tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20804429
Tiểu thuyết
04.12.2012
Hà Văn Thùy
Nguyễn Thị Lộ

  Nhà văn, trong ý nghĩa nguyên sơ của từ này, chính là lương tri của dân tộc của thời đại, có nhiệm vụ giải mã tấm gương câm lặng của lịch sử để đưa ánh sáng rọi chiếu con đường đi tới cho dân tộc.   


TỰA


   Trong những định nghĩa về lịch sử, hình như có câu: “Lịch sử là những văn bản do sử gia viết rồi sau đó không ngừng được viết lại.” Xem ra định nghĩa này đúng với trường hợp Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ.


   Về Lễ nghi học sĩ triều Lê Thái tông, sử gia Ngô Sĩ Liên có Lời bàn: “Nữ sắc làm hại người ta quá lắm. Thị Lộ chỉ là một người đàn bà thôi, Thái tông yêu nó mà thân phải chết, Nguyễn Trãi lấy nó mà cả họ bị diệt, không đề phòng mà được ư?”  Điều này, như người ta thường nói, là quan niệm bất công, khinh rẻ phụ nữ của một sử gia phong kiến. Nhưng vì lẽ gì, ngay cả trong chuyện Rắn báo oán tác giả dân gian cũng phũ phàng dồn hết mọi tội lỗi lên đầu người đàn bà?


   Về Nguyễn Trãi, vua Tự Đức nhà Nguyễn có Lời phê: “Đời Lê Thái tông, vua thì buông tuồng, bầy tôi thì chuyên quyền. Trãi nếu là người hiền thì nên sớm liệu rút lui, ẩn náu tung tích để cho danh tiếng được toàn vẹn. Thế mà lại đi đón trước ngự giá, thả lỏng cho vợ làm việc hoang dâm, vô liêm sỉ. Vậy thì tai vạ tru di cũng là tự Trãi chuốc lấy. Như thế sao được gọi là người hiền?” Với nhiều thế hệ trí thức Việt, lời bàn trên được coi như khuôn vàng thước ngọc. Nhưng rồi thời gian cho thấy khuôn vàng thước ngọc cũng biến dạng!


  Nguyễn Trãi có là người hiền chăng? Biết tất cả những bậc hiền của quá khứ, biết những Khuất Nguyên, Trương Lương, Ngũ Tử Tư, Văn Chủng, Phạm Lãi. Biết Chu Văn An và cũng biết Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo… nhưng Nguyễn Trãi tự biết mình hơn bởi ông là người hiền dấn thân. Án Trại Vải là bi kịch tất yếu mang tính toàn nhân loại khi chế độ chuyên quyền thống trị. Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ là viên đá lót đường cho dân tộc vươn tới tự do!


  Văn bản lịch sử không phải là văn bản chết mà là tấm gương con người phải soi vào để từ đó nhận ra chân dung của bản thân mình, của thời đại mình. Nhà văn, trong ý nghĩa nguyên sơ của từ này, chính là lương tri của dân tộc, của thời đại, có nhiệm vụ giải mã tấm gương câm lặng của lịch sử để đưa ánh sáng rọi chiếu con đường đi tới cho dân tộc. Đấy là sứ mạng thiêng liêng cao cả nhiều người mơ ước. Nhưng giải mã chân xác cuốn sách cổ là điều cực khó mà không phải ai cũng thành công.


     Tiểu thuyết Nguyễn Thị Lộ là một trong những cách giải mã lịch sử. Đánh giá nó thế nào là quyền của thời gian.


                                                                                    Sài Gòn, Thu Giáp Thân


          Hà Văn Thùy


 


 


                        CHƯƠNG  MỘT


     Nguyễn nằm im, nghe hơi đá mát lạnh dưới lưng. Nghe không khí nhẹ lâng lâng của rừng thu. Nghe tiếng lá thông vi vút trong gió. Nghe dòng suối rì rào ngân nga như tiếng đàn. Nghe rừng trúc xạc xào. Miên man miên man êm đềm... Nguyễn nhận ra một cái gì thân thiết như ru trong bài ca xa xưa. Tự nhiên ông thấy lòng thư thái, thấy mình như tan hòa cùng không gian cùng cảnh vật, nhận ra hồn mình lâng lâng nhẹ như sạch hết bụi trần. Chỉ nơi này, giữa thiên nhiên khoáng đạt, ông mới tự do tự tại, mới thực sự là mình. Nguyễn thả cho hồn phiêu diêu chìm dần vào giấc ngủ…


