tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19994659
Truyện ngắn
04.12.2012
Vũ Bằng
Mười cái trứng diệc

Câu chuyện bắt đầu từ một cô gái Lèo có đôi chút nhan sắc làm cho một “trự” Bồn Kèn lưu ý.


Tụi này tên thực là gì, bây giờ chẳng có ai nhớ nổi, nhưng cho tới khi thế chiến thứ nhì, ở đây người ta vẫn nhắc tới y và kêu là “anh Ba Bồn Kèn”. Nhắc tới, không phải vì y có thành tích trong cái đời đâm chém, đánh lộn với các du côn “xóm Dọn Bàn” hay “Mạt má hồng” hoặc “Lăng Xi Bê”. Người ta nhắc là nhờ cái tiếng đã lăn lộn trong đám “Bồn Kèn” y được mật thám Tây hồi đó thu dụng làm gia nô, cho một cái chức “Phòng vệ dân sự” – Nghĩa là cái chức hạng bét bây giờ. Lúc rảnh thì đi điểm chỉ mà về Sở thì đánh đập tội nhân để lấy cung và khảo tiền luôn thể.


Không biết Ba Bồn Kèn ăn mắm ăn muối gì vào miệng, cứ động nói tới ai thì người ấy chết. Chết vì không có tội cũng thành có tội, mà tội nhỏ, gặp y, cũng thành tội lớn, nhưng bất kỳ tội nhỏ, tội lớn mà gặp y tra tấn thì cũng thấy ông bà ông vải, chẳng có một tia hy vọng gì còn nhìn thấy vợ thấy con. Là vì các cách tra tấn của y tân tiến vượt bực, hai Việt gian họ Trần và họ Huỳnh cũng chỉ ác đến thế mà thôi. Người ta bảo rằng y nghĩ ra được nhiều lối tra tấn độc địa như thế vì y đã trưởng thành từ Bồn Kèn và đi từ Bồn Kèn mà ra.


Thế thì Bồn Kèn, ba bốn chục năm về trước ở Sài Gòn là cái gì mà lại có tiếng dữ dằn như thế? Hồi đó, ở trước Tòa Đô chính bây giờ có một con kinh, trên kinh này, có một cái cống kêu là “Cống Cầu Dầu” vì dân ở chung quanh cống ấy chuyên bán dầu để ăn và thắp đèn. Pháp chiếm miền Nam được ít lâu thì lấp con kinh đó, làm con đường trước đây kêu là “đường Kinh Lấp” mà Tây thì gọi là đường Charner.


Đến ngã tư con kinh lấp đụng một con kinh khác. Tây lấp nốt, thành ra đường Bonard (tức Lê Lợi bây giờ). Hồi mồ ma Pháp, hai con đường ấy sang trọng vào bậc nhất, toàn là Tây ở, hè đường toàn là Tây đi, muốn cho người Việt được hưởng cái văn minh, văn hóa của Tây, họ xây ở ngã tư, ngay chỗ bể phun nước bây giờ, một cái bể cao hình bát giác, mỗi chiều thứ bảy lại bê một vài chục chú lính đến thổi kèn bú-rích ầm ĩ cả một góc trời.


Bây giờ nhạc ta bắt chước nhạc giựt gân của Mỹ, không có xó xỉnh nào không có, thành ra là thường, chớ phải biết hồi ấy mà lưởng vưởng đến gần, nghe một tí nhạc Tây ở ngã tư Bồn Kèn thì... nhất, chẳng khác gì dưới thời ông Nhu, ông Diệm được vào ngồi Givral hay Brodard ăn bánh ngọt, uống nước trái cây nghe nhạc soul, Hully gully tự do dân chủ.


Thét rồi, cả những người bồi dọn bàn ở các cái quán chung quanh Bồn Kèn cũng thấy mình “nhất” luôn vì được làm hầu chủ Tây, dựa hơi hám của chủ và nhờ thế thần của chủ. Họ hung hăng chửi thề, không còn coi ai ra gì. Rồi thành ra du côn lúc nào không biết. Tự đeo vào ngực một cái nhãn con thêu mấy chữ “anh chị Bồn Kèn” họ hết gây sự với du côn xóm “Dọn Bàn” lại ăn thua đủ với “anh chị Bến Tàu” bên Khánh Hội và không tha cả các tay chơi “Mạt mà hồng” “Lăng xi Bê”.


Vậy, anh Ba Bồn Kèn của chúng ta xuất thân từ thế giới du côn vừa nói đó. Hồi ấy đã làm gì có súng Colt, súng Mac; súng Map, súng Parabellum, mỗi khi đụng độ giữa các phe liên hệ, họ chỉ nói chuyện với nhau bằng quả đấm sắt, dao tu, củ chì, roi gân bò...


