tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18928538
29.11.2008
Hà Văn Thùy
Hành trình tìm lại cội nguồn (16)

KHÔNG THỂ ĐI MÃI ĐƯỜNG MÒN


Chân thành cảm ơn ông Nguyễn Kết đã đọc bài “Viết lại lịch sử hình thành kinh Dịch” và cho những lời phản biện thú vị. Trong bài thưa lại này, tôi xin không vâng lời ông để “làm khác hơn” vì lẽ mỗi người viết đều có “dấu ấn” (style) như một bản lai diện mục của mình. Tôi cũng không thể “giải thích dễ dàng với các giả thuyết và kiến thức quen thuộc” bởi lẽ những đường mòn thường chỉ dẫn về chốn cũ mà tôi lại đang khai mở con đường chưa từng có tiền lệ. Quả thực tôi cũng không để ý xem cộng đồng khoa học có chấp nhận không bởi tôi có kinh nghiệm của riêng mình. Đầu năm 2005, khi viết xong tiểu luận “Tìm lại cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hoá” tôi rất mừng và gửi cho bạn bè. Giáo sư Cao Xuân Hạo trả lời: “Tôi không có được tri thức lịch sử như anh nhưng tôi tin rằng anh đúng.” Nhà thơ Trần Đăng Khoa nói: “Em không đủ hiểu biết để góp ý với bác nhưng em cho là bác có lý.” Ở ngoài lề một hội nghị văn hóa tại thành phố Hồ Chí Minh, nhà văn Vũ Hạnh giới thiệu bài viết của tôi với bạn bè và ông cười: “Nếu đúng vậy thì ta có thêm mấy gờ-ram tự hào!” “Tự hào hay tự hão?” Một vị giáo sư lên tiếng. “Hà Văn Thùy hoang tưởng!” Tôi gửi cho nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm: “Với vai trò Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương, anh phải nắm được điều này.” Ông không trả lời tôi. Chắc đó không phải nội dung công tác của Ban! Nhà thơ Nguyễn Duy mừng thực sự, bảo: “Bác đừng cho đăng ở nước ngoài vội. Để tôi đưa cho ông Thỉnh, tổng biên tập báo tôi.” Tôi phải in một tập tài liệu kèm theo một đĩa mềm đưa cho anh. Gần tháng sau anh trả lời: “Ai đọc cũng thích nhưng chẳng cha nào dám đăng!” Hai anh em tôi bàn nhau gửi cho talawas. Tôi cũng biết qua vài cuốn sử về Á Đông của mấy trường đại học danh tiếng nước Mỹ, hầu như chả có gì mới hơn việc nhại lại sách Tàu cùng sử gia Pháp thời thuộc địa! Những phát hiện này khiến tôi phải kêu lên: “Người ta đã xuyên tạc lịch sử dân tộc Việt Nam bằng tiếng Tàu, tiếng Tây và bây giờ là tiếng Mỹ!” Từ thực tế ấy, tôi không mong cộng đồng khoa học dễ dàng chấp nhận. Đã quá lâu rồi, dân An Nam Giao Chỉ chúng ta chỉ là chú học trò nhỏ cúc cung vâng theo những lời vàng ngọc của thầy Tàu, thầy Tây. Có một nghịch lý mà đã mấy ai ngờ: cho tới nay người Tàu cũng chẳng biết đích xác tổ tiên họ là ai, vậy mà chúng ta cứ làm cái việc ngớ ngẩn là truy tìm tổ tiên Việt từ sách của những người muôn năm cũ như Tư Mã Thiên? Thời buổi bây giờ đã khác, khi nắm được thông tin, đầu óc chúng ta không thua kém bất cứ trí tuệ sáng láng nào của nhân loại. Hơn nữa, trên bình diện lịch sử, văn hóa phương Đông, chúng ta còn làm tốt hơn họ do sự mách bảo của tâm linh. Những vấn đề ông Nguyễn Kết đặt ra với bài báo nhỏ của tôi, nếu giải đáp thấu đáo sẽ là cả một cuốn sách. Ở đây tôi chỉ xin hầu chuyện ông và độc giả một cách vắn tắt.


1. Ba bà Eve Từ hai thế kỷ trước, ngành nhân chủng học đã chia loài người thành 3 đại chủng là da vàng, da đen, da trắng. Nhưng khi đi sâu thêm, thấy trong mỗi đại chủng lại có những nhóm di truyền gần gũi nhau hơn, vì vậy nảy sinh ra đơn vị phân loại thấp hơn là nhóm loại hình. Khi đi sâu thêm nữa, lại thấy trong mỗi nhóm loại hình, những quần thể người gần gũi nhau hơn, và đơn vị phân loại mới ra đời: chủng. Đó là những tri thức tối thiểu giúp cho ta phân biệt rằng người Việt Nam, Nhật, Hàn là chủng Mongoloid phương Nam, thuộc nhóm loại hình Đông Nam Á. Trong khi đó người ở phía Bắc Trung Quốc thuộc chủng Mogoloid phương Bắc. Nếu không có sự phân loại theo chiều sâu như vậy, chắc chúng ta sẽ rối như mớ bòng bong. Tuy bây giờ không có người thuần chủng nhưng cũng không có người từ khe đá chui ra hay những người không có cội nguồn! Với công nghệ gene, con người ngày nay dò tìm được tới cùng dòng lưu truyền của máu huyết thiêng liêng. Khi truy tìm những yếu tố di truyền nữ đặc trưng nhất cho chủng loại, bằng toán thống kê, người ta thấy, tất cả đàn bà da trắng được bắt đầu bằng người đàn bà duy nhất. Đàn bà da đen, da vàng cũng vậy. Khi so sánh bộ gien của 3 người đàn bà tổ ấy, người ta phát hiện sự khác biệt giữa họ. Kết luận tất yếu rút ra: thoạt kỳ thuỷ có 3 người đàn bà tổ. Nhân loại có những 3 bà Eve! Một cách tương tự, người ta truy tìm ra người đàn ông tổ cho mỗi đại chủng. Khi so sánh mã di truyền của ba ông, thấy trùng khớp nhau: ta với mình tuy ba mà một! Phát hiện này đạt tới sự chính xác toán học, nhưng theo sự thận trọng mới học được từ cộng đồng khoa học, tôi chỉ nói: có thể!