    Cảm thấy có cái gì bò nong nóng râm ran trên mặt, Nguyễn tỉnh giấc. Ong nhận ra từ trên cao một tia nắng chói lòa xuyên qua tán thông rậm rạp xanh ngăn ngắt chiếu xuống mặt mình. Nguyễn xê người tránh chỗ nắng trên thạch bàn, nhắm mắt lại, định ngủ tiếp nhưng giấc ngủ không đến nữa… Nghe trong không gian mùi khói lá thông hăng hắc, Nguyễn mở mắt nhìn rồi từ từ ngồi dậy. Tránh chiều gió, phía sau một gốc thông già, nàng đang lúi húi đun nấu. Nguyễn lặng ngắm nét mặt nàng hồng hào điểm mấy đốm tàn tro. Xách chiếc ấm đồng nhỏ về phía thạch bàn, Thị Lộ âu yếm nói: sao chàng không ngủ thêm đi? Trời đẹp lắm! Thôi để thiếp pha trà mời chàng vậy! Không nói không rằng, Nguyễn chăm chú nhìn vợ. Bàn tay thon thon của nàng duyên dáng nắm quai ấm đồng, rót dòng nước sôi sùng sục vào ấm chuyên màu gan gà. Đậy nắp lại, nàng nhẹ nhàng lắc lắc ấm rồi rót bỏ lượt nước tráng trà, sau đó nàng rót nước sôi vào ấm. Tiếp theo nàng tráng đôi chung. Đặt ấm nước vào chiếc đĩa gan gà, Thị Lộ bưng hai tay để trước mặt chồng, nói nhỏ: mời chàng! Rồi nàng e lệ ngồi xuống mép thạch bàn.


   Đêm hôm trước, cảm thấy trong lòng vơi nhẹ, Nguyễn nói: “Mai ta định lên núi chơi, nàng có đi với ta không?” “Còn gì bằng nữa, nàng hồ hởi đáp, chàng cho thiếp đi cùng với.” Sáng ra nàng dậy sớm cùng lão Mộc lo nấu cơm nếp nắm lại trong bẹ mo nang. Lão Mộc làm con gà ri, luộc lòng đào. Nàng mang ấm chén uống trà và như thói quen, nàng cũng không quên mang theo nghiên cùng giấy mực…


   Nguyễn chống gậy trúc đi trước. Bước theo sau, nàng ngắm dáng chàng phong phanh trong áo vải, gió cuộn tà lại phía sau. Đi được một lúc, nàng thấy mặt chồng hồng hào lên, những giọt mồ hôi rịn ra nơi thái dương. Dừng lại nơi hòn đá bàn, hai người ngồi nghỉ cho ráo mồ hôi rồi Nguyễn xuống suối tắm.


   Ở đoạn này, dòng suối phình rộng ra, lặng lẽ chảy hiền hòa. Nước thật trong, mát lạnh, đáy nước lộ rõ những hòn cuội trắng cùng những con cá kìm bơi tung tăng. Tiếp đó là một ghềnh đá, nước bị chặn lại chảy rì rầm như bản nhạc. Trong lúc Nguyễn vẫy vùng thỏa thuê cùng suối mát, nàng bắc bếp nổi lửa nấu nước pha trà. Khi Nguyễn bước khỏi suối lên ngồi trên đá bàn, nàng đã pha sẵn ấm nước cho chồng. Cầm bó nhang cùng mồi lửa, nàng nói: “Chàng nghỉ ngơi, thiếp mang hương lên viếng thày.” “Ừ, nàng đi đi!” Nguyễn nói rồi đưa cặp mắt sâu dưới lông mày chớm bạc nhìn theo như nâng niu ôm ấp nàng. Cặp chân dài dẻo dai, dáng đi uyển chuyển. Tấm váy lụa mềm mại cuốn theo mỗi bước đi, để lộ bắp chân trần trắng muốt. Chiếc thắt lưng hoa lý bay bay phơ phất và tấm áo tứ thân màu huyết dụ bó sát lấy thân hình nở nang… Nàng vẫn đẹp, quá đẹp ở tuổi của nàng, Nguyễn nghĩ. Khi bóng nàng khuất trong rừng, không hiểu sao ông bỗng thấy âm thầm một nỗi lo xa xôi. Tinh hoa phát tiết đến vậy liệu có bền lâu?!


