tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19732738
30.11.2008
Hà Văn Thùy
Hành trình tìm lại cội nguồn (17)

 


Trên mạng Diễn đàn ngày 28.11.2007, nhà văn Nguyên Ngọc có bài “Sáu linh hồn của người Xteng.” Bài báo ca ngợi những người cách mạng kiên trung hoạt động trong lòng Tây Nguyên và biểu dương cô giáo Phạm Thị Trung, hạt giống tốt đẹp của mối tình Kinh-Thượng trong những năm tháng kháng chiến cứu nước. Trân trọng tấm lòng của nhà văn với mảnh đất, con người cùng lịch sử Tây Nguyên nhưng đây là vấn đề học thuật, xin được bàn lại với ông đôi điều.


1. Dân tộc lớn, dân tộc nhỏ


Nhà văn Nguyên Ngọc viết: “Riêng tôi, đọc rồi, một lần nữa tôi trở lại với đinh ninh này: chắc chắn không có những dân tộc lớn và những dân tộc nhỏ, những dân tộc vĩ đại và những dân tộc ít vĩ đại hơn. Dân tộc Xteng của Phạm Thị Trung, mà cô bước đầu khám phá cho ta, chẳng lẽ lại ít vĩ đại hơn bất cứ dân tộc nào khác sao.”


Ý tưởng này không mới. Hơn một lần ta gặp ở đâu đó. Nhưng có thực vậy không?


UNESCO cho biết, mỗi năm có đến hàng trăm ngữ đang biến mất. Nhiều bộ tộc ở các đảo Nam Thái Bình Dương đang chết dần chềt mòn không thể cứu vãn! Người Mỹ dường như cũng bó tay trước cuộc diệt vong được báo trước của nhiều bộ lạc da đỏ! Dù đã tài trợ, nâng đỡ họ hết mình về vật chất nhưng nước Mỹ giầu mạnh cũng không ngăn nổi đà giảm thiểu nhân số và nhất là sự xuống cấp những chỉ tiêu phát triển của các bộ lạc này. Người thổ dân Úc không may mắn hơn. Tình trạng châu Phi cũng rất đáng lo ngại. Ngay ở nước ta, các phương tiện truyền thông cũng thỉnh thoảng báo động về những nhóm thiểu số thượng du phía Bắc có nguy cơ biến mất. Trong khi đó lại có những dân tộc dồi dào sức sống đang vươn lên trong ánh mặt trời. Do chọn lọc tự nhiên, những điều kiện cụ thể đã sinh thành một tộc người cũng là cái quy định vận mệnh của họ. Do vậy, ý tưởng về chuyện “dân tộc nào cũng như dân tộc nào” là không thực tế, phi khoa học, nghe có vẻ nhân đạo, nhưng đó là mong muống hư vô đậm mùi chủ nghĩa mị dân. Nhận chân sự thật này để có phương cách đối phó nhằm giảm thiểu sự bất bình đẳng sắc tộc mới là suy nghĩ thiết thực.


2. Người Xteng là ai?


Đầu thế kỷ trước, học giả người Pháp E. Aymonier cho rằng, người Việt từ phía Nam cao nguyên Thiên Sơn theo sông Dương Tử xuống sinh sống ở phía nam Trung Hoa. Từ thuyết này, kết hợp với thư tịch Trung Hoa,


L. Auruosseau cho rằng người Việt hiện đại (người Kinh) đã từ nam Trung Hoa di cư xuống, tiêu diệt và đẩy người bản địa Đông Dương lên rừng núi phía Tây. Từ những thuyết trên làm nảy sinh quan niệm, dân cư Việt Nam gồm nhiều dân tộc khác nhau, có nguồn gốc khác nhau. Từ đó trong văn bản chính thức ghi nhận: “Dân tộc Việt Nam gồm có 54 dân tộc anh em.” Đấy là một ngộ nhận. Tri thức mới nhất từ công nghệ di truyền cho biết, 70.000 năm trước, người hiện đại Homo sapiens gồm đại chủng Australoid và Mongoloid từ châu Phi theo bờ biển Nam Á tới Việt Nam. Hai đại chủng người tiền sử sống ở đây và hòa huyết tạo ra các chủng Indonesien, Melanesien, Vedoid và Negritoid. Từ đây người Việt lan tỏa ra khắp Đông Nam Á và đất Trung Hoa. Khoảng 7500 năm trước, nước dâng mạnh, lên tới tận Việt Trì, đẩy người Việt lên tận vùng núi cao phía Bắc và Tây Nguyên. Sau đó nước rút trở lại mức ngày nay, một phần lớn người Lạc Việt chủng Indonesien, Melanesien theo mức rút của nước trở lại chiếm lĩnh trung du và châu thổ Bắc Bộ. Khoảng 4600 năm trước, những người Việt thuộc chủng Mongoloid phương Nam từ lưu vực Hoàng Hà trở về hòa huyết với người tại chỗ sinh ra tổ tiên đại bộ phận người Việt Nam ngày nay. Những người Việt cổ ở lại Tây Nguyên trở thành các tộc người thiểu số. Dù có là Indonesien hay Melanesien, họ cũng cùng tổ tiên với người Kinh.