Chính anh Ba Bồn Kèn bước vào ngành phòng vệ dân sự với rất nhiều kinh nghiệm theo lối đó, chẳng mấy lúc nổi tiếng là “bậc thầy” trong công cuộc tra tấn các tội nhân tại khám lớn Sài Gòn.


Nói đến chuyện tra tấn ở miền Nam, bây giờ những người có tuổi đều nhớ đến những “kỳ công” của Tri phủ Trần và cảnh sát Huỳnh, bợ Pháp tàn sát đồng bào ác liệt đến nỗi chính toàn quyền Doumer phát tởm, sau này viết “Ký ức Đông Dương” phải hạ chúng xuống hàng dê chó. Ai phản đối Pháp, không ra quy thuận, bắt cha mẹ vợ con bêu đầu, trẻ con bỏ vào lòng cối giã gạo sai lính dùng chày lớn quết như quết nem...


Cộng với những phương pháp tra tấn ác độc ấy, anh Ba Bồn Kèn lại còn đưa ra bao nhiêu phương pháp hành hạ mới rút tỉa trong đời anh chị, khỏi nói ai cũng biết gớm ghê đến chừng nào. Ai cũng sởn óc mỗi khi nghĩ tới hai lối tra tấn độc đáo do anh chế tạo; một là cho lính cầm hai cái dao con chó, đứng ở đàng xa, chạy lại phía tội nhân đứng đâm trúng vào hai con mắt, xoáy lia lịa để lấy trọn hai cái tròng mắt ra, hai là lấy đinh tám chín phân đóng vào nửa mười đầu ngón chân, mười đầu ngón tay của tội nhân, bắt khai những tội ác mà họ đã làm hay không làm.


Chồng của chị phụ nữ Lèo là một trong những người rơi vào nanh vuốt của anh Ba Bồn Kèn. Chị tên là gì? Mà chồng chị tên là gì? Không ai biết rõ. Người ta thấy mũi anh hếch lên gọi là Nồng Hếch. Thế thôi, chồng chị là Nồng Hếch, vợ là chị Nồng Hếch. Họ sống một cách tối tăm, cơ khổ trong một túp lều lợp bằng lá ở con đường Yersin bây giờ (hồi đó kêu là đường Borết).


Cho đến giữa thế chiến thứ nhì, con đường này vẫn còn đầy rẫy những ao lầy. Sau này Xã trưởng Cuniso mới cho lấp để xây tòa chợ mới. Nhưng lúc câu chuyện này xảy ra thì con đường Bơrết là con đường kỳ lạ nhất mà dơ bẩn cũng vào hạng nhất ở Sài Gòn. Chị em gái mại dâm Âu châu gồm những ả tứ chiếng giang hồ nào Hy Lạp, Lô Ma Ni, nào Nhựt, Ba Nhĩ Cán sống chung đụng với gái chơi người Việt, làm tiền các lính sơn đá và sờ đùi bóp vế ngay ở giữa đường. Về sau, bọn gái mại dâm Âu châu bị gái mại dâm Việt Nam tranh mất khách nhiều, đánh lộn một trận tơi bời rồi kéo về đường Philippini, Ếtbanh, Mạc má hồng, lập một xóm Bình Khang khác. Một lớp người Lèo ở lại đường Bôrết lập chòi lá lên để ở. Đó là xóm Mọi Lèo, nhưng không phải chỉ có người Lèo ở thôi đâu, mà còn có cả người Chàm, người Miên, người Mã Lai nữa. Những người này vào thời đàng cựu, bị bắt bán mọi. Người Pháp, khôn ngoan lèo lái, lấy lòng họ, ra thông cáo phóng thích và dồn họ cả vào đường này. Họ sống như những con vật trong sình lầy: có người cởi trần, đóng cái khố một, có người mặc quần áo rách rưới bê tha.


Mà họ sinh sống bằng gì? Nhặt củi khô, tìm nấm ở trên rừng, đốn lá dừa nước đem về đan gầu lá để múc nước giếng.


Anh Nồng Hếch làm cái nghề sao nghèo quá, thỉnh thoảng lại phải đi vay tiền để ăn. Vay mãi, ai cũng chán, duy còn có một người Chàm tên là Chế Bun thương vợ chồng anh, thỉnh thoảng lại kêu vợ chồng Nồng Hếch cho ăn nhờ.


Chế Bun là một thầy ngải tương đối kiếm được tiền hơn cả xóm. Là vì lúc ấy gái mại dâm vẫn còn vô số kể ở đường này. Bây giờ đĩ điếm ta “bắt” Mỹ, lấy Phi, thiếu gì phấn, nước hoa hảo hạng, nhưng hồi đó các ả chơi bời làm gì có mỹ phẩm phi thường ấy? Họ lấy phấn chì, dùng thoa bẹn trẻ con để trét vào mặt và dùng giấy bao nhang bết vào môi, để “chài” lính săng-đá chơi bời, kiếm mỗi “pát” dăm xu nhỏ hay một cắc, thằng nào hung lắm cho đến cắc rưỡi, hai cắc thì được coi là “tay tổ”.