    Theo lối mòn, nàng lên đỉnh núi Kỳ Lân. Ngọn Bái Vọng đã gần ngay trước mặt, giống như hình người đang quỳ lạy hướng về Vạn Kiếp. Trong bóng thông mát rượi, nàng bước đến ngôi mộ cô đơn được vây xung quanh bằng đá tổ ong. Ngôi mộ xây bằng những tảng đá ong, phủ kín lá cùng quả thông màu nâu, từ đất xám mọc lưa thưa những ngọn cỏ bò lan ra ngoài. Mấy năm trước, sau khi được Thái tổ giải oan, tha khỏi lao tù, Nguyễn Trãi xin với nhà vua được sang Tàu kiếm hài cốt cha. Nhờ một chủ thuyền buôn người Khâm Châu, chàng đã vượt biển sang Tầm Châu, lưu lại đấy mấy tháng trời rồi lần hồi tới Yên Kinh. Cũng chuyến đi ấy, chàng xin cho Phi Hùng được trở về… Ngày trước, khi chia tay ở Ai Bắc, Phi Hùng theo hầu hạ bên cha. Cha mất Hùng an táng và ở lại giữ mộ. Chuyến đi Bắc ấy, người mang về hơn chục bài thơ… Nàng nhổ những dây cỏ dại bò lan, nhặt bớt lá thông, sửa sang cho nấm mộ bớt phần hoang liêu rồi kính cẩn thắp nhang cắm trước mộ chí, miệng nàng lầm rầm khấn vái những lời to nhỏ. Xong việc, nàng đứng lên, nhìn bao quát khoảng rừng rồi ngắm nấm mộ cùng tấm mộ bia, quay về hướng Đông. Tấm bia mộ bằng đá xanh với những dòng chữ khắc chân phương: Nguyễn Phi Khanh chi mộ. Bên trái là dòng lạc khoản: Hiếu nam Nguyễn Trãi tạo. Tận cùng của sự khiêm nhường, nàng nghĩ. Cả hai cha con, không một dòng chức tước! Cha không chức tước đã đành vì phụng sự ngụy triều nhưng còn con, một đại công thần? Nàng hiểu cách ứng xử của chồng. Với người, mọi danh vị đều phù du, chàng muốn cha mình ẩn trong cái sự vạn đại chi dân… Nhìn sâu vào lòng đất, cảm thương cho người nằm dưới mộ, nàng thầm hỏi: “Nguyễn Phi Khanh, hạnh phúc của ông là ở chỗ nào? Khi làm quan nhà Hồ hay trong mối tình của nàng quận chúa?” Chỉ có im lặng trả lời nàng, chỉ có tiếng rừng thông vi vút…


    Nàng hình dung cuộc tình của chàng nho sinh đất Nhị Khê với cô quận chúa lá ngọc cành vàng. Là đam mê, là sợ hãi. Lo sợ trong đam mê. Đam mê lẫn cùng lo sợ… Nhưng đẹp sao một tình yêu dâng hiến! Nàng nghĩ, đó có lẽ là quãng đời hạnh phúc nhất của người? Càng hạnh phúc hơn khi từ sự vụng trộm ấy lại cho ra đời con người tuyệt vời Nguyễn Trãi. Và thật diệu kỳ, cái mầm sống sinh ra từ đam mê ấy lại gắn bó với cuộc đời nàng, đem lại cho nàng hạnh phúc quá lớn đến mức ôm không nổi!


   Trở lại thạch bàn thì cũng gần trưa. Từ xa nàng thấy thấp thoáng giữa những thân thông già, Nguyễn đang viết. Nàng hiểu mình nghĩ đúng. Những dịp lên núi như vầy thế nào người cũng có thơ. Biết thế nên nàng không muốn quẩn quanh bên chàng. Nàng muốn mình luôn có mặt trong tâm tưởng nhưng không cản trở suy nghĩ của chàng. Nếu lên rừng một mình, chàng sẽ cô đơn lắm. Nhưng có nàng, chàng sẽ yên tâm có hình bóng nàng bên cạnh và trong sự yên tâm ấy, chàng viết… Rất nhẹ nhàng, nàng bước lại phía chàng, không hề nhắc đến thơ phú, nàng chỉ nói:


    - Mộ thày vẫn yên lành. Thiếp đã dọn cỏ rác và thắp hương viếng thày.