Từ bản “lý lịch trích ngang” trên, rút ra các sắc dân thiểu số Tây Nguyên là hậu duệ của người Việt cổ, tổ tiên chung của cộng đồng dân cư Việt Nam hiện nay. Như vậy, nếu thật chính xác, khoa học, phải nói: “Dân tộc Việt Nam (Vietnamese Nation) gồm có 54 sắc tộc.”


Trang mạng Đảng Cộng sản Viết Nam viết: “Dân tộc Xơ – đăng có khoảng 127.000 người, gồm các nhóm địa phương Cà – dong, Tơ – đrá, Mơ – nâm, Hà – lăng…” Trên thực tế, không hề có cái gọi là dân tộc Xteng và nói cho cùng, cũng không hề có “dân tộc Xơ Đăng”. Xơ Đăng, Bana, Brâu, Chơro, Xtiêng… là những tộc người (sắc tộc) nói ngôn ngữ Mon-Khmer.


Là một nhóm phân ly từ sắc tộc Xơ- đăng, về mặt văn hóa, người Xteng chịu tác động của quy luật “bảo tồn” và “biến dị”. Họ bảo tồn một số yếu tố văn hóa hiện không còn ở tộc gốc. Bên cạnh đó, ở nhóm mới này phát sinh những biến dị: cách phát âm khác, phong tục tập quán khác. Những biến dị này có thể hay mà cũng có khi dở. Cả cái hay lẫn cái dở lâu dần trở thành đặc điểm của một nhóm địa phương.


Vì vậy, việc coi nhóm địa phương hơn nghìn người này là một “dân tộc” để rồi khẳng định những nét văn hóa của nó là việc làm thiếu cơ sở. Rất có thể, trong khi phân ly thành nhóm nhỏ, “bộ nhớ” của những cá thể đầu tiên hoặc không mang đủ “túi khôn” của tộc mình nên truyền lại cho hậu thế kiến thức sai lạc. Hoặc do điều kiện sống mới, tập nhiễm những thói quen mới. Vì vậy, khi khảo sát văn hóa của người Xteng, trước hết phải so sánh văn hóa của họ với văn hóa gốc của tộc Xơ-đăng đồng thời cũng phải đối chiếu với văn hóa chung của cộng đồng Việt, nếu không sẽ dẫn tới những ngộ nhận đáng tiếc.


3. Liệu có vội vàng


Có thực tế thế này, sau năm 1975, người Mỹ nhận ra rằng họ biết quá ít về lịch sử văn hóa Việt. Để lấp khoảng trống này, nhiều nghiên cứu sinh sang Việt Nam. Họ cóp nhặt ba chớp ba sáng những sách chữ Tàu, chữ Tây và chữ Việt, mà phần lớn nếu không thiếu sót thì cũng sai lạc để vội vàng chế tác ra những luận văn tiến sĩ đem trình. Giáo sư của họ, những học giả còn ít biết về Việt Nam hơn, vội vàng OK, trao cho họ bằng tiến sĩ với những lời khen tặng. Kết quả là những công trình “khoa học” ấy sống cuộc đời của những con phù du!


Ở đây có điều gì tương tự. Những nghiên cứu sinh người thiểu số viết luận ăn mô tả những luật tục, tập quán… của địa phương mình, đem trình những ông thầy người Kinh. Những vị này vốn tri thức về văn hóa Việt còn hạn chế liền coi đó như những phát hiện độc đáo, cho điểm cao. Tiếp đó là các nhà văn,nhà báo của truyền thông đại chúng… Vừa thích thú với cái lạ mới phát hiện, vừa theo truyền thống “chiếu cố”, “nâng đỡ” “đồng bào dân tộc” không tiếc lời ca tụng! 


Tôi e rằng, chuyện “sáu hồn” này có điều gì không ổn: nó trái ngược với bản chất văn hóa Việt. Cái nền tảng của văn hóa Việt cũng như Á Đông là “tả nhậm, trọng những con số lẻ.” Khi làm luận văn và chấm luận văn, trước hết chưa được coi “cái lạ” là mới, là sáng tạo mà phải lý giải nguyên nhân sâu xa của sự khác lạ này. Phải so với các nhóm Xơ-đăng địa phương khác. Nếu tộc gốc không có quan niệm này thì rõ ràng là “có vấn đề”. Nếu ở tộc gốc có quan niệm này thì cũng phải tìm hiểu vì sao lại có một quan niệm trái ngược với bản thể văn hóa Việt? Rất có thể đây là một biến dị “bệnh hoạn”? Nếu vậy, cần sự phản biện chứ không phải “cái gì của truyền thống cũng hay!” Rất có thể, từ sự phản biện này, sẽ phát hiện ra những điều thực sự quý giá mới mẻ còn tiềm ấn trong lòng buôn làng?