Cố nhiên ả nào cũng muốn “bắt” được một thằng “biết chi tiền ra gì” thành ra có đồng nào các ả tìm đến Chế Bun nhờ làm “ngải yêu”, “ngải nói”, nghĩa là có hai thứ ngải đó thì nói câu gì trai nghe liền, liếc mắt đưa tình thì trai bị “hớp hồn” luôn tức khắc.


Luyện ngải như thế, Chế Bun không đặt giá nhất định. Tùy tâm, muốn trả bao nhiêu thì trả, có cô cho ba cắc, có cô cho cả một đồng bạc con ó nữa – Ghê chưa?


Không hiểu vì duyên nợ ra sao, Nồng Hếch được Chế Bun thương lắm, mỗi khi phải đi xa vài ngày lấy ngải, anh vẫn nhờ vợ chồng Nồng Hếch sang trông nhà giùm và không quên để lại một hai cắc để mà xài vặt.


Cái hôm Nồng Hếch bị bắt giải đi, Chế Bun là người buồn nhất. Anh chạy đi chạy lại để hỏi thăm tin sốt sắng nhất. Còn lâu lắm Chế Bun chưa hết ngạc nhiên về vụ bắt bớ này. Thực thà, hiền lành đến như Nồng Hếch là hết sức rồi, vậy mà không hiểu chếch mác gì đâu, thù hằn ra thế nào, có đứa gắp lửa bỏ bàn tay lại đi tố cáo y dính líu vào một vụ ăn trộm cây ở Hãng tàu chạy biển có gắn đôi rồng bằng đất nung trên nóc [1].


 


Tuy nhiên, tội ấy chỉ là tội nhỏ, phải chi Nồng Hếch được trời cho có của – không nhiều chỉ dăm ba đồng cũng đủ sức rồi, thì y bị giam dăm bảy bữa, nửa tháng cũng được thả ra. Nhưng anh ta lại mắc một cái tội lớn khác, không cách gì tha thứ được: cái tội có một chị vợ trông khá ngon lành, mặc dù hơi đen một chút.


Anh Ba Bồn Kèn thấy chị, ngay hôm đầu tiên chị xin phép đem một nắm cơm và một con khô vào nuôi chồng trong khám. Anh Ba Bồn Kèn tác sác, tác oai:


– Mày là vợ thằng Nồng Hếch hả? Mày có biết rằng nó sắp chết chém vì ăn cắp đồ của hãng tàu chạy biển không?


Nghe thấy nói thế, chị Nồng Hếch rụng rời, lảo đảo muốn té xỉu ngay tại đó. Vốn là một người đàn bà ngu muội, không biết gì, lấy chồng từ mười ba tuổi và chỉ biết thương chồng, nhờ cậy vào chồng mà tự nhiên lại thấy chồng mình sắp bị chết chém, chị nghĩ liền: “Nếu chồng mình chết, mình cũng sẽ chết luôn, sống làm sao cho nổi”.


Chết chém, chết chém là thế nào? Thực tình chị chưa trông thấy một ngươi bị chết chém bao giờ, nhưng từ thuở nhỏ, chị đã được nghe thấy các ông bà già cả nói đến những tên giết người, ăn trộm bị chém đầu ngay ở gần đường Bôrết, tại ngay chính cái chỗ sau này lập nên thánh đường “Đức Bà Mông Triệu” sau chuyển về chỗ tòa phá án (ở cuối đường Nguyễn Huệ, bên hông Chợ Cũ bây giờ). Theo lời kể lại thì chém đầu khiếp lắm: không chém bằng máy đâu, nhưng chém bằng tay, bằng đại đao, hươi lên trời, chém có đến hàng chục nhát cái đầu mới rời khỏi cổ, máu tuôn ra như suối. Chị nhớ lại mang máng có ông già bà cả lại còn nói rằng hai cái đại đao chém đầu người, sau khi dẹp cái pháp trường ở Chợ Cũ rồi, vẫn còn được giữ gìn cẩn thận, treo ngay ở chỗ ngồi của viên chủ ngục tên là Agốtrini tại khám lớn cũ Sài Gòn và đêm đêm có tiếng kêu rộn ràng.


Anh Ba Bồn Kèn quắc mắt lên hỏi tiếp:


– Mày có biết thế không?


– Dạ không.


– À, mày không biết hả? Thế thì tao sẽ cho mày biết ngay bây giờ.


Thế là ngay lúc đó, chị Nồng Hếch cũng bị bắt luôn, nhưng ngay từ hồi đó Tây đã tổ chức tương đối chu đáo: đàn ông giam riêng nên anh Nồng Hếch không biết là vợ bị bắt, mà chị Nồng Hếch tiếng là cùng bị giam một nơi với chồng mà cũng không được trông thấy mặt chồng một lúc nào.