     Nàng nói thế cho chàng yên tâm rồi nàng dọn cơm ra thạch bàn ân cần mời chàng. Buông bút, Nguyễn xuống suối rửa tay rồi trở về nhận khoanh cơm nếp dẻo thơm từ tay vợ. Bốc miếng thịt gà, chấm muối tiêu với những sợi lá chanh thái mịn, Nguyễn ăn ngon lành. Đợi cho chàng ăn xong, nàng dâng tăm, nước, sau đó bẻ cành lá thông phủi sạch thạch bàn, nàng mời chàng nghỉ trưa.


     Nguyễn muốn tìm lại giấc mơ vừa vụt biến. Giấc mơ không trở lại, tiếc đến quặn lòng… Một ông già râu tóc bạc phơ không biết tự bao giờ lặng lẽ đăm đăm nhìn Nguyễn. Dáng ông già phong sương có nét gì quen quen. Cái nhìn ông sâu thẳm đượm buồn, khuôn mặt ông là nỗi đau vời vợi. Dường như nơi khóe mắt ông già một giọt lệ trào ra? Không nói không rằng, ông lặng lẽ nhìn Nguyễn giờ lâu, cái nhìn trăn trối phảng phất nỗi lo lắng. Có nét gì giông giống ngoại tổ? Nguyễn tự nhủ và khi nhận ra người đứng trước mặt nãy giờ chính là ông ngoại Trần Nguyên Đán, Nguyễn định kêu lên thì thấy khóe miệng ông ngoại hình như mấp máy muốn nói điều gì… Nhưng ngay lúc ấy Nguyễn giật mình tỉnh dậy. Sao mình không nhận ra ông ngoại? Nguyễn tự trách. Ngoại tổ gầy lại phong sương quá, không thật giống với quan Tư đồ phương phi đạo mạo ngày xưa. Nhưng sao cụ nhìn mình lo lắng và ánh mắt buồn vời vợi? Phải thôi, cuối đời cụ là cả một chuỗi buồn. Đấy là cụ không còn sống để chứng kiến cái chết của Nguyên Hãn! Cụ định nói gì? Nguyễn không thể nào hiểu nổi… Lòng xao động, Nguyễn không hiểu được vì sao lại gặp ngoại tổ giữa buổi trưa này? Liệu có điềm gì báo với mình chăng? Nguyễn ngồi dậy trên thạch bàn, nhìn những cây thông già cao vút. Nắng mùa thu lọc qua tán lá tỏa xuống những tia chói chang. Trên đất, phủ dày một lớp lá thông màu nâu. Một đôi sóc tranh nhau quả thông, cùng rơi từ trên cành xuống, giương mắt nhìn Nguyễn rồi lại vội vàng leo lên cây. Xa xa, từ nơi nào đó vọng lên tiếng tu hú tu hú nhịp đôi khắc khoải.


    Uống xong chung trà, Nguyễn chọn mấy tờ giấy hoa tiên màu trắng ngà có bài thơ vừa viết đưa cho vợ:


    - Ta mới làm xong bài thơ, phiền nàng đọc thử. Ong nhìn vợ bằng ánh mắt trìu mến.


    Đưa hai tay nhận bài thơ, Thị Lộ mỉm cười:


    - Cảm ơn chàng đã tin thiếp! Nói xong, nàng chú mục vào những dòng chữ viết thoáng như rồng bay. Một lần, hai lần nàng đọc: Côn Sơn ca… Đọc đến lần thứ ba, nàng không hề ngẩng lên. Những tờ giấy trắng run run trong đôi bàn tay búp măng hồng trắng. Tự dưng mắt nàng nhòa lệ.


   - Ô kìa, sao nàng khóc? Nguyễn lo lắng hỏi. Sao nàng khóc?


     - Thiếp hiểu lòng chàng! Chàng yêu nơi này biết bao. Nào suối nào đá nào thông nào trúc… Thiếp những tưởng chàng an lòng với nơi đây mà lánh xa vòng danh lợi! Thiếp cứ mong chàng như Trương Lưu hầu sau khi phò Hán thì lánh đời lên núi tu tiên. Thiếp cũng mong chàng như Phạm Lãi sau khi diệt Ngô thì cùng nàng Tây Thi rong chơi Ngũ Hồ. Thiếp cứ tưởng một dải non xanh Yên Tử với Lục Đầu Giang này sẽ là Ngũ Hồ của chàng, còn thiếp thì dù vô hạnh, cũng mong được là một chút gì của Tây Thi để sớm hôm bên chàng… Nhưng nay thì thiếp hiểu, lòng chàng vẫn hướng về Kinh vẫn hướng về nhà Lê. Rồi mai đây, chỉ cần cái vời tay nhẹ của nhà vua, chàng lại ra đi, xông pha cùng gió bụi. Vâng, cuộc đời chàng sẽ không yên ổn. Là phúc hay là họa đây? Bấy lâu nay lòng chàng dằn vặt đắn đo giữa chuyện xuất và xử. Nay thì thiếp hiểu, dù có muôn ngàn chông gai phía trước, dù gặp nguy nan, chàng cũng ra đi vì lòng chàng chưa yên!