Nhà văn Nguyên Ngọc viết: “Nếu quan niệm về bảy linh hồn ở người Gia Rai gắn với quan niệm về bảy tầng vũ trụ của họ, thì quan niệm về sáu linh hồn, con số chẵn là tử chứ không phải sinh, của người Xteng lại rất có thể là cách nhìn bao quát hơn nhiều của họ về vũ trụ, một vũ trụ sẽ huỷ diệt chứ không phải vĩnh hằng…”


Suy luận trên có vẻ hợp lý về hình thức nhưng nếu đi sâu vào bản chất của nó, thấy có điều không ổn.


Người Việt có quan niệm về một vũ trụ bền vững. Lời cửa miệng “có mà trời sập” để chỉ việc gì không thể xảy ra. “Trời tròn đất vuông”, “trời cao đất dầy”, “thiên trường địa cửu” để nói về một vũ trụ vĩnh hằng. Người Việt cũng không hề có khái niệm về linh hồn bị hủy diệt. Thác là thể phách, còn là tinh anh (Kiều). Tinh anh là linh hồn thì còn, dù thể phách tàn hủy. Có lẽ động lực lớn nhất cho sự sống người Việt là hướng tới sự vĩnh hằng ấy!


Suy luận như trên, nhà văn Nguyên Ngọc đã mâu thuẫn với chính mình. Khi người Xteng quan niệm “không có linh hồn” là lời rủa nặng nề nhất dành cho một người thì hủy diệt linh hồn phải chăng là lời rủa dành cho cả một tộc người?


Trân trọng, nâng đỡ trí thức thiểu số là ý tưởng tốt. Nhưng khoa học có những quy chuẩn nghiệt ngã của nó. Nếu không thận trọng, chúng ta sẽ tạo ra những vinh quang vô ích!


Sài Gòn, tháng 3.2007


LẦM LẪN LỚN TRONG BÀI BÁO NHỎ


Đó là bài báo cực ngắn, vẻn vẹn 736 chữ, nhan đề: “Từ khảo cổ đến văn hóa. GS Trần Quốc Vượng mạn đàm với BBC”. Bài đăng trên Đông tác.net (Eastern culture.net) số ra ngày 12.3.2007. Theo tinh thần bài báo, có lẽ đây là cuộc trò chuyện giữa vị giáo sư hàng đầu ngành Sử Việt Nam với phóng viên BBC vào tháng 3. 2005, sau khi đoàn khảo cổ Việt-Nhật-Úc khảo sát 30 di cốt người cổ tìm thấy tại Mán Bạc, tỉnh Ninh Bình.


Vị giáo sư trong bài báo đã thành người thiên cổ. Mọi chê trách với ông không khỏi mang tiếng là bất cận nhân tình. Tuy nhiên, vì sự xác tín khoa học, tôi buộc lòng thưa lại đôi điều.


1. Lầm lẫn thứ nhất: Người Việt bị Hán hóa


Cho rằng người Việt Nam bị Hán hóa là chuyện thường ngày ở xóm: “Nước Tàu to thế, người Tàu đông thế, lại đô hộ mình những nghìn năm, mà người mình giống người Tàu y hệt. Các cụ xưa chả nói mình với Tàu đồng chủng, đồng văn… Vậy rõ ràng là người mình bị Tàu đồng hóa!” Lòng tin ngây thơ của dân gian như mạch ngầm âm ỉ chảy, mặc nhiên trở thành chân lý không thể bàn cãi!


Nhưng có điều lạ là chưa bao giờ các học giả người Pháp phát biểu như vậy! Cùng lắm thì ông Aurousseau cũng chỉ nói (sai) rằng: “Khoảng năm 330 TCN, Sở diệt nước Việt, người Việt chạy xuống Việt Nam, trở thành tổ tiên người Việt hiện nay.” Như vậy, theo tảc giả này, tổ tiên người Việt là con cháu của Việt Câu Tiễn chứ không phải con cháu người Hán!


Nhưng ở bài báo trên, giáo sư Trần Quốc Vượng viết: “Chuyện người Việt hòa trộn dòng máu với người Hán và các nhóm dân Trung Quốc có nguồn gốc từ vùng Hoa Nam đã xảy ra trong suốt thời Bắc Thuộc.”


 Không chỉ vậy mà trước đó, cũng trên sóng đài BBC, ông khẳng định: “Tôi đã nói rồi, tôi đã nói với ông Phạm Văn Đồng là, nước ta có một nghìn năm Bắc thuộc. Tính cách nào thì cũng một nghìn năm. Quan sang này, rồi lính tới này, kết quả là chúng ta bị Hán hóa đứt đuôi!” (Phỏng vấn thực hiện năm 2003, được phát lại khi ông Vượng qua đời.)


Như vậy, có lẽ giáo sư Vượng là học giả Việt Nam đầu tiên khẳng định người Việt bị Hán hóa?!


Điều đáng ngạc nhiên là ông phát biểu như vậy sau khi khảo sát 30 di cốt Mán Bạc(1), với tư cách là chủ nhà! Trong khi đối tác của ông, tiến sĩ Marc Oxenham cho rằng: “những gì tìm được ở di tích thời Đồ Đồng, từ 3500 đến 4000 năm trước, tăng sự ủng hộ cho giả thuyết nói về những người di dân đến từ vùng nay thuộc Trung Quốc và đem văn minh nông nghiệp đến đây.”