Hằng ngày, chị chỉ trông thấy anh Ba Bồn Kèn kêu chị lên, hỏi vớ vẩn một vài câu vô nghĩa. Nhưng rồi chị cũng hiểu ý nghĩa của những câu hỏi đó: Anh Ba thương chị hiền lành, muốn cứu chồng chị ra khỏi nơi tù ngục. Không, chị cũng chẳng cần phải lễ lạt lôi thôi, sự dễ dàng sẽ thả cả vợ chồng chị một ngày gần nhất, miễn là... ờ, miễn là chị phải ngoan ngoãn, bảo sao nghe vậy, biết không?


Chị Nồng Hếch tuy ngu, nhưng hiểu bằng trực giác. Chị ngoan ngoãn với anh Ba Bồn Kèn. Anh Ba vừa ý lắm. Và y như rằng: sau nửa tháng bị giam giữ, vì không có tội tình gì cả, chị Nồng Hếch được tha, nhưng anh Nồng Hếch thì chết ở trong khám đường vì không chịu nổi cực hình bị đóng đinh vào mười đầu ngón tay và mười đầu ngón chân.


Nghe được tin ấy, chị Nồng Hếch khóc không còn nước mắt. Xin xác chồng đem về nhờ Chế Bun lo ma chay, chôn cất xong xuôi, chị mới ngồi nhớ lại từ đầu đến đuôi biết là đã bị người ta lợi dụng và lừa đảo. Riêng cái việc phó tấm thân trong sạch của mình làm trò khiển muộn cho thằng đàn ông đầy thú tính, chị không để ý mấy chút vì theo óc giản đơn của chị, cái việc đó không quan hệ. Nhưng chị uất hận không để đâu cho hết một khi nghĩ rằng Ba Bồn Kèn đã đánh lừa mình. Bao nhiêu hy sinh chẳng đi tới đâu, một mặt cứ giày vò thân xác chị mà mặt khác thì cứ thẳng tay tra tấn chồng chị cho đến chết mới nghe. Nhưng uất hận thế thôi, chớ làm gì được anh Ba Bồn Kèn? Y thế lực như trời, đụng ai chết nấy, mà mình là cái gì nếu không phải là một thứ dòi, thứ bọ sống không ai đếm xỉa mà chết cũng chẳng ai thèm biết!


Chị chỉ còn biết khóc, khóc cả đêm cả ngày.


Thế rồi một hôm chị nằm mơ thấy chồng hiện về khuyên chị: “Số tôi thực ra chưa hết, nhưng không hiểu Ba Bồn Kèn thù hằn gì tôi mà hành hạ tra tấn tôi tàn ác như thế, khiến cho tôi bị chết oan, chết uổng. Dẫu sao, bây giờ cũng chẳng có cách gì cứu vãn được nữa. Mình nên quên tôi đi và lo làm lo ăn để nuôi đứa con của chúng ta mà em mang thai tháng trước khi anh bị bắt... Anh đã về thăm Chế Bun rồi và nhờ ảnh giúp đỡ cho mình vào rừng đốn lá dừa nước đem về đan gầu lá múc nước giếng lấy tiền sống qua ngày...”.


Ba tháng sau, chị Nồng Hếch sanh được một đứa con trai. Đến thăm Chế Bun, anh này cho biết rằng thỉnh thoảng nằm mơ anh vẫn thấy Nồng Hếch hiện về nói với anh ta, nhờ trông nom giúp vợ con và thỉnh thoảng Nồng Hếch lại khóc ròng vì bị Ba Bồn Kèn giết oan. Anh ta chết tức tưởi, nếu Chế Bun còn thương thì nghĩ cách trả thù cho y, nếu không thế thì không có cách gì siêu thoát được.


Chị Nồng Hếch thẫn thờ một giây lâu hỏi:


– Trả thù được lắm, nhưng trả thù bằng cách gì bây giờ?


Chế Bun nói:


– Chính tao cũng suy nghĩ mãi mấy đêm nay rồi.


Vừa nói Chế Bun vừa ra đóng cánh cửa liếp lại, nhìn một lần nữa phía ngoài coi có ai nghe trộm hay không, đoạn ghé tai vào chị Nồng Hếch nói nhỏ:


– Hẳn mi cũng biết nghề của tao rồi?


– Biết.


– Tao nói thiệt, tao có thể chài ếm cho nó chết mà không phải sợ tội với trời vì nó ác quá, nên nó mới chết, cũng không oan uổng gì. Nhưng chài không được, mi à...


– Sao vậy?