   - Ta xin, ta xin nàng, đừng khóc nữa! Ta không chịu được nước mắt, mà lại là nước mắt nàng… Nàng đã hiểu ta! Dù biết thế nào là Phạm Lãi thế nào là Văn Chủng thì ta vẫn là ta. Ta phải đi hết con đường của số phận mình. Nhà Lê còn biết bao công việc bộn bề, chúa quá trẻ, chúa sẽ cần ta, dân cũng cần ta. Là trượng phu đội trời đạp đất, làm sao ta có thể vì sự yên ổn của bản thân mà trốn lánh? Nàng biết đấy, vinh hoa ta không màng, phú quý ta không cầu nhưng có những công việc mà không đưa vai gánh vác, ta không còn là ta nữa! Trong những việc như vầy, sinh tử với ta không còn là chuyện phải bàn! Điều duy nhất ta lo lắng là việc làm của ta sẽ liên lụy tới nàng…


  - Đừng nói thế, xin chàng đừng nói thế! Lo là thiếp lo cho chàng, còn với thiếp, không có điều gì lớn hơn tình yêu của chàng. Chỉ cần được chàng yêu, thiếp sẽ theo chàng tới cùng trời cuối đất!


    Nắng đã nhạt, trong rừng trở nên âm u. Hai nguời xuống núi theo lối mòn ban sáng. Dưới chân núi, một xóm nhỏ bình yên bao bọc bằng cánh đồng lúa xanh thì con gái. Trên bãi cỏ cạnh làng, đám mục đồng chăn trâu thổi sáo. Tiếng sáo véo von vút lên tận tầng mây. Những con sáo đá sáo sậu quen với đàn trâu và đám trẻ bay lên bay xuống lưng trâu kiếm ăn, hót ríu ran không khác chi lũ trẻ vô tư tranh nhau chuyện trò sôi nổi. Trên không, những đám mây nhẹ bay từ phía biển vào. Những cánh diều phất cậy* màu nâu nhạt lửng lơ giữa trời xanh, cùng mây trắng. Từ trên không tiếng sáo diều vang vang tạo thành bản hòa tấu êm đềm. Nguyễn nghe kể rằng, hội chơi diều vùng này rất sành. Hàng năm đều có cuộc thi xem diều ai đẹp, bay cao và tiếng sáo của ai hay nhất. Phần thưởng chỉ là vuông lụa điều. Tuy nhỏ nhưng là vinh dự lớn kèm theo sự may mắn nên ai cũng gắng làm diều cùng (*Cậy: cây thuộc giống Hồng, trái nhỏ, nhựa rất chát. Ngày trước thường lấy nhựa từ trái cậy để quét lên diều, chống được mưa hay sương. Cũng dùng cậy bồi bìa và gáy sách rất bền lại không bị mọt ăn.) sáo tốt nhất. Diều được làm thường xuyên nên mỗi ngày thường có thêm những cánh diều cùng tiếng sáo mới. Các vị đứng đầu hội diều có óc thẩm âm tinh tế nên hàng trăm chiếc diều với hàng trăm bộ sáo mà vẫn giữ được hòa âm, không bị lạc điệu. Mỗi khi nghe một tiếng sáo lạ, các vị cùng bình phẩm. Tiếng sáo nào bị chê là lạc điệu, phá cách, chủ nhân cũng đành vui vẻ nghe theo, hủy bỏ để rồi cố làm bộ sáo hay hơn… Im lặng lắng nghe tiếng sáo một lúc lâu, Nguyễn nói:


    - Nàng thấy không, ngay trong tiếng sáo này cũng thể hiện mối hài hòa của vũ trụ. Tiếng trúc của mục đồng là nhân sáo, tiếng bầy chim là địa sáo, còn tiếng sáo diều là thiên sáo. Đấy là âm nhạc của cuộc sống. Chỉ cần nghe ba âm thanh ấy, kẻ trí biết rằng thời trị hay loạn. Nàng hãy nghe, tiếng thiên sáo từ trên trời vọng xuống trong ngần, êm ả. Không bị phá cách, không lạc điệu. Đấy là sự hài hòa.