Rõ ràng, nhận định của vị tiến sĩ người Úc tuy cũng cho là di dân từ vùng đất nay thuộc Trung Quốc mang yếu tố di truyền tới Việt Nam nhưng điều này xảy ra trước thời điểm của ông Vượng hơn 2000 năm! Nếu 4000 năm trước người Việt đã có bộ mã di truyền (genome) như hôm nay, thì không thể có chuyện vào đầu Công nguyên bị Hán hóa! Có nghĩa là khi quan binh của Lộ Bác Đức hay Mã Viện nhập Việt thì họ đã gặp những người đồng chủng với mình, chủng người mà ngày nay khoa học đặt tên là Mongoloid phương Nam. Dù có lai gì gì đi nữa, thì cũng chỉ là cơm chấm cơm mà thôi!


Ở đây có thể rút ra nhận xét nhỏ: Mc. Oxenham có bằng cớ, còn giáo sư Vượng nói mò. Chính vì nói mò nên ông buộc phải “ăn theo” vị tiến sĩ nước ngoài: “Ông đồng ý với quan điểm rằng các phát hiện khảo cổ mới nhất nói việc lai giống tương tự còn xảy ra trước hàng trăm năm trước đó.” Trước đó là trước thời Bắc thuộc. Nhưng nói vậy là nói lấy được vì hàng trăm năm trước Bắc thuộc, miền nam Trung Hoa là giang sơn của Lạc Việt, Dương Việt, Âu Việt nên chẳng làm gì có chuyện người Hán xuống Việt Nam truyền giống!


Thực ra, ý kiến của Mc Oxenham cũng không mới! Hơn 20 năm trước, trong Nhân chủng học Đông Nam Á(1), Nguyễn Đình Khoa xác nhận: “Sang thời đại Ðồng-Sắt, người Mongoloid đã là thành phần chủ thể trong khối cư dân Việt Nam, người Australoid mất dần đi trên đất nước này, hoặc do thiên cư hoặc do đồng hóa."


Như vậy là những bằng chứng khảo cố học đã khẳng định, 2000 năm trước Bắc thuộc, dân cư Việt Nam đã như ngày nay, Đại bộ phận thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Kết luận này hoàn toàn bác bỏ cái gọi là người Việt bị Hán hóa vào thời Bắc thuộc!


Không những thế, bằng chứng về di truyền học còn ngoạn mục hơn: “Người Việt có đa dạng sinh học cao hơn người Hán.”(2) Điều này có nghĩa, người Việt ra đời trước người Hán. Cố nhiên không thể có chuyện con sinh ra cha, người sau đẻ ra người trước, tức người Hán đồng hóa người Việt vào thời Bắc thuộc!


Về chuyện này, tôi đã viết chuyên luận Người Việt có bị Hán hóa không? Và Về nguồn gốc người Hán và sự hình thành nước Tàu. Ở đây xin không nhắc lại!


2. Lầm lẫn thứ hai: đa trung tâm nông nghiệp


Bài báo viết:


“Vậy cuộc tranh cãi về văn minh nông nghiệp vùng nào có trước, Hoa Bắc hay Đông Nam Á nay đã đi đến đâu? Giáo sư Trần Quốc Vượng từ Hà Nội cho biết hiện nay, quan điểm chung của phía Việt Nam là công nhận thuyết ’đa trung tâm’. Theo đó, không có một trung tâm nào trên thế giới, từ đó nghề nông được truyền sang các vùng khác.”


Phát biểu như vậy, giáo sư Trần Quốc Vượng đã đẩy nền học thuật Việt Nam lùi lại hơn 70 năm!


Năm 1932, Hội nghị khoa học quốc tế về Tiền sử Viễn Đông họp tại Hà Nội khẳng định: “Đông Nam Á mà Việt Nam giữ vai trò chủ đạo, là trung tâm sớm nhất về Đồ Đá và nông nghiệp của thế giới.”(1) Đáng lẽ, phải tận dụng những tư liệu mà nước Việt Nam độc lập mới thu được để phát huy những thành quả của quá khứ thì vị giáo sư của chúng ta lại kéo học thuật đi giật lùi!


Điều này dễ hiểu, vì cho tới thập niên 70 thế kỷ trước, thuyết đa trung tâm về nguồn gốc con người đang thống lĩnh. Khi con người đã có nhiều địa điểm khai sinh khác nhau thì việc có nhiều trung tâm nông nghiệp là hệ quả tự nhiên!