– Chớ mi không biết hay sao? Muốn làm cho nó chết, nhất định phải được, bởi vì tao biết, đa số người bây giờ không tin chài ếm, không tin tại sao lại có thể phù một miếng da trâu, một hòn đá, một mùi giẻ, ba con vật hay một đống kim vào trong bụng kẻ mà mình định hại, nhưng tao đã hành nghề này từ nhỏ, tao biết tất cả những cái đó đều có thực, không đặt để một ly nào. Chính tao đây có thể chài Bồn Kèn cho chết. Duy có một điều bất công và hơi khó một chút là muốn chài ếm ai, phải có một vài điều kiện tối cần: phải biết tên, biết họ, biết tuổi chính xác của nó, nếu không phải là một tấm hình của nó, mà nếu không nữa thì phải có một ít móng chân móng tay hoặc một ít đất lấy ở nách, bẹn, eo ếch nó hoặc một cái quần, cái áo của nó mặc, có hơi hướng của nó mới làm việc được. Mà trong vụ này, mày làm thế nào lấy được một trong các thứ đó? Lấy mà lộ, mày chết mà chính tao cũng chết. Không tội gì mà làm như thế, ta phải tìm một cách khác nghe chưa?


 


Chính hôm nói chuyện với vợ Nồng Hếch như thế, thì đêm về nhà vừa mới thiu thiu ngủ, Chế Bun lại thấy Nồng Hếch hiện về. Lần này, Nồng Hếch nói chuyện vui hơn những lần trước và kể lại cho Chế Bun nghe những ngày đen tối ở trong ngục thất, Ba Bồn Kèn hành hạ anh ta bằng cách đóng đinh vào mười đầu ngón tay, mười đầu ngón chân. Anh nói:


– Cái thứ người gì kỳ cục quá anh à. Nó quả là một thứ quỷ. Trông thấy người khác đau đớn quằn quại, nó ăn mới ngon, không thế cơm vàng nuốt vào miệng cũng không trôi. Chính nó tra tấn các tội nhân. Bao giờ cũng để sẵn ở trên bàn một hai chai rượu với một vài món nhậu. Có khi tự nó khảo đả, có khi nó cho tụi đàn em tra tấn. Nạn nhân đổ máu, đui con mắt ngất lịm đi, nó khoái chí, uống luôn mấy tớp rượu rồi ăn nhồm nhoàm, cho tới khi nào tội nhân chết ngất hay chết thật nó mới chịu thôi và gọi đến phiên người khác vào để cho nó hành.


Mơ mơ màng màng, dở thức dở ngủ, Chế Bun hỏi Nồng Hếch:


– Vậy sao?


– Đúng như thế, tôi không đặt để. Mà anh có biết quanh năm suốt tháng nó nhậu nhẹt gì không? Nó uống rượu bao giờ cũng chỉ nhậu một món không thay đổi... Không, nó không ăn được thịt mà cũng chẳng ăn rau. Bữa nào nó cũng chỉ có một món trứng: trứng cá, trứng gà, trứng vịt, trứng ngỗng, trứng le le, trứng cút... Tóm lại, cứ trứng là nó ăn, ăn một cách thích thú, say sưa, vì nó cho là bổ dương, tráng khí...


Sáng hôm sau, Chế Bun sang nhà Nồng Hếch thật sớm, trước khi chị đi rừng đốn lá. Anh nói:


– Cả đêm qua, tao không ngủ được.


– Sao vậy?


– Tao lại nằm mơ thấy nó về. Câu chuyện nó nói làm cho tao suy nghĩ lung, thành ra thức cho đến sáng. Tao tìm được ra cách rồi?


– Cách gì? Anh có thể cho tôi biết được không?


– Mày không cần biết làm gì cả. Tao sang đây chỉ là để hỏi mày một câu: mày có cách gì vào thăm thằng Ba Bồn Kèn được không?


– Được lắm chứ? Anh Chế quên rằng tôi đã bị giam ít ngày đó sao? Tôi vào thăm nó, chính nó không thể nghi ngờ được. Tôi sẽ nói rằng nhờ ơn nó mà tôi được thả chứ không đã chết nát xương như chồng tôi rồi còn chi, cái ơn của nó đối với tôi như trời bể, không thể nào quên được.


– Hay lắm, vậy là có thể coi như việc xong rồi. Nhưng tao dặn trước mày không thể hành động sơ xuất, mỗi lời nói, mỗi cử chỉ phải tính toán, giữ gìn rất cẩn thận, nghe chưa?


– Nhưng mà tôi phải làm gì, nói gì, anh cần cho tôi biết trước để sắp đặt sẵn chớ.


– Được, khi nào cần, tao sẽ bảo mày.