     Tiếng nhân sáo cất lên cao vút sảng khoái như con người chắp cánh bay lên với ước mơ, với hồn trong sáng. Còn địa sáo tiếng chim khỏe vui của đất tưng bừng dồi dào sự sống… Âm thanh như ta nghe hôm nay là âm thanh của thái bình, của thiên địa nhân giao hòa.


 


 


                         CHƯƠNG  HAI


   Năm Kỷ Mùi Thiệu Bình thứ sáu là năm đặc biệt của vương triều Lê Thái tông. Như thân cây mảnh dẻ sau nhiều năm bị cớm nắng dưới bóng quyền thần, nhà vua đã vươn ra ánh sáng, muốn khẳng định bản lĩnh thiên tử của mình. Ngài quyết định năm sau, Canh Thân sẽ đổi niên hiệu, mở ra khúc ngoặt mới cho Đại Việt. Chuẩn bị cho cuộc đổi mới ấy, lễ thánh tiết năm nay ngài không dùng tên Kế thiên như mọi năm mà đổi thành Vạn thọ thánh tiết. Ngài muốn rằng ngày đó phải được cử hành thật long trọng. Ngoài thông lệ là các quan vào Điện chúc thọ rồi hoàng thượng ban yến cho bá quan, năm nay còn có biểu diễn múa kiếm tại sân rồng, trình diễn múa và dàn nhạc lễ của quan Đô giám trung thừa…


   Hai năm trước, sau khi bất đồng với Lương Đăng trong việc làm nhạc lễ, quan Hành khiển Nguyễn Trãi trả việc nhà vua rồi xin về Côn Sơn trí sĩ. Vào tiết Vu lan năm nay, nhà vua thấy lòng không thanh thản nên đã cho mở cái hòm vàng chứa di ngôn của Tiên đế, trong đó ngài đọc được dòng chữ ghi lại lời của vua cha lúc sắp băng. Đọc những dòng chữ do sử quan ghi, Thái tông bỗng nhớ lại buổi chiều tháng Tám sụt sùi mưa năm ấy. Là đứa trẻ sắp mất cha, nhà vua đã khóc khản cổ bên long sàng, có nghe cha nói nhưng nào biết nói những lời gì! Vì vậy, một thời nhà vua theo bản năng của đứa trẻ được nuông chiều, đã từ chối việc đưa quan Thừa chỉ Nguyễn Trãi vào cung làm thầy học. Trong giây lát, lòng trắc ẩn rung động, nhà vua cảm thấy hối tiếc và ân hận nên đã xuống chiếu cho Lê Trãi giữ chức cũ, kiêm Trung thư sảnh tri tam quán sự đồng thời cho quản cả việc quân dân hai đạo Đông, Bắc để ông vẫn được ở quê nhà vui cùng sơn thủy. Tiếp chỉ của nhà vua, Lê Trãi hồi kinh bái nhận rồi bắt tay vào công việc, định rằng tới dịp thánh tiết sẽ về triều tạ ân. Vì vậy năm nay ông về Thăng Long sớm. Trong buổi chầu, ông dâng tấu báo cáo tình hình quân dân đạo An Bang cùng biểu tạ ân. Hai bản văn được dâng lên, nhà vua đặt bản cáo trên án trước mặt mình, còn biểu tạ ân, sai quan Ngự sử Bùi Cầm Hổ đọc. Quan Ngự sử vái nhà vua, nhận bài biểu rồi hắng giọng:


     - Vinh lộc đại phu Nhập nội Hành khiển Môn hạ sảnh tả ty hữu gián nghị đại phu kiêm Hàn lâm viện Thừa chỉ học sĩ tri tam quán sự đề cử Côn Sơn Tứ phúc tự Á đại trí tự tứ quốc tính Lê Trãi, rất lo rất sợ, cúi đầu rập đầu kính tâu:


   Ngày hai mươi năm nay, kính đội thánh ân, trao cho thần chức kể trên, thần đã bái nhận rồi, nay kính cẩn dâng biểu tạ ân.