Nhưng khoảng 10 năm trở lại đây, sự tình đã thay đổi. Cùng với việc xác định người hiện đại có nguồn gốc duy nhất ở Đông Phi, khoa học một lần nữa thừa nhận vị trí tiên phong của Đông Nam Á trong tiến trình văn minh nông nghiệp thế giới. Ánh sáng mới trên thế giới bị quên lãng (New light on the Forgotten Past)(1) của S.G Solheim II và nhất là công trình Địa đàng ở phương Đông(2)  (Eden in the East) của Stephen Oppenheimer cho rằng việc trồng lúa nước xuất hiện ở Đông Nam Á vào 24.000 năm trước, sớm hơn phương Tây 10.000 năm, là những chứng minh khiến nhiều người tâm phục khẩu phục.


3. Lầm lẫn thứ ba: Việt Nam tiếp thu nông nghiệp từ phía Bắc.


Bài báo trên BBC viết: “Từ đó, ông Mc. Oxenham cho rằng những gì tìm được ở di tích thời Đồ Đồng, từ 3500 đến 4000 năm trước, tăng sự ủng hộ cho giả thuyết nói về những người di dân đến từ vùng nay thuộc Trung Quốc và đem văn minh nông nghiệp đến đây.”


Phát biểu như vậy chứng tỏ ông Oxenham không hề biết nguồn gốc thực sự của người Hán cũng như người Việt và con đường thiên di mang nông nghiệp của người Việt lên phía Bắc.


Một vấn đề nảy sinh: không do “người từ nam Trung Hoa xuống vào 4000 năm trước”, như Oxenham nói, cũng không do “quân Hán đồng hóa”, như giáo sư Vượng bảo, vậy thì tổ tiên người Việt nhận nguồn gene Mongoloid phương Nam từ đâu? Câu hỏi quá chừng hóc búa!


Tôi thắp nhang lên khấn Quốc tổ. Cụ Hùng phán: “Thằng bé ngốc, ngươi không nhớ truyện Lạc Long Quân và Âu Cơ sao? Ngươi cũng không học biết được gì từ Ngọc phả Đền Hùng sao?” Tôi giật mình đốn ngộ.


 Năm 2600 TCN, sau thất bại ở Trác Lộc, người Việt buộc lòng phải chạy loạn. Cụ Lạc Long Quân dẫn đầu toán thuyền nhân vượt Hoàng Hà ra biển rồi đổ bộ vào Rào Rum, Ngàn Hống xứ Nghệ (Ngọc phả đền Hùng). Trong dòng người chạy về đất Việt này có những những người Việt chủng Mongoloid phương Nam được sinh ra từ trước do sư gần gũi chung đụng giữa người Bách Việt và người Mông Cổ. Sự chung đụng này xảy ra ít nhất là 5.000 năm TCN, tạo ra thế hệ ngườiViệt mới, là chủ nhân văn hóa Ngưỡng Thiều.


 Về lại đất tổ Việt Nam, những người này hòa huyết với đồng bào tại chỗ, làm cho nhân số Mongoloid phương Nam tăng lên. Tổ tiên ta nhận nguồn gene Môngoloid như vậy chứ không có ông Hán nào chạy xuống đồng hóa cả! Sự việc không dừng tại đó. Khi nhân số chủng mới Mongoloid phương Nam tại lưu vực sông Hồng tăng lên thì theo truyền thống, những người này di dân tiếp tục lên phía bắc, trong lãnh thổ nước Xích Quỷ cũ của tổ tiên. Và đến lượt mình, họ hòa huyết với người Việt đang sống tại địa bàn Việt, Ngô, Sở… dần dần chuyển hóa đại bộ phận người Việt Australoid ở phía nam Trung Quốc thành chủng Mogoloid phương Nam. Trong khi đó, quá trình hòa huyết khác cũng diễn ra: người Việt từ Cửu Châu bị người Hoa Hạ xua đuổi, chạy xuống phía nam. Trong những người chạy loạn này cũng có những người lai, phụ nữ bị hãm và tù binh Mông Cổ hay Hoa Hạ. Những người mang gene Mongoloid này hòa huyết với người tại lưu vực Dương Tử, tạo ra chủng mới Mongoloid phương Nam. Sự việc diễn ra như thế khoảng nửa thiên niên kỳ, làm cho đại bộ phận người phía Nam Trung Hoa trở thành chủng Mongoloid phương Nam.


Có thể có người bác giả thuyết trên, cho rằng, chuyện Lạc Long Quân chỉ là truyền thuyết, khó mà tin được. Vậy M. Oxenham và G.S Vượng vẫn đúng: nguồn gene Mông Cổ lan theo vết dầu loang từ phương bắc xuống tới Việt Nam! Xin thưa rằng, việc gene lan theo vết dầu loang là có thật. Đó là sự hòa huyết cưỡng bức, thường không vượt biên giới kẻ xâm lược quá xa. Vào 2000 năm TCN biên giới của người Hoa Hạ còn ở tít miền Tây Bắc Trung Hoa, quá xa đất Việt nên “vết dầu” chưa thể lan tới Việt Nam được!


Những di cốt ở Mán Bạc là bằng chứng hùng hồn về cuộc di tản trở lại cố hương của thuyền nhân người Việt sau cuộc xâm lăng của người Mông Cổ.