Có thể, trong bước đường thiên di của mình, có những nhóm người thuần Mongoloid và Australoid đã tới Đông Nam Á rồi di cốt của họ bị chìm lấp. Người ta chỉ tìm được một vài sọ tiền (proto) Mongoloid tại Hetao trên cao nguyên Mông Cổ là dấu vết của cuộc độc hành định mệnh lên vùng Tây Bắc Trung Hoa, dự trữ nguồn gene Mongoloid cho nhân loại. Trên đất Đông Nam Á không hề phát hiện được sọ Australoid hay Mongoloid thuần chủng, mà chỉ dựa vào những sọ người lai Indonesien, Melanesien, khoa học biết được sự có mặt của họ. Phải chăng do sống chung đụng tại châu Phi và Trung Đông, hòa huyết với các chủng khác mà yếu tố Mongoloid tại đây bị chìm (lặn), trong khi đó lại trội ở châu Á?


2. Tìm về cội nguồn văn hóa nhân loại


Khoa học xác nhận rằng, đợt di cư đầu tiên của người hiện đại ra khỏi châu Phi tới Việt Nam vào khoảng 70.000 năm trước. 30.000 năm sau, do băng hà tan, mở ra đợt di cư thứ hai từ Trung Đông lên châu Âu. Cũng thời gian này, người Đông Nam Á đi lên khai phá đất Trung Hoa.


Cùng khởi hành một lúc nhưng hành trang không giống nhau. Trong môi trường nhiệt đới ấm áp, thức ăn dồi dào, người Đông Nam Á sinh sản mạnh và bước nhanh vào văn hóa Đá mới, sáng tạo công cụ đá mài mà tiêu biểu là chiếc Việt, loại búa lưỡi cong, một công cụ ưu việt nhất của nhân loại đương thời.


Trong khi đó, do sống trong vùng đất chật hẹp, khí hậu khắc nghiệt, người Trung Đông chỉ có sự tiến bộ chậm chạp nên mới bước sang văn hoá Đá mới. Châu Âu vừa tan băng cũng không trù phú gì. Người châu Âu vẫn sống bằng săn bắt hái lượm, mãi sau mới chuyển sang du mục.


Trong khi đó, người Đông Nam Á đã thuần hóa được gà, chó và phát minh hạt giống lúa từ 15.000 năm trước. (Thời Darwin đã biết mọi giống gà của thế giới đều do con gà rừng duy nhất được thuần hóa từ Đông Nam Á 15000 năm trước. Chó cũng vậy. Lợn cũng được nuôi sớm nhất ở đây). Đến thiên niên kỷ thứ IV TCN, Đông Á có nền văn hóa vật thể và phi vật thể tiến bộ nhất nhân loại.


Khoảng 7500 năm trước, do đại hồng thuỷ, những nhà thông thái phương Đông đã cưỡi những con thuyền Noah mang hạt giống cùng vật nuôi đến Ai Cập, Lưỡng Hà khai sáng văn minh phương Tây. Không bỗng dưng loài người gọi sự trồng cấy culture là văn hoá.


Cũng như hiện nay, phần lớn nhân loại sống trong văn minh, thì cũng còn những tộc người ăn lông ở lỗ. Vì vậy, việc phương Đông đi trước phần còn lại của nhân loại 10.000 năm là chuyện không lạ!


3. Thời điểm của nông nghiệp


Những thông tin về hang ma (Spirit cave) ở Thái Lan, về hạt lúa 9.000 năm trước bên sông Dương Tử… đều có trong computer những nhà nghiên cứu văn hoá Đông Nam Á. Nhưng đấy không phải là tất cả, nhiều lắm cũng chỉ là phần nổi của tảng băng. Cái phần khuất lấp còn lớn hơn, đó là đồng bằng Nanhailand và Sundaland với diện tích bằng lục địa Ấn Độ bị chìm. Mà đấy chính là nơi con người đặt chân lên trước tiên, để 40.000 năm sau mới leo lên Sơn Vi, làm nên văn hóa Hoà Bình. Chiều hướng phát triển của văn hoá là từ biển vào. Việc giống gà, giống chó được thuần hóa ở đây 15.000 năm trước nói lên dấu vết của nông nghiệp. Việc tìm thấy gốm 20.000 năm tuổi ở Nhật không đáng để suy nghĩ sao, khi ta biết, người ở Nhật đã từ Đông Nam Á tới. Tìm ra cổ vật và định tuổi chính xác là công việc của nhà khảo cổ. Nhưng nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử còn có quyền ức đoán, miễn là những ức đoán đó không mâu thuẫn với logic nội tại của vấn đề. Tước mất của nhà nghiên cứu quyền ức đoán, giả định, cuộc sống sẽ nghèo đi biết bao nhiêu!


Bằng dự cảm trong tiềm thức, tôi tin những gì giáo sư Wilhelm G. Solheim II nói và cũng tin Stephen Oppenheimer qua những dòng trích sau đây của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, một nhà di truyền học nghiêm túc qua công trình về tác nhân cam và những bài viết phổ biến trên mạng:


“Ông trình bày dữ kiện liên quan đến trồng trọt khoai lang (khoai mỡ, yam) và khoai nước (taro) được tìm thấy ở Nam Dương, mà tuổi cỡ 15.000 đến 10.000 trước Dương lịch; kỹ thuật trồng lúa có sắp sỉ tuổi cũng được tìm thấy ở Mã Lai Á.


Theo Oppenheimer, Atlantis của Đông Nam Á, tạm gọi là "Sundaland", bởi vì vùng này là một thềm lục địa Sunda, nơi từng là trung tâm hàng đầu về cuộc cách mạng thời đại đồ đá mới (Neolithic Revolution), bắt đầu phát triển kỹ thuật trồng trọt, dùng đá để nghiền hạt lúa, vào khoảng 24.000 ngàn năm trước đây, tức là trước cả Ai Cập và Palestine khoảng 10.000 năm.”


(Nhân đọc “Eden in the East”: Đặt lại vấn đề nguồn gốc dân tộc và văn minh Việt Nam www.giaodiem.net)


4. Chữ viết 12.000 năm


Đúng như ông Nguyễn Kết nói, tài liệu về văn bản Bán Pha 2 quá ít. Nhưng thực có di chỉ Bán Pha 2 với 12000 năm tuổi không? Rõ ràng là có. Việc lộn hiện vật giữa Bán Pha 1 với Bán Pha 2 cách nhau 3,5 mét đất sâu là điều khó xảy ra với một đoàn khảo cổ quốc tế! Sau khi Jeff Schonberg công bố phát hiện quan trọng của mình, chưa có ai chứng minh đó là giả mạo. Sự im lặng thì không đáng lạ! Ý kiến của ông Trương Cư Trung nói với nhà nghiên cứu Trương Thái Du có đủ sức tin cậy không, khi chúng ta đã có kinh nghiệm với Sansingdui và nhiều nơi khác?