Ngay sáng hôm sau, Chế Bun đi bộ vào Chợ Lớn, vào xóm “người Minh Hương” quẹo sang xóm “Chùa Quan Võ” tức là hai xóm nổi tiếng là trung tâm buôn bán lúc bấy giờ, cứ mỗi khi mưa hòa gió thuận thì thuyền buồm miệt Sơn Dầu chở hàng Trung Hoa sang bán tấp nập như cam tiều, cam quang, hồng khô, kim quýt, hàng lụa Bắc thảo, đường hạ, đường phổi, đường thẻ, đường phèn, không thứ gì không có. Hai cái chợ ở gần đó bán thượng vàng hạ cám, dọc ba bên lại có tiệm Hoa kiều tấp nập. Mua sỉ mua lẻ các thứ trứng chỉ có hai nơi này mới có đủ, nhất là “Chợ nhà lồng hình tam giác”.


Chế Bun đi đi lại lại trả giá mãi mới mua được mười cái trứng diệc – tức là trứng của con diệc, một loại chim ăn cá, cẳng cao, cổ cao, mỏ dài và đỏ, lớn hơn con cò. Trứng diệc có tiếng là bổ dương, ông lão bảy mươi ăn bảy bảy bốn mươi chín ngày có nhiều hy vọng sanh con. Nhưng có hai thứ diệc: một thứ diệc lửa, lông đỏ sậm và một thứ diệc mốc, lông trắng như mốc meo. Chế Bun mất công tìm kiếm hơn một tiếng đồng hồ để tìm cho đúng trứng diệc mốc vì hai lẽ: một là trứng diệc mốc có tiếng là đại bổ thận, hơn hẳn trứng diệc lửa, hai là lúc làm lễ thư vào quả trứng thì phép ngấm mau hơn và để lâu hàng tháng không bị “bay hơi”.


Ba đêm liền, Chế Bun đóng cửa lại vẽ một vòng tròn ở giữa nhà, lớn bằng cái nía ngồi xổm, ở bên trong đặt mười quả trứng vào giữa, vẽ bùa chung quanh, ngoài cùng thắp mười cây đèn cầy nhỏ, ánh sáng lung lay, mờ mờ tỏ tỏ như thể một cảnh dưới âm ty địa ngục.


Đến hết đêm thứ ba, Chế Bun ngậm từng cái trứng diệc vào trong miệng, nhả ra, đọc chú (để cho lưỡi không chạm vào hàm răng) mười lăm lần mỗi quả trứng, rồi lấy một cái bọc gói cả lại đặt lên trên một bàn thờ có treo hình một ông thần mắt tròn xoe, trông rất dữ, có hai bàn tay nhỏ thó từ hai con mắt chui ra.


Thế là xong. Nằm ngủ cả một đêm cho lại sức. Chế Bun sáng hôm sau mới đem cái bọc sang cho vợ Nồng Hếch và bảo:


– Đây, công việc của tao xong rồi, bây giờ đến lượt mày. Vì tình nghĩa vợ chồng giữa mày với thằng Hếch, vì tính mệnh của mày và của tao nữa, mày phải hành động rất cẩn thận nếu lỡ xảy ra điều không hay, nguy hiểm... Mày phải đắn đo, dò dẫm từng đường đi nước bước, từng lời ăn tiếng nói, để cho công việc thành tựu nghe!


Chị Nồng Hếch nghe Chế Bun nói, không hiểu gì, chị hỏi:


– Anh đưa gói này cho tôi làm gì? Mà trong đựng gì hở anh?


– Cẩn thận! Không được làm bể, đây là mười cái trứng diệc. Mày sẽ cầm cái gói như thế này, đem đến khám đường xin vào thăm Ba Bồn Kèn... Mày đã hiểu mày phải làm gì rồi chứ?


– Không, tôi có biết phải làm gì đâu?


– Mày sẽ nói với Ba Bồn Kèn như thế này: “Từ ngày được quan lớn sinh phúc, tha tội cho tôi về, lúc nào tôi cũng nhớ ơn quan lớn. Nhân vừa đây mới về thăm quê ở Châu Giang, tôi có mang được ít rau cải, trái cây, tôi mạn phép vào thăm quan lớn, trước là để chúc mừng quan lớn khỏe mạnh, thăng quan tiến chức, sau đó là có mấy cái trứng diệc mốc đem biếu quan xơi nước. Của nhà lá vườn... Xin quan lớn vui lòng nhận cho...”.


Vợ Nồng Hếch làm theo đúng lời của Chế Bun đã dặn.


Nghe thấy chị ăn nói mềm mỏng, ngoan ngoãn, Ba Bồn Kèn cười tít cả hai con mắt, cho phép chị ngồi uống nước và không quên nói mấy câu đưa đà:


– Mày chỉ vẽ chuyện thôi! Ơn với huệ gì! Tao tha cho mày là vì lòng nhân đạo, thấy ai oan ức, khổ sở tao không chịu được, chớ có mong gì đền ơn đáp nghĩa đâu. Nhưng mà thôi, mày đã mang quà biếu tao thì tao cũng nhận, không thế, mày không vui trong lòng...