Không dám trách M. Oxenham vì ông là người ngoài, không hiểu lịch sử văn hóa Việt. Điều chúng tôi bức xúc là vì sao giáo sư Trần Quốc Vượng lại có những ngộ nhận đáng tiếc vậy? Cho người Việt bị Hán hóa đã là liều lĩnh. Càng liều lĩnh hơn khi ông chối bỏ chân lý mà khảo cổ thế giới đạt được 70 năm trước (vai trò trung tâm của Đông Nam Á với văn minh nhân loại) để ủng hộ thuyết đa trung tâm một cách chiết trung mang màu cơ hội chủ nghĩa! Đáng tiếc là ông lại gán lầm lẫn của mình thành quan điểm Việt Nam!


Khi kẻ đi sau, dựa vào tư liệu mới sở đắc để phê bình người đi trước, thường khó tránh khỏi bị chê là bất nhã. Dù bạn đọc nghĩ về mình thế nào mặc lòng, nhưng từ trường hợp của vị giáo sư đứng đầu ngành Sử, tôi không thể không biểu tỏ sự lo lắng cho nền khoa học xã hội và nhân văn đất nước.


Khi vì công việc hoàn toàn văn chương, tôi lên mạng và lạc vào lĩnh vực tiền sử nhân loại, không chỉ nơi những tạp chí khoa học hàng đầu nước Mỹ mà cả những bài báo lớn nhỏ của người Việt ở nước ngoài. Hóa ra ở xa nên đồng bào ta thực sự quan tâm tới Đất Nước. Một thế giới mới mẻ và hấp dẫn mở ra… Tôi giật mình tự hỏi: Sao những điều tuyệt vời cho cội nguồn và văn hóa dân tộc như vậy mà giới khoa bảng trong nước không hề hay biết, khiến cho nền khoa học nhân văn quốc gia vừa lạc hậu vừa lạc hướng đến thảm hại?!


Sài Gòn, tháng 11. 2007


 


Với chúng tôi, bài viết Về “huyền sử gia” Kim Định và các chi, bàng phái “huyền sử học” Việt Nam, là tài liệu lý thú và bổ ích. Lần đầu tiên chúng tôi được đọc công trình phê bình Kim Định một cách hệ thống, toàn diện và triệt để như vậy. Là nhà sử học danh tiếng, tác giả những cuốn sử chân thực, tinh tế, ông Tạ hoàn toàn có tư cách của vị phán quan trong vấn đề này. Không chỉ nói với người Việt, ông còn dạy dỗ những người Mỹ đang tìm hiểu văn hóa Việt trong tổ chức William Joiner Center. Sự phê bình của ông giống như đòn knock out đánh gục triết thuyết Kim Định, chôn vùi nó dưới ba tấc đất.


Nhưng có điều không bình thường là, sau những cú đòn hủy diệt như vậy, tư tưởng Kim Định cứ như hồn ma bóng quế đội mồ đứng dậy, quấy quả chúng sinh. Ở ngoài nước thì hóa thân thành những hội, đoàn, những gia đình, tập hợp nhau in sách, viết báo, lập đài phát thanh truyền bá tư tưởng ông. Ở trong nước lung lạc những bậc khoa bảng như viện sĩ danh tiếng Nguyễn Khánh Toàn, Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. Rồi ám vào luận văn của chàng trai vô danh, khiến anh ta được đánh giá cao ở nước ngoài, sau đó được phong giáo sư, viện sĩ. Đấy là chưa kể một vị giáo sư già đáng kính khác có tên Bùi Văn Nguyên đã theo chân Kim Định mà viết Kinh Dịch Phục Hy và giải mã những huyền thoại và cổ tích Việt. Lại sinh xuất những chàng trai Việt trẻ hơn như Đoàn Nam Sinh, Nguyễn Vũ Tuấn Anh, Nguyễn Thiếu Dũng… phát hiện Hà đồ, Lạc thư từ trống đồng, tìm ra Bát quái Lạc Việt và đòi lại bản quyền kinh Dịch cho tộc Việt…


Thực tế trên chứng tỏ rằng Kim Định không chết. Những người giết ông đã thất bại. Có thể chỉ ra nguyên nhân thất bại của quý vị. Trước hết, cuộc sống không chấp nhận sự phủ định sạch trơn. Con người khôn ngoan sẽ nhận ra những điều cần thiết cho mình. Chính thái độ bất công của người phủ định khiến công chúng xa rời họ. Nguyên nhân thứ hai quan trọng hơn: quý vị với Kim Định không cùng phương pháp luận!