Thiết nghĩ, J. Schonberg không thể bịa ra chiếc bình với những hàng “chữ” cổ đó! Việc ông căn cứ vào chữ viết thời Thương để giải mã văn bản đó là có lý. Một văn bản mang đậm sắc thái văn hóa phương Đông như vậy không thể bịa ra được. Chẳng những thế, vết tích câu chuyện còn lưu giữ trong ký ức của dân chúng vùng Tây An là một đảm bảo khá vững chắc.


Ông Nguyễn Kết có nhắc tới chữ thắt nút của người Inca. Vậy xin hỏi, người Inca là ai? Đó là những người từ Đông Nam Á, mang văn hóa thắt nút của tổ tiên Bách Việt sang Mỹ 30.000 năm trước. Trong môi trường mới, không thể sáng tạo thêm, nhánh người Việt này đã hoàn thiện kỹ thuật thắt nút tới mức như ông Nguyễn Kết trưng dẫn. Trong khi đó, cộng đồng Việt ở lại đã tiến sang chữ Khoa đẩu.


Trong sự phát triển như vậy về vật chất cùng tinh thần thì việc có chữ- những ký hiệu, ký tự sắp xếp theo quy luật, chuyển tải được tư tưởng con người- ở 12000 năm trước là điều có thể hiểu được.


Ông Nguyễn Kết phát biểu một luận điểm đúng: “Một sự kiện liên quan đến sự phát sinh chữ viết trong thời tiền sử là, nó không thấy có nơi nhiều cộng đồng cư dân đa tạp về ngôn ngữ mặc dù nền văn hóa, văn minh liên hệ có thể rất cao.”


Nhưng ông đã sai khi cho rằng: “Có lẽ ngay cả người “Việt” cổ từ thời Phùng Nguyên trở đi cũng là một trường hợp. Lí do có thể là, chữ viết bị đóng khung trong một ngôn ngữ nhất định, không thích hợp cho sự truyền đạt, do đó không có điều kiện để phát triển một khi người ta hài lòng với việc có thể hiểu nhau thông qua các kí hiệu thuần túy Phùng Nguyên cũng giống như người Inca.”


Trong khi Inca tách khỏi Đông Á thì người Phùng Nguyên giữ vai trò lãnh đạo cộng đồng khối dân cư này về ngôn ngữ và xã hội. Theo một tính toán tôi đã dẫn trong “Tìm lại cội nguồn…” thì vào thiên niên kỷ IV TCN, người Đông Á chiếm tới 2/3 nhân số thế giới, trong đó tộc Lạc Việt (Phùng Nguyên, chủng Indonesien) chiếm tới 40%. Ngôn ngữ của họ là Mon-Khmer, một ngôn ngữ lớn của toàn khối Đông Á. Trong môi trường ấy, người Lạc Việt rất cần chữ viết và có chữ viết từ rất sớm: chữ thắt nút rồi chữ Khoa đẩu. Đó là tiền thân của văn tự Trung Hoa.


5. Về sách Dịch


“Sách” là thuật ngữ có nghĩa rộng: cuốn từ điển trên tay ta là sách. Vài mảnh da dê ghép lại thành sách. Sách cũng là những phiến đá khắc chữ cổ… Sách Dịch càng đơn giản, bởi đó chỉ là những chấm trắng, chấm đen của Hà đồ, Lạc thư; những vạch đứt vạch liền của quái. Kèm theo đó là những ký hiệu giải nghĩa. Có thể khắc mấy trang sách Dịch trên đá, trên những phiến đất sét rồi nung… Đó là xác của Dịch. Còn hồn Dịch ở trong tâm trí những quan Thái bốc, những người thuộc làu dịch lý và có nhiệm vụ dạy truyền cho người kế nghiệp. Khi 12.000 năm trước đã có “chữ” thì thời Phục Hy, Thần Nông 4800 năm trước, sách Liên Sơn, Quy Tàng không có mới lạ!


Không bỗng dưng mà trong sách Thượng thư Khổng Tử lại nói tới Tam phần. Một thời gian người ta không hiểu là gì nhưng rồi sau đó phát hiện ra là những cuốn sách bói. Tôi nghĩ điều ấy là bằng chứng thật hiển nhiên.


6. Gốc và ngọn


Tôi cứ mường tượng thế này: văn hóa Á Đông giống như một cái cây. Hòa Bình Việt Nam là gốc rễ mà cành nhánh sum suê tỏa ra toàn Đông Á. Gốc sâu rễ bền nhưng hoa trái lại ở trên cành. Phải chăng, khi lên Trung Nguyên, trong môi trường mới mẻ, rộng rãi, phóng khoáng, người Việt ở phương Bắc đi ngày đàng học sàng khôn, đã phát huy cao độ những tri thức thu lượm từ đất Tổ, sáng tạo những điểu mới mẻ? Và chúng ta cũng thấy những người Lạc Việt cùng Lạc Long Quân trở về Nghệ Tĩnh là những người tài giỏi, được đồng bào tại chỗ đón nhận rồi sau đó tôn người giỏi nhất làm vua. Không có chuyện đánh nhau tranh đất, chỉ có thể là hiện tượng những người cùng máu huyết và tiếng nói trở về mái nhà xưa. Rất có thể những người này mang theo tư tưởng mới về Dịch vun đắp cho gốc rễ Dịch Phùng Nguyên. Cái gốc Văn Lang lúc này cũng đang sung sức sáng tạo: hiện vật đồng thau sớm nhất loài người xuất hiện tại đây. Và Văn Lang còn là nơi sản ra nhiều trống đồng loại đẹp nhất!


Tôi hiểu ý thiện trong lòng ông Nguyễn Kết. Ông rất sợ những điều nói nghịch nhĩ của tôi phá vỡ mối đồng thuận của cộng đồng. Nhưng thưa ông, sự đồng thuận nào đây? Phải chăng là đồng thuận “Tổ tiên ta là người Gaulois”? Phải chăng là đồng thuận “Người Hán là tổ tiên của người Việt?” Thật khó đồng thuận khi một anh sinh viên đọc đâu đó trên mạng: “Người hiện đại tới Việt Nam đầu tiên sau đó lên khai phá Trung Hoa, khi bị quân Mông Cổ xâm lấn thì trở về dựng nước Văn Lang” với bài giảng của vị giáo sư danh tiếng: “Khi nước Sở diệt nước Việt, người Việt từ nam sông Dương Tử chạy xuống Việt Nam dựng nước Văn Lang.”


Đồng thuận là cần nhưng phải đồng thuận trên cơ sở hiểu biết chân xác lịch sử dân tộc, cội nguồn tổ tiên.