   Cúi nghĩ: Sáu chục tuổi xuân tàn, chức vụ đã yên phận mọn; chín trùng trời chiếu xuống, móc mưa lại đội ân trên.


   Xét mình biết thế là vinh; nghĩ bụng lại càng thêm thẹn.


   Thần, tấn thân dòng cũ, chương củ nho hèn.


   Chuyên đọc Điển Phần, chí những muốn việc cổ nhân đã muốn, để tâm dân chúng, mình trước lo điều thiên hạ phải lo.


    Đương quốc gia thảo muội ban đầu; vừa chân chúa phong vân gặp hội.


     Cửa viên ruổi ngựa, làm việc lớn mà nửa đời trung nghĩa được tròn; miệng hổ giấu mình, quyết nghị hòa mà hai nước can qua đều nghỉ.


    Đặc ân may được, chính chức dự vào.


    Nói tất nghe mà kế tất theo; công đã thành mà danh đã toại.


     Chia bảo phù, ban thái ấp, chung ngựa trắng ăn thề; mua ghen ghét, chuốc dèm pha, chợt nhặng xanh nhơ vết.


    Mới biết quả hợp thì người khó thích; để cho trong trắng thì bẩn đã dây.


    Nếu không được Tiên đế xét rõ đáy lòng, thì hầu khiến tiểu thần ngậm cười dưới đất.


    Việc qua đã hẳn, lòng còn thẹn chi.


    Kim mã ngọc đường, vật cũ rốt thu lại được; thanh thiên bạch nhật, lòng trung được chút tỏ ra.


    Sao vãn cảnh đã xế bóng tang du, mà thanh mộng còn vương nơi kim khuyết?


    Tài hèn sức yếu, đầu bạc lòng son.


   Nào ngờ lúc hài cốt xin về, lại được mệnh vân tiêu  ban xuống.


   Kính thấy Hoàng đế bệ hạ, trên đầu sáng rỡ, rộng rãi khôn lường.


   Đế Nghiêu là thánh là thần, biết người rất rõ; đại Thuấn thích nghe thích xét, đãi chúng lấy khoan.


   Chọn người hiền không cứ loại nào; dùng người tài xem như mình vậy.


   Kén người thì rau phỉ rau phong đều hái; đức tài thì đồ thô đồ méo không quên.


   Thương thần như ngựa đến tuổi già, còn kham rong ruổi; cho thần như thông qua năm rét, càng dạn tuyết sương.


  Quần môn mặc kệ dèm pha; thánh ý cứ bền tín nhiệm.


  Khiến cho suy nát trở lại sáng tươi.


   Chức giữ Đông đài, thực việc triều đình rất trọng; việc kiêm Tam quán, ấy điều nho giả cực vinh.


   Huống ban quốc tính để rạng tông môn; lại với công thần xếp cùng hàng liệt.


   Cảm mà chảy nước mắt, mừng mà sợ trong lòng.


   Tự nghĩ ngu hèn, sao cho xứng đáng.


    Thần gìn giữ bền tiết cũ, mong kịp người xưa.


   Bể rộng non cao, chưa báo được quyên ai chút đỉnh;


   Trời che đất chở, dám đâu quên ân đức lớn lao!


   Ngự sử Bùi vừa dứt lời, các quan liền tung hô vạn tuế ba lần. Chờ cho mọi người im lặng trở lại, nhà vua nói với Trãi:


   - Vào dịp Vu lan, trẫm có việc đọc lại những ý chỉ của Tiên đế, đã tìm thấy lời Người nói trước lúc lâm chung : “Ngày dấy nghiệp, Lê Trãi giúp ta có công lớn. Khi đại định, tuy không dùng được Trãi nhưng ta vẫn biết tài lương đống cùng lòng trung son sắt của ông ta. Lê Trãi như cây gỗ lim giữa rừng Lam Sơn, càng già càng quý, ta dành ông ta để lại cho ngươi làm trụ cột chống đỡ giang sơn nhà Lê. Chớ quên lời ta!”  Vâng theo di huấn của Tiên đế, trẫm đã trọng dụng, nâng khanh lên hàng đầu của công thần. Trẫm mong khanh hết lòng vì nước!


 


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Thị Lộ. Tiểu thuyết lịch sử của Hà Văn Thùy. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 17.08.2017
Cõi mê - Triệu Xuân 17.08.2017
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 17.08.2017
xem thêm »