Là người “duy vật sử quan” (chữ của Kim Định) quý vị đổ mồ hôi sôi máu mắt thẩm định lịch sử theo phương cách con sâu đo bò sát mặt đất, rà xét từng sự kiện, lật trái lộn phải từng trang sách…Nhờ đó quý vị góp phần minh định lịch sử. Công lao quý vị thật là to, được cộng đồng tôn vinh. Quý vị xây cho mình uy tín nghề nghiệp cao ngất ngưởng. Tuy nhiên có sự thực không thể phản bác là, phương pháp luận thần diệu của quý vị đã bất lực trước những vấn đề của thời tiền sử! Thử hỏi, suốt một thế kỷ học cổ thư Tàu, tân thư Tây rồi chụp giật những tư liệu khảo cổ, nhân chủng… quý vị đã khai mở được gì cho giai đoạn tiền sử dân tộc? Con số không tròn trịa, nếu không muốn nói quý vị đã dẫn dân tộc lạc đường! Học thày Tây, quý vị coi khinh truyền thuyết “trăm con trăm trứng”, chối bỏ Kinh Dương Vương 2850 năm TCN để nhận láo tổ tiên Việt Câu Tiễn! Nương theo thuyết Hoa tâm, quý vị dạy dân “tiếng Việt mượn 70% tiếng Tàu”! Không chỉ thế, sang tới thế kỷ này, một nhà sử học lớn còn nói như đinh đóng cột “người Việt bị Hán hóa vào thời Bắc thuộc” rồi “người phía nam Trung Quốc mang văn minh nông nghiệp xuống Việt Nam” (!) Quả là thảm trạng của dân tộc. Một tấn bi hài kịch cười ra nước mắt!


Trong bối cảnh như vậy, Kim Định như con chim ưng bay lên chín tầng trời để nhìn đời bằng thiên lý nhãn. Lúc đầu ông có dựa vào mấy hòn đá, mấy mảnh gốm và ít trang sách cổ. Sau ngộ ra rằng, những tư liệu đó vừa thiếu chính xác, vừa vụn mảnh, ông từ bỏ chúng rồi bằng giải mã huyền thoại, ông lập thuyết. Phần lớn những gì Kim Định nói ra không thể kiểm chứng. Nhưng trong đó ẩn chứa biết bao điều minh triết. Giống như nhà đạo học, bằng chiêm nghiệm, quán tưởng, ông tìm ra Đạo Việt. Không phải ông là người duy nhất thành công. Sau ông hai chục năm, cũng bằng giải mã huyền thoại, Stephen Oppenheimer cống hiến nhân loại Eden in the East, công trình khoa học mang ý nghĩa khai sáng cho lịch sử, văn hóa Đông Nam Á.


Dùng kích tấc của loài sâu đo, khi thẩm xét Kim Định, quý vị, nói như nhà thơ họ Chế, đã dùng “vỏ ngao tát bể, lấy cái cân nhỏ xíu để cân đời!” Cố nhiên quý vị chỉ thấy những cái sai, những gì bất cập. Rồi với uy quyền học phiệt, quý vị hạ một câu xanh rờn: “Không có căn bản khoa học!” Sau lời tuyên án của quý vị, một bầy đàn những kẻ ăn theo, nói leo mà cộng động Việt vốn thừa mứa, ném đá chôn sống “kẻ hoang tưởng”! Nhưng sự đời quái lạ: ma Kim Định cứ đội mồ sống dậy! Vì là “ma” nên không được vô cửa chính lâu đài khoa học mà phải đứng nép bên lề. Thậm chí vì sợ quyền uy quý vị, người ta không dám nhắc tên Kim Định trong luận văn của mình…


Nhưng may mà cuộc sống không buông xuôi như thế. Ở nơi cơ học cổ điển bất lực thì cơ học lượng tử nảy sinh. Khi việc đo sọ tròn sọ vuông không thỏa mãn nhu cầu hiểu biết thì di truyền học phân tử ra đời. Bản đồ gene người được lập. Cây phả hệ loài người được vẽ. Không còn là nhiều gốc nữa mà loài người quy về ông tổ chung Phi châu. Khoa học cũng lần ra con đường người hiện đại tới Việt Nam rồi đi lên chiếm lĩnh Trung Nguyên… Có thể nói, mỗi bước tiến của di truyền học đến gần tổ tiên Việt là một tiếng reo tôn vinh Kim Định. Để thưa lại với những sử gia quan phương về sự “thiếu căn bản khoa học” của Kim Định, chúng tôi mạo muội làm cái việc xác lập cơ sở khoa học cho học thuyết của ông:


Khoảng 70.000 năm trước, người Homo sapiens từ châu Phi theo đường Nam Á tới Việt Nam. Tại đây hai đại chủng Mongoloid và Australoid hòa huyết cho ra 4 chủng Việt cổ: Indonesien, Melanesien, Vedoid và Negritoid.


Khoảng 40.000 năm trước, người Việt mang rìu đá lên khai phá Trung Nguyên. Cũng trong thời gian này, có những nhóm Mongoloid riêng lẻ đi lên vùng Tây Bắc Trung Quốc. Từ hái lượm, họ chuyển qua du mục và trở thành tổ tiên những bộ lạc Mongoloid phương Bắc.


Khoảng 15.000 năm trước, người Việt mang giống lúa, khoai sọ, giống gà, giống chó lên xây dựng nền nông nghiệp lúa nước trên đất Trung Hoa.