Tân Phú 7.5. 2007


 


NGHĨ KHI ĐỌC TOTEM SÓI


Chỉ đọc Totem Sói trên bản điện tử của talawas nên thật tiếc là không được thưởng thức những trang viết sinh động về cuộc sống trên thảo nguyên Mông Cổ. Dựa vào những ý tưởng lịch sử mà tác giả trình bày qua trích đoạn, tôi có đôi điều trao đổi.


I. Lịch sử phải viết lại:


Trong tiểu thuyết của mình, tác giả Khương Nhung đã lầm lẫn lớn khi không biết rằng, sói Mông Cổ không phải là sản phẩm vốn có của tự nhiên mà do con người tạo ra. Hổ, báo, sói, linh dương… là những con thú ăn thịt vốn sống hài hòa trong chuỗi thức ăn (chain of foods) ở môi trường đồng cỏ. Nghề du mục xuất hiện với những đàn cừu, dê, bò làm biến đổi quan hệ của chuỗi thức ăn trên: không gian hoạt động của thú ăn thịt bị thu hẹp, nhiều con mồi bị con người tranh giành, thú ăn thịt bị tấn công... Các con vật buộc phải trả thù con người đã phá sự yên bình của chúng.


 Sói là con vật sinh đẻ nhiều, thông minh và quen sống bầy đàn đã thích ứng cao với hoàn cảnh mới, chọn bãi chăn thả làm mục tiêu tấn công. Việc chống trả của con người đã dạy cho đàn sói sự khôn ngoan, táo bạo và liều lĩnh. Chính điều này làm nên phẩm chất của sói Mông Cổ. Vì vậy, sói Mông Cổ biến mất cùng du mục là quy luật tất yếu. Việc thờ tôtem Sói chỉ chứng tỏ con người cổ xưa đã ngây thơ sùng bái con vật do chính mình tạo ra. Nếu nhìn sự vật đúng như bản chất của nó, vấn đề trở nên đơn giản hơn.


Mặt khác, do chỉ quẩn quanh đào xới 24 cuốn sử Trung Hoa, nên tác giả Khương Nhung thiếu những kiến thức cập nhật về thời tiền sử Á Đông. Từ đó nhiều ý tưởng của tác giả đã bị thời gian vượt qua:


1. Những phát hiện về người cổ khoảng 700.000 năm trước trên thảo nguyên Mông Cổ mà tác giả đã dẫn, là những người vượn, cùng thời với người vượn Java, Bắc Kinh, bị tuyệt chủng từ lâu, không liên hệ gì với người hiện đại. Người hiện đại Homo sapiens chỉ có mặt trên thảo nguyên Mông Cổ khoảng 35.000 năm trước, là từ Đông Nam Á đi lên. Sọ (proto) Mongoloid tìm thấy ở di chỉ Hetao có niên đại 30.000 năm chứng tỏ điều này.(1)


2. Người Hán đúng là Viêm Hoàng tử tôn nhưng là con cháu của Bách Việt nông nghiệp với Mông Cổ du mục. Viêm Đế không thể là Mông Cổ du mục vì nếu vậy, bộ gene của người Hán không thể là chủng Mongoloid phương Nam như hiện nay. Người Hán chỉ ra đời từ năm 2600 TCN và từ thời Hoàng Đế, gene Mông Cổ du mục đã có trong huyết thống người Hán. Việc người Hán nhận là hậu duệ của Phục Hy, Thần Nông hoàn toàn chính danh vì họ mang gene của Viêm Đế.(2)


3. Rồng Tamtinh Thala không phải là sản phẩm thuần túy Mông Cổ. Có thể giải thích như sau: Tôtem Rồng có khởi nguyên từ hình tượng con cá sấu của người Đông Nam Á, được đưa lên bên sông Hoàng Hà. Khi người Mông Cổ hòa huyết với người Việt thì vật tổ Sói của người Mông Cổ được kết hơp với vật tổ Rồng thành con rồng có mặt sói như hình tượng Rồng Tamtinh Thala. Niên đại khoảng 5000 năm của Rồng Tamtinh Thala như vậy là hợp lý.


4. Không phải người Mông Cổ đã tạo nên văn hóa cho Hán tộc mà người Hán tiếp thu văn hóa và đất đai nông nghiệp từ tổ Viêm Việt. Văn hóa Hán, từ ngôn ngữ, chữ viết đến phong tục tập quán, kinh Thư, kinh Thi, kinh Dịch, kinh Nhạc, kinh Lễ… đều nhận từ tổ Viêm Việt.(1) Người Hán nhận từ tổ Mông Cổ chủ yếu là những tính cách: tôn sùng thủ lĩnh, quả cảm tàn bạo trong chiến đấu, ưa chinh phục.


Như vậy, trên cơ sở những phát hiện mới nhất về thời tiền sử Trung Quốc và Đông Á, không chỉ 24 cuốn sử của Trung Quốc phải viết lại mà ngay cả những phát biểu tưởng chừng mới mẻ trong Totem Sói cũng phải được điều chỉnh.


II. Nước và lửa, sói và cừu


Sau 5.000.000 năm thay nhau xuất hiện và lụi tàn của giống thú đi bằng hai chân, nói cho cùng thì nơi sản phẩm ưu tú nhất của tự nhiên, Người Khôn Ngoan Homo sapiens, phần Người vẫn chưa nhiều hơn phần Thú. Nói theo tác giả Khương Nhung thì trong máu huyết chúng ta, phần sói vẫn trội vượt. Cái phần sói làm nên hai cuộc tàn sát khủng khiếp trong thế kỷ vừa qua. Sói Hồng vệ binh trong Cách mạng văn hóa, sói Polpot diệt chủng và bây giờ là những con sói quấn bom đầy mình làm nổ tung người vô tội… Một tính sói khác là chủ nghĩa tư bản kích động lòng tham vô đáy của con người trong cuộc tranh giành cướp bóc thiên nhiên và đồng loại, đẩy loài người tới bên bờ diệt vong khi Trái Đất đang nóng lên và nổ tung bất cứ lúc nào!


Vấn đề của hôm nay không phải là nuôi tất cả mọi người trên hành tinh mà chính là sự phân phối công bằng nhất cho tất cả! Cái cản phá tệ hại nhất công việc này chính là lòng tham, chính là dòng máu sói còn quá đậm trong huyết quản! Chính dòng máu sói, máu thú này khiến con người còn dã man hơn loài thú. Con vật chỉ giết nhau vì miếng ăn, vì con cái, vì chỗ ở, vì nguồn nước. Con người ngoài những cái đó còn giết nhau vì chủng tộc, tôn giáo, chủ thuyết… Có lẽ ai cũng biết rằng, nếu đừng tranh cướp nhau, đừng chạy đua vũ trang chuẩn bị cho những cuộc bắn giết ngày càng lớn thì tài nguyên Trái đất không chỉ dư sức cho mọi người sống hạnh phúc mà còn giữ gìn được hành tinh lâu dài! Ai cũng biết thế nhưng chưa ai làm được. Tôi nói chưa vì tôi tin vào lương tri nhân loại. Sẽ tới ngày, đối mặt với câu hỏi tồn tại hay không tồn tại, nhân loại phải làm điều đó!