Chị Nồng Hếch đi giật lùi ra cửa, cúi đầu lạy ba lần mới dám quay mặt trở lại đi về. Cả một đoạn đời đã qua lại lờ mờ hiện ra trong óc anh Ba Bồn Kèn: “Ờ, ờ nhớ ra rồi, con này là vợ thằng mọi Lèo mà ta đã “thưởng thức” cả một tuần lễ đây mà! Ngộ lắm! Nó nhớ ơn mình. Tốt! Bách ơi!”.


Bách là tên đầy tớ riêng vẫn hầu cận cậu Ba Bồn Kèn về cơm rượu.


– Có mấy cái trứng diệc này tươi lắm, mày đem vào luộc ngay cho tao. Và trong khi chờ đợi, vào làng cho tao một chai nếp than bách nhật nữa, nghe!


Bách mang rượu ra trước. Ba Bồn Kèn vừa uống vừa chờ trứng chín. Ngon, ngon lắm, uống rượu Tây mà đưa cay với trứng, nó lạ hoắc mà không thú vị. Ăn cái trứng này phải nhắm với rượu ta mới hợp giọng. Anh Ba ăn một quả, ăn hai quả, rồi uống hết cả chai rượu và nhấp hết luôn mười quả trứng diệc lúc nào không hay.


Còn lâu lắm Ba Bồn Kèn mới quên được bữa nhậu này. Anh lăn ra giường ngủ và mơ thấy ôm chị Nồng Hếch vào lòng, mà ở gần đấy thì anh Nồng Hếch trợn mắt lên nhìn Ba, lẩm bẩm những câu gì không rõ – nhưng hình như là đe dọa.


 


Tỉnh dậy, nghĩ lại giấc mơ qua, Ba Bồn Kèn cười một mình vì cái cảnh tượng thấy ở trong giấc mơ buồn cười thật.


Một người đã chết mà lại hăm dọa một người sống! Có đời nào lại có chuyện lố bịch đến thế hay không?


Ờ, cứ thí dụ Nồng Hếch còn sống nhăn, liệu y đã làm gì được Ba Bồn Kèn chưa? Những người có một khối óc mù mờ cũng như những người thành công sớm không bao giờ tin trời Phật hay số mệnh. Họ chỉ biết và chịu hiểu những cái gì mà họ thấy tận mắt, những cái gì mà họ sờ mó được, ngoại trừ đều là vô nghĩa, vô lý hết.


Hôm sau, Ba Bồn Kèn lại làm công việc như thường, đánh đập các can nhân tàn ác với hai phép gia truyền của y: lấy dao con chó đâm vào hai mắt phạm nhân để cho bật tròng ra và đóng đinh vào mười đầu ngón chân, mười đầu ngón tay cho phạm nhân chết dần.


Một hôm kia – tính ra đúng mười lăm hôm sau khi nhậu bữa trứng diệc do chị Nồng Hếch đem đến biếu – trong lúc Ba Bồn Kèn đang tra tấn một tội nhân đàn bà thì anh ta hoa mắt, ngã lăn đùng ra mặt đất, hai con mắt đỏ gay như cục tiết. Mọi người vực anh ta lên giường, kêu thầy thuốc lại coi thì bác sĩ lắc đầu, không hiểu gì hết. Anh ta không chịu ngồi im để cho bác sĩ nghe tim, bắt mạch, mà lại cứ nhảy chồm chồm lên như con gấu chó trong sở thú, hai tay đập vào ngực thình thịch mà miệng thì sùi bọt mép cả đống ra. Thế là bịnh quái quỉ gì? Đốc tờ khuyên nên đưa anh ta vào bịnh viện.


Người tin dị đoan cho là anh Ba bị “ma làm”, còn người tự cho mình là có óc khoa học quả quyết anh mắc bịnh thần kinh phải đưa vào “Chợ Lò Rèn” trị may ra mới hết bởi vì lúc ấy chưa có Dưỡng trí viện Biên Hòa như bây giờ mà chỉ có mấy căn nhà sập sệ ở chỗ nhà thờ Cha Tam hiện nay của Quận Mậu tài nghĩa là những tay thợ chuyên môn về ngành rèn dao, kéo. Đi qua dãy thợ rèn một chút, có ba gian nhà nằm trong một bụi cây của các cha cố người Bồ Đào Nha coi sóc. Đó là một nơi chữa chạy các người mắc bịnh điên. Nói là chữa chạy, nhưng nói thế là cho có mẽ đó thôi, chớ thuốc đâu mà chữa? Mà khoa học lúc ấy đã biết thuốc chữa điên ra thế nào! Các bịnh nhân đưa vào đó là để chờ ngày chết, thế thôi.


Ba Bồn Kèn cũng như các bịnh nhân khác, bị giam vào một cái chuồng sắt và bị nhịn đói nhịn khát cả tuần. Thay vì bị nhốt và bắt nhịn đói nhịn khát như thế Ba Bồn Kèn phát điên lên nhiều hơn nữa, nhưng không, anh ta lại tỉnh táo hết sức, không tỏ ra bịnh tật gì hết. Mỗi khi thấy có người đi qua mặt, anh ta kêu lại chuyện trò mạch lạc, và xin cho về nhà vì tự xét mình, anh thấy quả thực là anh không bị bệnh.


Có lẽ đúng anh Ba Bồn Kèn không mắc bịnh điên như người ta đã hiểu lầm nhưng “lên cơn” trong một lát rồi thôi, kiểu một người có “căn quả” bị đồng ốp làm cho mê sảng rồi sau đó trở lại nói năng, đi đứng, làm ăn bình thường. Không có gì lạ hết.


Ba Bồn Kèn được thả về nhà. Và y cũng trở lại làm nghề cũ. Nhưng có một điều hơi khác ngày thường một chút là bây giờ hai tay y đánh đập các tội nhân không được mạnh như trước nữa. Hình như gân cốt nhão ra, từ vai xuống đến mười đầu ngón tay, có một cái gì gậm nhấm, đục khoét, cào cấu làm cho ngứa ngáy khó chịu mà về đêm thì nhức nhối như thể có trăm ngàn mũi nhọn banh da xé thịt. Không có một thứ thuốc nào người ta mách mà anh Ba không kiếm mua cho kỳ được, nhưng tất cả đều vô ích, bịnh của anh mỗi ngày mỗi nặng thêm cho tới một ngày kia thì bịnh chuyển sang một thể khác, có lẽ chính y học bây giờ cũng không thể biết bịnh gì. Bắt đầu, hai cánh tay của anh nổi những cục u nần rồi xuống đến hai cẳng cũng thế. Những cục u nần đó thoạt đầu thì đỏ, sau tím lại, rồi đen kịt và làm mủ, loét ra, rỉ nước vàng, thúi hôi không chịu được, làm cho nhức nhối, mà nhất là ngứa, ngứa gãi rách thịt ra cũng chẳng ăn thua có khi lấy dao bào ló thịt ra cũng vẫn cứ ngứa như thường.


Như thế được chừng một tháng. Rồi bắt đầu từ ngón tay cái bên mặt, mỗi ngày một đốt rụng xuống như một nhánh cây khô... Một ngày rụng một đốt, có ngày rụng luôn một lúc hai ba đốt, mười ngón tay rụng hết mà rụng mau lẹ không khác nha cam tẩu mã, và cũng như nha cam tẩu mã, ở chỗ ngón tay rụng tiết ra một mùi hôi khẳm như mùi ba mươi tám con cóc chết.


Bây giờ thì cả mười đầu ngón chân, mười đầu ngón tay cụt cả, y như một người hủi cùn hủi cụt. Từ lỗ mũi, lỗ tai, mồm miệng và hai con mắt, một thứ máu đục lờ lờ ri rỉ chảy ra. Ba Bồn Kèn rên la như một con trâu bị búa đập vào đầu, nhức nhối trong ruột, trong gan không chịu được. Anh ta lăn lộn, đập đầu vào tường vách, cho cả cùi tay vào hai con mắt mà ray lia ray lịa. Rồi vật ra nằm một lúc. Nhưng chưa nằm yên một phút lại chồm dậy kêu eng éc.


Mấy ngày qua đi, hai cái tròng con mắt bật ra lúc nào không ai biết. Ở chỗ đó bây giờ chỉ còn trơ lại hai cái lỗ sâu hoăm hoắm như hai cái lỗ mà ta vẫn thấy ở trên đầu lâu người chết.


Ấy vậy mà Ba Bồn Kèn vẫn cứ sống thoi thóp như thế cả năm trời. Cuối cùng y không dậy được, hai tay, hai cẳng teo lại như tay chân đứa trẻ con. Thịt ở bên phía nằm nhiều mủn ra. Đến khi Ba Bồn Kèn tắt thở, người ta thấy có hàng ngàn, hàng vạn con dòi béo trắng bò lúc nhúc ở trên cái xác thối hoắc của y.


 


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học, 2002.


www.trieuxuan.info








[1] Nhà Rồng: Pháp gọi là Messageries Maritimes, trên nóc có gắn hai con rồng bằng đất nung, men xanh.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Anh Nhoàng - Triệu Văn Đồi 07.07.2017
Thần sông - Trịnh Bích Ngân 30.06.2017
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
Nghĩa địa bên sông Chanh - Ngọc Toàn 07.06.2017
Hoa khôi xứ Mường - Ngọc Toàn 01.06.2017
Ông chéo ngà, Bà rách tai - Ngọc Toàn 01.06.2017
Kẻ vô ơn - Ngọc Toàn 01.06.2017
Đầu Phạm Nhan - Ngọc Toàn 01.06.2017
Rắn hổ mang chúa - Ngọc Toàn 01.06.2017
xem thêm »