Khoảng 2600 năm TCN, người Mông Cổ vượt Hoàng Hà chiếm đất của người Việt, đẩy một bộ phận người Việt trở lại Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Những người này mang gene Mongoloid phương Nam làm chuyển hóa di truyền dân cư trong vùng. Ở Trung Nguyên, do hòa huyết Mông-Việt, người Mongoloid phương Nam ra đời. Đó là tổ tiên người Hán.


Là lớp con lai Việt, sống trên đất của Bách Việt, tổ tiên người Hán tiếp thu văn hóa Việt vào đời sống của mình và sáng tạo văn hóa Hán rực rỡ vào khoảng 1500 năm TCN.


Như vậy, tất cả văn hóa vật thể và phi vật thể có mặt trên đất Trung Hoa trước 2600 năm TCN đều là sản phẩm của Việt tộc.


Người Việt ở Việt Nam, do có đa dạng di truyền cao nhất trong dân cư Đông Á và giữ được lãnh thổ riêng nên là người thừa kế của tộc Việt cả về di truyền cả về văn hóa.


Có thể kể ra nhiều thêm nhưng thiết nghĩ, bằng đó cũng đủ là cái móng bền, trụ vững tòa lâu đài văn hóa vĩ đại của tộc Việt do triết gia Kim Định khai quật.


Đó là cái gì vô cùng lớn lao và linh thiêng. Hàng ngàn năm, dân tộc ta như một bầy người ngơ ngác, không biết cội nguồn tổ tiên cũng như gốc gác văn hóa, như đám trôi sông lạc chợ… Kim Định dắt ta về với nguồn cội, không chỉ thẳm sâu trong thời gian mà vô cùng nhân bản, minh triết! Kim Định dựng cả dân tộc đứng dậy. Sau phát kiến của ông, dân tộc Việt mang tầm vóc khác!


Một thời gian dài chúng tôi cứ dằn vặt với suy nghĩ: Vì sao? Vì sao? Vì sao người Việt chối bỏ gia tài văn hóa lớn lao như vậy của tổ tiên để nhốt mình trong ngu dân và làm nô lệ tự nguyện cho văn hóa ngoại bang? Không thể nào hiểu nổi!


Ở thế kỷ trước, chúng tôi buồn nhưng không trách quý vị chống báng Kim Định vì hiểu giới hạn tri thức của quý vị và cũng là của thời đại: chưa có công cụ giải quyết rốt ráo nhiều vấn đề thuộc nhân loại học. Nhưng sang thế kỷ này, với hàng đống kiến thức về nguồn cội tràn ngập xa lộ thông tin mà quý vị còn cho là “8000 năm trước tại Hòa Bình chưa có gạo”, hay dùng thủ thuật “quay nhanh băng vidéo” để kéo Hùng Vương về bằng với Sở Hùng Cừ thì… hết nói! Sao tránh khỏi mang danh tội phạm xả rác làm ô nhiễm lịch sử?


Là nhà sử học danh tiếng, mỗi tiếng khen, chê của sử gia Tạ Chí Đại Trường ảnh hưởng không nhỏ tới cộng đồng. Vì vậy, việc phủ định sạch trơn triết gia Kim Định là sai lầm không thể biện minh về học thuật. Dù với sự thận trọng của người dám chịu trách nhiệm, chúng tôi cũng buộc phải thưa rằng, sử gia Tạ Chí Đại Trường không thể chối bỏ tội lỗi với văn hóa dân tộc!


Sài Gòn, khai bút Xuân Mậu Tý


(còn tiếp)


Nguồn: Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học, 2008.


Trieuxuan.info kính mời quý bạn đọc gửi bài cộng tác và thường xuyên góp ý phê bình để trang web của nhà văn Triệu Xuân ngày càng hoàn thiện. Xin chân thành cám ơn! Thư và bài gửi theo: xuantrieuwriter@gmail.com 








(1) Đầu năm 2005, nghiên cứu di chỉ Mán Bạc ở tỉnh Ninh Bình, một nghĩa địa chôn chung 30 hài cốt người Indonesien, Melanesien và Mongoloid phương Nam, có niên đại 3500 – 4000 năm cách nay.




(1) Nguyễn Ðình Khoa: Nhân chủng học Ðông Nam Á (NXB Ðại học và Trung học chuyên nghiệp. H.1983, tr 106)




(2) S. W. Ballinger & đồng nghiệp: Southeast Asian mitochondrial DNA Analysis reveals genetic continuity of ancient Mongoloid migration. Genetic 1992 số 130 Tr.139-45




(1) Encyclopédia d’Archeologie




(1) Wilheim G. Solheim H. Ph. D: New light on Forgotten Past. National Geographic Vol 1339 n 3 tháng 3 năm 1971.




(2) Stephen Oppenheimer: Eden in the East: the Drowned Continent of Southeast Asia- Nxb Phoenix London 1998. Nhà xuất bản Lao Động 2004.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
Nói có sách (4) - Vũ Bằng 06.06.2017
Người Tây bái phục cách chửi nhau của người Việt! - Nguyễn Công Tiễu 06.06.2017
Nói có sách (3) - Vũ Bằng 06.06.2017
xem thêm »