 Tôi tin còn bởi lẽ biết được rằng, trong quá khứ, tổ tiên Bách Việt của tôi mà cũng của đồng nghiệp Khương Nhung, đã từng sống như vậy.


 Hàng vạn năm, trên vùng đất mênh mông Đông Á, người Việt đã sống với văn hóa Việt là Việt Nho mà nội dung là Nhân Chủ, Thái Hòa và Tâm Linh. Trong tam tài thiên, địa, nhân thì con người là chủ, là trung tâm, là chủ thể của vũ trụ. Là chủ nhân nên con người sống thực sự là ông chủ, trong mối Thái Hòa giữa con người với nhau và với thiên nhiên. Và con người sống với Tâm Linh, hòa hợp cùng thế giới hữu hình và thế giới siêu hình.


Văn hóa Việt Nho từ xa xưa đã được hun đúc thành Đạo Việt An Vi: Giữa một bên Hữu Vi nghĩa là Vì: vì mình, vì gia đình, dòng tộc, phe đảng và bên kia Vô Vi, không Vì gì cả, không làm gì cả, mặc dầu thế sự… Tổ tiên ta đã chọn nếp sống an nhiên, an bình, an hòa. Có làm và làm một cách tích cực, với toàn bộ trí lực nhưng không vì những lợi ích cá nhân hay phe nhóm mà chỉ vì sự an nhiên, an tâm, an hòa của mình!


 Đấy là văn hóa ứng xử của tổ tiên Việt tộc, không chỉ tồn tại từ Hồng Hà tới Hoàng Hà mà còn theo người Việt thiên di tới châu Mỹ, làm nên văn hóa Da Đỏ(1)


 Người du mục Mông Cổ tràn xuống cướp phá giết tróc. Trước nguy cơ một thứ văn hóa sói lang xa lạ hủy diệt Đạo Việt, người Việt đã kiên quyết chống trả. Cuộc kháng chiến ngoan cường cho tới khi kẻ xâm lăng phải dùng chính sách khoan hòa, như viết trong Thượng Thư, dùng nhạc vũ thu phục. Thời đại Hoàng kim trong lịch sử Trung Hoa là gì nếu không phải là sự Thái hòa: những yếu tố tích cực tốt đẹp của văn minh du mục hòa hợp với Việt nho, đưa con người cả Việt cả Mông tới cuộc sống an lạc. Đấy chính là thời mà tổ tiên chúng ta đạt được sự cân bằng giữa nông canh và du mục, giữa nước và lửa. Mối Thái hòa ấy duy trì đến hết đời Chu. Lúc này yếu tố sói trong máu Hoa Hạ nổi lên, các chư hầu giành giật, đẩy thiên hạ vào thời đại loạn Chiến quốc. Trong bối cảnh đó, Khổng Tử thuật lại Đạo Việt trong Ngũ Kinh để lại cho hậu thế.


 Thế kỷ XVII, sau Đêm trường Trung cổ, các nhà Khai sáng châu Âu hé mắt nhìn ra thế giới, bỗng giật mình trước văn minh Á Đông. Ai đó, hình như Voltaire thốt lên: “Nếu bao giờ có một thời kỳ hạnh phúc nhất và đáng kính nhất trên trái đất này thì đó là thời kỳ người ta theo luật cai trị của Khổng Tử." Và "Hiến pháp của Trung Hoa thật ra là hoàn hảo nhất trên thế giới... là một nước duy nhất khi mà quan cai trị tỉnh phải thuyên chuyển, nếu không được dân hoan hô thì bị phạt... Ngay tự bốn ngàn năm trước đây khi chúng ta chưa biết đọc biết viết thì họ đã biết mọi điều căn bản hữu ích về những cái mà ngày nay chúng ta lấy làm tự hào."(2) Và Nhân chủ, Thái Hòa, Tâm linh của văn hóa phương Đông đã trở thành bó đuốc soi đường dẫn dắt phương Tây bước lên văn minh. Đấy là lần thứ hai tư tưởng phương Đông ảnh hưởng tới phương Tây, sau lần đầu từ những “nhà thông thái phương Đông” sang phương Tây khi xảy ra nạn đại hồng thủy 7500 năm trước.(1)


Một lần nữa nhân loại đui mù lại đi chệch hướng. Triết học duy lý phương Tây đang dẫn loài người vào ngõ cụt trong đó máu sói lộng hành, lửa át nước, văn minh du mục cưỡi cổ văn hóa nông nghiệp, đẩy nhân loại vào tình trạng chênh vênh nguy hiểm Dương thịnh Âm suy.


 Để cứu thế gian trong trình trạng chuông treo chỉ mành hiện nay không có cách nào khác là trở về với văn hóa phương Đông cội nguồn của nhân loại. Có nghĩa là phải đưa thế giới trở lại sự cân bằng giữa Âm và Dương trên nền tảng của Đất Mẹ, của quẻ Khôn nhu thuận, cưu mang, nuôi nấng. Đây chính là lần thứ 3 tư tưởng cội nguồn tiềm tàng tại phương Đông dẫn đường cho nhân loại.


III/ Kết luận


Đúng là vó ngựa cùng dòng máu sói Mông Cổ có đem lại sự thúc đẩy nào đó với lịch sử. Nhưng sau vó ngựa là sự tàn phá với hàng núi xương khô! Vó ngựa Mông Cổ không đem lại điều gì tốt đẹp cho nhân loại ngoài tàn phá và giết tróc. Không có bất cứ lý do nào biện hộ việc cướp đi mạng sống duy nhất của một con người! Nhân loại văn minh đã học được bài học đó để biết tôn trọng quyền thiêng liêng nhất là quyền sống!


Trong người Hán có nửa phần máu sói Mông Cổ. Lượng máu sói thường xuyên được bổ sung trong những lần tộc Mông Cổ chinh phục phương Nam. Cho đến nay, dòng máu sói vẫn sôi sục trong huyết quản người Trung Hoa. Việc phát triển kinh tế với tốc độ nóng bỏng hiện nay bất chấp tài nguyên cạn kiệt, bất chấp tàn phá môi sinh, bất chấp hàng trăm triệu người bị tước đoạt trở nên bần cùng… là gì nếu không phải biểu hiện của máu sói? Và lấp ló đâu đó những hạm đội Trung Hoa trong cuộc chinh phục mới tìm năng lượng và nguyên liệu!


Trong bối cảnh như vậy, việc một nhà tiểu thuyết ca ngợi sói tính, kêu gọi tiếp thêm máu sói vào huyết quản nhân loại không chỉ là lạc điệu, hoang tưởng mà còn nguy hiểm. Lẽ giản đơn, máu sói, tôtem Sói chỉ sinh ra trong điều kiện con người đối mặt với thiên nhiên hoang dã bạo tàn: đối mắt với sói, con người buộc phải dũng mãnh và thông minh hơn sói! Ngày nay đã khác, như tác giả viết, thảo nguyên không còn, sói không còn thì lấy đâu ra máu sói để tiếp vào huyết quản? Có thể tiếc nuối hoài cổ nhưng thái độ tích cực là phải thích ứng trong điều kiện mới, giải một cách tốt nhất bài toán mà cuộc sống đặt ra!


Tôi hiểu tác giả Khương Nhung. Ông đã “ba cùng” thực sự với thảo nguyên Mông Cổ, trong những năm tháng tốt đẹp nhất của đời mình. Ông đã hiểu biết, tôn trọng và yêu thương con người và cuộc sống thảo nguyên. Tại đây ông đã có những phát hiện về một cuộc sống khác lạ mà người Hán đồng chủng của ông chưa từng biết. Những vốn sống đó, cộng với tài năng đã giúp ông viết được cuốn tiểu thuyết hấp dẫn.


Tuy nhiên không thể đồng cảm với ông, người có tấm lòng thương vô hạn với con sói nhỏ bị giết nhưng lại lớn tiếng kêu gọi con người lao vào những cuộc tranh giành chém giết mới! Và cũng xin thưa, tiểu thuyết là một chuyện còn lịch sử văn hóa là chuyện khác, cần những hiểu biết sâu xa, chuẩn mực, lịch lãm hơn. Thiếu những tri thức đó e rằng mọi khái quát đều vội vàng.


Sài Gòn 4.2007


THƯA LẠI CÙNG GIÁO SƯ CAO THẾ DUNG


May mắn được đọc một số tiểu luận của giáo sư Cao Thế Dung trên mạng, chúng tôi thấy đó là những bài viết có kiến thức sâu rộng về cổ sử, được diễn tả một cách thuyết phục. Nhưng đáng tiếc bài Tên nước Việt Nam (http://www.mevietnam.org/ NguonGoc/ctd-tennuocvietnam.html) lại là bài viết thiếu mạch lạc đồng thời có những lý giải không thuyết phục. Với lòng kính trọng giáo sư, chúng tôi xin thưa lại đôi lời.


1. Con người có mặt trên đất nước ta từ bao giờ?


Mở đầu phần Nhân chủng, giáo sư Cao Thế Dung viết: “Có thể khẳng định con người đã có mặt trên đất Việt khoảng trên 30.000 năm trước. Khảo cổ học cũng đã tìm được những chiếc răng của người hóa thạch vào thời kỳ địa chất Pleistocene cách nay khoảng 300.000 năm”


Xuống dưới mấy dòng, là:


“ Các nhà khảo cổ học Pháp khai quật ở nhiều địa điểm Quảng Bình, Quảng Trị, nhất là ở Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) cho thấy con người nguyên thủy xuất hiện ở đây trước cả 10.000 năm.”


Và kết thúc phần này:


“ Con người xuất hiện ở nước ta vào loại sớm nhất, vào khoảng trên 10.000 năm.”


Đọc đoạn văn trên, người đọc bình thường sẽ bị rối trí vì không thể nào hiểu nổi: con người xuất hiện trên đất nước ta chính xác vào thời điểm nào? 30.000 năm, 300.000 năm hay 10.000 năm? Và phải chăng chủ nhân của văn hóa Sa Huỳnh 10.000 năm trước vẫn là người nguyên thủy?


Quả là không thể ngờ được rằng, trong bài viết của vị giáo sư đáng kính lại có sự luộm thuộm đến như vậy. Sự luộm thuộm này là do nắm sử liệu không vững hay do lối hành văn của người không tự chủ được ngòi bút?


Thực ra, nội dung mà đoạn văn trên muốn đề cập là thế này:


- Tại di chỉ Núi Đọ, các nhà khảo cổ phát hiện chiếc răng hóa thạch tuổi 300.000 năm. Đấy là dấu tích của người cổ đã tuyệt chủng.


- Tại di chỉ Sơn Vì, tìm thấy sọ người hiện đại Homo sapiens 32.000 năm tuổi. Đây là vết tích sớm nhất của người hiện đại được tìm thấy ở nước ta.


Nhưng đó là tri thức của thế kỷ XX. Một khi đã đề cập công trình của giáo sư Y. Chu thì phải viết đầy đủ thế này: “Nhưng theo G.s Chu cùng đồng nghiệp, thì người hiện đại đến nước ta khoảng 60 -70.000 năm trước. Như vậy có thể nói rằng, người hiện đại có mặt trên đất nước ta khoảng 60 – 70.000 năm trước.”


- Người có mặt ở Quảng Bình, Quảng Ngãi 10.000 năm trước không phải người nguyên thủy mà là hậu duệ của người Hòa Bình, là chủ nhân của văn hóa Sa Huỳnh.


Những vấn đề về thời tiền sử của người Việt do nhiều tư liệu và giả thuyết khác nhau nên rất nhạy cảm. Chúng tôi có cảm tưởng, khi rời khỏi sở trường là cổ sử Trung Hoa, giáo sư trở nên lúng túng.


2. Về “giả thuyết Sở-Việt”


Từ tư liệu trong cổ sử Trung Hoa và ý kiến của một số học giả người Pháp, giáo sư Cao Thế Dung nghiêng về hướng tán thành thuyết của Aurousseau cho rằng:


“ người An Nam ngày nay là dòng dõi trực tiếp của người nước Việt bị diệt năm 333”.


Giả thuyết Sở-Việt vấp phải những mâu thuẫn sau:


a. Hoàn toàn phủ định truyền thuyết Hùng Vương dựng nước. Một lý thuyết đưa ra mà trái ngược tới mức phủ định truyền thuyết gốc của dân tộc là điều phải hết sức đắn đo, thận trọng.


b. Nếu thế kỷ IV TCN, người Sở- Việt mới tràn xuống đất Việt để sản sinh ra người Việt Nam hiện đại thì những người có mặt ở nước ta từ Sơn Vi, Hòa Bình, Phùng Nguyên, Sa Huỳnh đi đâu? Họ có vai trò gì trong nhân chủng Việt Nam hiện đại?


c. Trái với chứng cứ nhân chủng học.


 “Thời đại Đá Mới, dân cư trên lãnh thổ Việt Nam thuộc hai đại chủng Australoid và Mongoloid cùng với các loại hình hỗn chủng giữa chúng cộng cư với nhau, trong đó Indonesien và Melanesien là hai thành phần chủ yếu. Sang thời đại Đồng- Sắt, người Mongoloid đã là thành phần chủ thể trong khối cư dân ở Việt Nam, người Australoid mất dần đi trên đất nước này, hoặc do thiên cư, hoặc do đồng hoá.”(1)


Kết luận trên một lần nữa được tiến sĩ M. Oxenham của Đại học Quốc gia Úc khẳng định: “Người Việt từ trước thời đá mới đã có biểu hiện của giống người Úc châu [Nam đảo] hay Đa đảo Melanesian, nhưng người Việt từ đầu thời Đồng thau đã có biểu hiện đặc trưng của giống người Ðông Nam Á. Sự hiện diện của cả hai nhóm sắc tộc này sát cánh nhau trong khu mộ táng cho thấy đã có sự hỗn hoà giữa hai chủng ở mức độ đáng kể, có thể là đánh dấu những nguồn gốc sớm nhất về dân cư Việt hiện thời, vốn đã tương đối ổn định khoảng năm 2000 TCN.”(1)


Như vậy, người Việt hiện đại ra đời từ hơn 2000 năm trước khi người Sở- Việt di cư xuống, nên không thể: “nói quyết rằng người An Nam ngày nay là dòng dõi trực tiếp của người nước Việt bị diệt năm 333”(!)


d. Khoảng 300 năm TCN, người Việt hiện đại mới khai sinh thì giải thích làm sao việc họ là chủ nhân của khối lượng lớn trống đồng loại tinh xảo tập trung trên địa bàn miền Bắc Việt Nam? Để có một văn minh đồng thau như vậy, phải có một trung tâm kinh tế, quyền lực, văn hóa đủ mạnh. Có nghĩa là ở Bắc Việt Nam lúc đó đã có một nhà nước mạnh và văn minh hơn Sở-Việt.


Không chỉ giáo sư Cao Thế Dung mà một số nhà nghiên cứu khác như Nguyên Nguyên, Trương Thái Du… cũng theo quan điểm trên.


Chúng tôi hiểu, đó là lối thoát duy nhất cho học thuật Việt Nam một thời. Nghìn năm trước, khi chúng ta bước vào tự chủ thì trước mặt là nền văn minh Hoa Hán sừng sững. Trí thức Việt chỉ là những chú học trò nhỏ. Họ đã học tất cả, từ Kinh Thư đến bách gia chư tử. Bức xúc tìm về cội nguồn, họ theo Tư Mã Thiên ngược tới nhà Hạ rồi nước Việt thời Câu Tiễn. Khi có mặt ở phương Đông, các học giả phương Tây cũng lóa mắt trước sử liệu Trung Hoa. Một người trong số họ là Aurousseau đã xử lý tới tận cùng cổ sử Tàu rồi đề ra lý thuyết khả dĩ nhất về cội nguồn dân Việt là Sở Việt. Các học giả người Việt khi xào xáo “tới gáo” nguồn cổ thư Trung Hoa cũng thấy mình không thể vượt qua ông thầy Tây kia. Tác giả Nguyên Nguyên (Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương- dunglac.net) không dám phủ định truyền thuyết Lạc Long Quân- Âu Cơ, đã đưa ra lý thuyết “fast forward” (quay nhanh băng video) cùng nhiều biện luận để lùi thời điểm lập nước xuống hơn 2000 năm…


Nhưng sang thế kỷ này, với những phát kiến của công nghệ gene, nhất là công trình của nhóm giáo sư Y. Chu, chúng ta có con đường khác tìm tới cội nguồn dân tộc.


3/ Giả thuyết: “Người Lạc Việt từ lưu vực Hoàng Hà trở về dựng nước Văn lang”


Dựa trên những phát kiến khoa học mới, nhất là công trình của tập thể các nhà di truyền Trung Quốc và Mỹ cộng tác trong Dự án Đa dạng di truyền người Trung Hoa (Chinese Human Genome Diversity Project), chúng tôi xin đưa ra giả thuyết “Người Lạc Việt từ lưu vực Hoàng Hà trở về dựng nước Văn lang” như sau:


Khoảng 40.000 năm trước, người Việt từ Đông Nam Á đi lên khai phá đất Trung Hoa. Cho đến thiên niên kỷ thứ IV CTN, họ đã làm chủ vùng đất mênh mông từ Đông Nam Á tới phía nam sông Hoàng Hà, có nhân số khoảng 2/3 nhân loại và phát triển nền nông nghiệp tiên tiến.


Cũng khoảng thời gian này, một số nhóm người Mongoloid từ Đông Nam Á đi lên, định cư ở phía tây bắc Trung Hoa và chuyển dần từ săn bắt hái lượm sang du mục, là tổ tiên của chủng Mongoloid phương Bắc.


Khoảng giữa thiên niên kỷ thứ III TCN, người du mục xâm phạm lãnh thổ của người Việt, cướp của, hiếp dâm, bắt người làm nô lệ, mức độ ngày một tăng. Do vậy đã xuất hiện liên minh các bộ lạc Bách Việt phía bắc sông Dương Tử do Đế Lai chỉ huy với các bộ lạc phía Nam Dương Tử do Lạc Long Quân lãnh đạo chống lại quân xâm lăng. Khoảng năm 2600 TCN, người Mông Cổ do họ Hiên Viên dẫn đầu mở chiến dịch lớn tổng tấn công ở Trác Lộc. Liên quân Việt thua trận, Đế Lai hy sinh. Lạc Long Quân dẫn đoàn quân dân Việt lên thuyền theo dòng Hoàng Hà ra biển xuống phía nam, đổ bộ vào vùng Nghệ Tĩnh. Phần lớn người Việt ở lại đã hòa huyết với người Mông Cổ, sinh ra chủng Mongoloid phương Nam.(1)


Trong đoàn thuyền nhân trở về Việt Nam, có một số người lai Mông Cổ được sinh ra từ những cuộc xâm lấn trước đó và cả những phụ nữ bị quân Mông Cổ hãm hiếp mang thai. Khi trở về, họ sinh những con lai thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Do sự chiếm đóng mở rộng, cuộc di tản khỏi lưu vực Hoàng Hà còn tiếp tục và bổ sung thêm người Mongoloid phương Nam cho dân cư Việt Nam. Những người mang gene Mongoloid phương Nam này lai với người bản địa thuộc loại hình Australoid, làm chuyển hóa dân cư Việt Nam sang loại hình Đông Nam Á, là tổ tiên của người Việt Nam ngày nay.


Đoàn thuyền nhân từ Hoàng Hà trở về, do cùng chủng tộc và ngôn ngữ nên dễ dàng hòa nhập với dân bản địa. Người mới về, do hoạt động trên vùng đất rộng, phải thường xuyên đối mặt với kẻ xâm lấn phương Bắc nên biết cách tổ chức nhà nước và kỹ thuật quân sự, vì vậy được cộng đồng bản địa tôn làm thủ lĩnh và khi lập nước Văn Lang thì gọi lả vua. Nhờ ưu thế lai của chủng Mongoloid phương Nam, nhờ được tổ chức thành nhà nước, người Văn Lang trở nên hùng mạnh, sáng tạo văn hóa đồng thau, đặc biệt là chế tác trống đồng.


Do thuyền nhân trở về không đông nên số người mang gene Mongoloid phương Nam có mặt lúc đầu ở Văn Lang không nhiều, vì vậy quá trình chuyển hóa dân cư Việt khá chậm chạp, phải trong thời gian hơn nửa thiên niên kỷ, cho tới 2000 năm TCN mới ổn định.


Giải thích và chứng minh


Giả thuyết do chúng tôi đề xuất có những ưu điểm sau:


a. Phù hợp với truyền thuyết Hùng Vương dựng nước và cũng chứng minh Ngọc phả đền Hùng nói đúng sự thực là có đoàn thuyền nhân đổ bộ vào Nghệ Tĩnh


b. Từ phân tích sọ cổ, nhân chủng học phát hiện việc chuyển hóa di truyền của dân cư Việt Nam thời Đồng-sắt. Nhưng không tìm được sọ Mongoloid thuần chủng, chứng tỏ ít nhất là vào thời kỳ này không có người Mongoloid thuần chủng trên đất Việt Nam. Chính vì vậy mà Nguyễn Đình Khoa không dám khẳng định nguyên nhân của sự chuyển hóa: “hoặc do thiên cư, hoặc do đồng hóa.”


Trong cổ sử cũng như truyền thuyết, không hề ghi nhận sự thiên cư của chủng Mongoloid tới Việt Nam vào thời gian này. Như vậy chỉ còn khả năng duy nhất là có số nhỏ người Mongoloid phương Nam xuất hiện và đồng hóa làm biến đổi gene của dân cư Việt.


Giả thuyết của chúng tôi giải thích thỏa đáng điều này: cách nhau vạn dặm núi rừng và một biển người Bách Việt dòng Australoid, gần như đồng thời, bên sông Hoàng và sông Hồng, chủng người Mongoloid phương Nam xuất hiện. Nguyên nhân tại đâu? Chỉ còn khả năng duy nhất là có những người lai Mông Cổ trong đoàn thuyền nhân từ sông Hoàng Hà đi về Việt Nam.


c. Giả thuyết của chúng tôi cho phép chứng minh ngược lại thuyết của Aurousseau: Sau 2500 năm TCN, người từ Việt Nam di cư bằng đường bộ và bằng thuyền, truyền bá gene Mogoloid phương Nam ra khắp địa bàn nước Văn Lang rộng lớn, làm chuyển hóa di truyền của người Việt ở phía nam Dương Tử. Trong thời gian này, người Mông Cổ và hậu duệ của họ chỉ chiếm giữ phần đất nhỏ thuộc Cửu Châu, diện tích chưa đến 120.000 km2. Phía bắc Dương Tử vẫn là địa bàn của người Bách Việt, được gọi là Nam Di. Khi bị dồn đến sát dòng sông sinh tử, sự kháng cự của người Việt ngày càng quyết liệt, vì vậy việc tiếp xúc dẫn đến hòa huyết giữa hai kẻ thù hiếm xảy ra hơn. Khi Dương Tử là ranh giới phân chia nam-bắc thì sự tiếp xúc càng khó. Trong tình hình như vậy, việc lan truyền của nguồn gene từ Việt Nam lên là thuận lợi. Cố nhiên, không phủ nhận là sau đó, khi cuộc xâm lăng mở rộng, việc hòa huyết với người từ phương bắc xuống xảy ra nhiều hơn. Khi các nước Ngô, Việt ra đời vào 700 năm sau, dân cư của nó đại đa số là chủng Mongoloid phương Nam, trong đó chủ yếu là hậu duệ của những người từ Văn Lang tới.


 Việc người nước Việt của Câu Tiễn trở về Việt Nam vào năm 333 TCN là lá rụng về cội, cháu con trở lại đất xưa của tổ tiên.


Tân Phú, Sài Gòn 5.2007


(còn tiếp)


Nguồn: Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học, 2008.







(1) Về văn minh cổ và nguồn gốc dân tộc Việt Nam, trả lời nhóm Tư tưởng của Nguyễn Quang Trọng- Hợp Lưu 1/2002




(2) Hà Văn Thùy. Khai sinh người Hán và sự hình thành nước Tàu.




(1) Hà Văn Thùy. Tìm lại cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hóa.




(1) Lévi Strauss -Tristes tropicques tr. 196 và 267. Dẫn theo Kim Ðịnh- Cơ cấu Việt Nho SG 1972 tr. 22.




(2). Philosophique tr. 108 (Kim Ðịnh. Cửa Khổng tr.245)




(1) Stephen Oppenheimer: Eden in the East: the Drowned Continent of Southeast Asia- Nxb Phoenix London 1998. NXB Lao Động 2004.




(1) Nguyễn Đình Khoa. Nhân chủng học Đông Nam Á. NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp H. 1983- trang 106




(1) Lê Anh Vũ- Tin BBC hay tin Oxenham- talawas 3.3.05




(1) Hà Văn Thùy. Tìm lại cội nguồn tổ tiên, cội nguồn văn hóa.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
Những đám khói - Võ Phiến 23.03.2017
Khó, dễ Nguyễn Tuân - Đào Nguyên 22.03.2017
Ở nơi “con chim bay bạc đầu chưa tới” - Ngô Vĩnh Bình 22.03.2017
Lê Văn Thảo, người lữ hành lặng lẽ - Nguyễn Xuân Hưng 21.03.2017
Hoa của đất: Nhà toán học lỗi lạc của quê hương Gò Nổi - Kỳ Lam - Hàm Châu 19.03.2017
Không khóc ở Mỹ Sơn - Inrasara Phú Trạm 16.03.2017
xem thêm »