hát, sẽ vui lắm ba ơi.


- Em Mai Vàng sẽ dẫn con đi chơi, Irít ạ. Ở miền Bắc, những thiếu nhi cỡ tuổi con, tuổi Mai Vàng sung sướng lắm, được đi học, được múa hát. Các con có thầy cô giáo, có đội thiếu nhi, có các ba, các mẹ thương yêu.


Mai Vàng nhẩy chân sáo trước mặt anh. Tay Mai vàng nắm tay Irít, hai đứa tung tăng trên đường phố náo nhiệt đông đúc của Hà Nội.


Thế rồi Irít chết.


Ngày buôn làng tiễn đưa Dú, Lê và mười thiếu nhi Êđê khác ra Bắc đi học, anh đã dẫn xấp nhỏ tới trước mộ Irít. Cuộc chia tay không có nước mắt, chỉ có lời thề. Irít ơi, mày nằm đây, mày không được ra miền Bắc học tập như chúng tao. Chúng tao hứa với mày, sẽ học thật giỏi, để sau này về xây dựng buôn làng, chúng tao sẽ xây cho mày một ngôi mộ thật đẹp. Mày đừng buồn, đừng khóc vì chúng tao phải xa mày nghe, Irít...


Đám thằng Dú giờ học ở đâu? Anh chưa hỏi được tin chúng. Ít ngày nữa, ra viện anh sẽ đi tìm chúng.


Chị Ba từ trong bếp chạy ra đón Mạnh, nước mắt lưng tròng.


(còn tiếp)


Nguồn: Linh hồn lang thang. Tiểu thuyết của Nguyễn Nguyên Bẩy. NXB Văn học, 11-2011.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 16.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »