tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19994651
Truyện ngắn
07.11.2012
Vũ Bằng
Con mèo của dượng Năm

– Ăn cháo trắng mà cầu kỳ đến cái độ phải đi vào tận đường Đồng Khánh, thật quả tôi xin chịu chị. Cháo, ăn đâu chẳng được?


– Đã đành rồi. Nhưng tôi muốn rủ anh vào đó. Để cho anh biết cháo trắng ở đấy, đã có một thời nổi tiếng.


Chị Tư Bình là bạn tôi từ nhỏ. Đáng lẽ hai đứa chúng tôi lấy nhau khi tôi thi vào trường thuốc, nhưng vì lần ấy tôi không đậu cho nên gia đình chị Tư chê. Sau đó ít lâu, chị theo cha mẹ vào Nam lập nghiệp. Ngót bốn mươi năm trời, tôi không biết tin tức ra sao. Sau hiệp định Giơneo, tôi vào đây, tình cờ lại gặp chị, vào một buổi năm 1954. Đêm nay, chị mời tôi vào Chợ Lớn ăn cháo trắng – Cái thứ cháo nấu bằng gạo nếp thật nhừ, vì trong cháo có vài trái bạch quả lẫn vào với lá dứa. Chị bảo cháo ấy “Ăn vào khỏe con người”.


– Ở vùng Chợ Lớn Sài Gòn, vào khoảng Rạch Bà Tình ở xóm Dầu ngày trước, cũng có bán cái thứ cháo này, kêu là “cháo trắng cây me”, khuya nào cũng có những tay phong lưu xa mã đến ăn chơi đú đởn, nhưng tôi không hay lui tới đó. Tôi thích ăn cháo trắng ở đây hơn. Thứ nhất là vì nhà tôi ở đầu cầu Chà Và, và chú Tiêu bán cháo lại ngồi ở ngay gần nhà tôi. Thứ hai là cháo của chú ăn với hột vịt muối đã mát ruột, lại có thêm “cải tằng ô” giòn tanh tách. Thứ ba là cứ thành phố lên đèn thì thiên hạ bu lại ăn đông kìn kịt, tôi có dịp gặp các bồ bịch của tôi, như ông cò Mi Khánh, Tư Mắt, Sáu Ngộ, cô Ba Thành, thằng Tư Nên...


Xa cách nhau có mấy chục năm, không ngờ chị Tư Bình bây giờ lại ăn nói thông thạo như thế, mà tiếng Tàu lại nói vi va vi vút, nghe rất ngộ. Không cần phải hỏi, tôi cũng đoán ra cuộc đời của chị trong bốn mươi năm ấy cũng “sống động” như thế nào.


Tôi hỏi:


– Thế chị có thể cho tôi biết bây giờ chị có mấy cháu rồi?


Chị Tư cười ngặt nghẽo:


– Có hai con... Hai con mắt đây này! Anh làm báo mà lại không biết hay sao?


Cũng như hầu hết người ta, chị Tư quan niệm rằng phàm đã làm báo thì việc gì cũng biết, không sót một điều gì.


Chị tiếp:


– Anh làm bộ thì thôi. Hồi đó ai lại còn không biết tiếng tôi, cũng như Bẩy Hột Điều, Tư Nhị, Hai Thôi, Sáu Hương, Công tử Cầu Ngang [1] lúc đó van nài tôi làm vợ, tôi không chịu. Tôi không chịu lấy ai hết vì tôi hiểu đàn ông quá rồi. Ấy thế mà tôi suýt mê một người... một hai đã định lấy, nhưng sau vì một lẽ đặc biệt lại thôi. Tôi tu tại gia, rồi lập một cái am trên Thủ Đức tụng kinh gõ mõ, xa lánh bụi trần, nhưng tôi không thí phát, không ăn chay, chỉ biết Phật... tức tâm, tâm tức Phật.


Nói của đáng tội, chị Tư Bình quả là người sành ăn. Ghế bàn không có, mà đến cái xe cái sạp cũng không. Chú Tiều bán cháo chỉ có một cái gánh đặt bên đường với vài cái ghế bếp thấp lè tè, ấy thế mà người ta phải đứng đợi mà ăn, xếp hàng để mà ăn. Hai vợ chồng chú và thằng phổ ky múc cháo tía lia mà vẫn không kịp bán.


Ăn xong, chúng tôi đi về phía cầu Chà Và. Chị chỉ cho tôi một cái kẹt ở đường Đồng Khánh, gần đầu cầu, mà bảo:


– Cái nhà ở bìa hẻm là nhà tôi ngày trước. Bán đã được mười mấy năm nay rồi. Đây, trước gọi là xóm Cốm. Ờ, lâu tôi không tới, mới biết là phong cảnh khác xưa nhiều quá. Cái miếu thờ “Cặp mèo đuôi chìa khóa” cũng đã bị phá mất rồi. Phải, ở chính cái quán bán nước trái cây này đây, khi trước, tôi có xây một cái miếu thờ mèo, người ở chung quanh đến lễ đông đáo để.


Thoạt đầu, tôi tưởng chị Tư nói giỡn. Tôi biết là người ta thờ ông Cọp, thờ rắn, thờ cá ông Voi... Nhưng thờ mèo! Quả thực là độc đáo! Mà mèo gì lại là mèo “đuôi chìa khóa”, cái đó mới lạ kìa!


Chị Tư Bình cười, một lát sau mới tiếp:


– Có phải khi nãy tôi mới nói với anh rằng có lúc tôi suýt mê một người đàn ông và một hai định lấy, nhưng sau lại thôi, phải không? Ấy đó, cái miếu thờ “Cặp mèo đuôi chìa khóa” tôi xây ngày trước ở đây có liên hệ mật thiết đến câu chuyện tình dở dang giữa người ấy với tôi.


P P P


Chúng tôi về đến Thủ Đức vào khoảng mười một giờ khuya. Đường vắng vẻ. Gió hiu hiu mát. Tôi lái xe đi thong thả. Chị Tư Bình châm một điếu thuốc đưa cho tôi, mồi một điếu khác để hút mấy hơi dài, sau mới hỏi:


– Lẹ quá, phải không anh? Tôi cứ tưởng là tôi còn trẻ. Bây giờ trông thấy tóc anh đốm bạc, sực nghĩ tôi xấp xỉ tuổi anh, mới chợt nhớ là chúng mình đã già quách mất rồi. Anh đã được sáu chục chưa?


– Hơn thế, sáu mươi hai rồi.


– Tôi không nhớ, nhưng có kém anh thì chỉ kém vài bốn tuổi là cùng... Thời giờ đi lẹ quá...


Nhưng mà thôi, bây giờ chị Tư Bình có nói gì tôi cũng chẳng muốn nghe đâu. Thời giờ mau lẹ... Mái tóc buổi sáng còn xanh mà tối đã như sương... Tất cả, tất cả, đều là văn chương phù phiếm. Tôi chỉ băn khoăn có một điều: Tại sao lại có cái miếu thờ cặp mèo đuôi chìa khóa? Mà tại sao vì con mèo, chị định lấy chồng lại thôi? Hay con mèo đây không phải là con mèo bốn chân, ... mà lại là... mèo hai chân? Mà người miền Nam vẫn kêu người thương là mèo. Chắc con mèo này có cái tước hiệu là “đuôi chìa khóa”.


Tôi đem nỗi thắc mắc đó ra hỏi chị Tư Bình. Vừa vặn lúc đó, xe chúng tôi tới cái am của chị.


Đêm hôm ấy, ngồi ăn kẹo mè xửng, uống nước trà xanh, chị Tư Bình kể cho tôi nghe một cuộc tình duyên lỡ dở, mà nhân vật chính là một cặp mèo. Mèo thật, mèo bốn chân – cả hai cùng có cái đuôi xoắn lại ở đầu.


Chị Tư nói:


– Những người ham nuôi mèo gọi thứ đuôi ấy là “đuôi chìa khóa”, trái với thứ đuôi gần cong vút lên, là “đuôi chìa vôi”. Theo sách tướng, họ cho những con mèo đuôi chìa khóa tinh khôn lắm vì chúng là “phúc thần”, nuôi phát tài. Chẳng biết có đúng không, tôi chỉ biết rằng cặp mèo mà tôi sắp nói đây là hai con mèo cùng đuôi chìa khóa, một con nhị thể, một con tam thể, giữa lưng có cái “ấn vàng”. Con nhị thể là con của con mèo tam thể thuộc loại Angora. Lông của cả con mẹ lẫn con con dài và mượt lắm, mắt thì xanh biếc và trong như ngọc thạch. Bây giờ cả con mẹ – tức là con tam thể – và con con – tức là con nhị thể, đuôi chìa khóa đều chết cả rồi. Cái miếu tôi lập nên chính là thờ hai mẹ con con đó. Mẹ nó là Mi mẹ, con nó là Mi con. Thực ra không phải tôi đặt tên ấy cho chúng nó.


Có phải anh sốt ruột vì tôi nói chuyện dằng dai quá, phải không? Tôi biết. Tôi lại còn cái thói xấu nữa là nóng nảy và hay hờn hay giận, mà đã giận và gắt lên thì ông trời tôi cũng “pha” luôn. Anh phải chịu khó mất công nghe một chút. Như thế là anh thương tôi và giúp tôi. Là vì câu chuyện này đã xảy ra có đến mười bảy, mười tám năm rồi, mà cho tới hôm nay tôi vẫn thắc mắc vẩn vơ không biết rằng đối phó như tôi là phải hay không phải, nên hay là không nên. Anh có nghĩ rằng nếu anh muốn thông suốt vấn đề, tìm một cách giải quyết thích nghi và chính xác rồi quyết định xem tôi phải hay trái, hay hay dở thì anh cần phải nghe cho thật kỹ từ đầu đến đuôi không bỏ một chi tiết nhỏ! Kìa trà tươi nóng, uống đi chớ! Để nguội mà lại ăn với kẹo mè xửng, đầy bụng, không tốt!


Vậy thì khi nãy anh đã trông thấy căn nhà ngày trước của tôi ở bìa hẻm Đồng Khánh, gần đầu cầu phải không? Từ nhà tôi vào quá trong khoảng mười bốn, mười lăm thước là căn nhà của em gái tôi. Nhà tươm tất lắm. Xây cất y như nhà tôi vậy.


– Ủa, tôi tưởng chị chỉ có một em trai đi ngoại quốc từ hồi nhỏ chớ không có em gái? Hay là ông cụ lại có mèo, hoặc vào đây cụ bà sinh đẻ thêm chăng...


– Không phải. Em tôi đây không có nghĩa là em ruột, em họ, em con chú, con bác hay con cô cậu, nhưng là “em kết nghĩa”. Cái đất này kỳ cục nhưng mà thương được lắm: con trai, đàn ông có anh em kết nghĩa, con gái, đàn bà cũng có chị em kết nghĩa. Cắt máu ngón tay ra để kết nghĩa với nhau. Sung sướng cùng chia sớt, khổ sở cùng chịu đựng. Chúng tôi ý hợp tâm đầu hết sức. Lài – tên em tôi – kém tôi hai tuổi. Nó nhỏ người, ốm yếu, hơi mét xanh. Còn tôi, “mình dây”, mạnh hơn và cũng hồng hào, cao ráo hơn. Bây giờ tôi đã già rồi. Hồi ở Bắc, hai đứa chúng mình biết nhau, tôi ngộ lắm phải không anh? Vào ở trong này, son phấn của Âu Mỹ điểm tô vào, còn ngộ hơn nữa. Tôi không tưởng tượng được chỉ có vài năm trời mà tôi già khú hẳn đi như thế! Chung quy chỉ vì một vụ yêu đương chẳng đi tới đâu hết... Anh cứ chịu khó nghe tôi sẽ biết...


Vậy, Lài và tôi là hai chị em kết nghĩa, tâm đầu ý hợp, nhưng về vật chất thì hai đứa khác biệt nhau. Lài có máu Minh Hương. Ở trong này kêu là đầu gà đít vịt – mắt xanh trong, thỉnh thoảng lại ánh vàng lên như da đồng... trông kỳ lắm, mê ly lắm. Nhưng toàn thân nó tiết ra một vẻ hơi quê, nhút nhát. Còn tôi thì đi đứng mạnh dạn, lanh lẹ và theo lời của chú đàn ông quen biết hồi đó, tôi không đến nỗi vô duyên lắm.


Hồi đó, tiền bạc thiếu gì... Các chàng công tử đi xe Delage mui trần mới toanh, đốt giấy bạc thay quẹt, bán lúa, vay bạc Chà đưa cho mình cả đống.


Chúng tôi xây hai căn nhà ở cái hẻm đầu cầu Chà Và giống nhau, là có ý định cho mướn một cái, còn một cái hai đứa ở chung. Đột nhiên, một hôm, Lài bị “dính” anh Năm Kích... Ối, trai gái mê nhau, ai mà hiểu tại sao, ai mà can cho nổi...


Hay tin ấy, tôi hơi buồn. Nói cho thật đúng, đó là một tiếng sét trong cuộc đời của chúng tôi. Yêu thương nhau đến cái độ kết nghĩa với nhau, thề đồng sinh đồng tử, thế mà tự nhiên... Nhưng tính tôi cởi mở, anh đã biết, không có nhỏ nhen đâu... Tôi không oán hận anh Năm Kích một chút nào. Tôi mến anh ấy, bởi vì anh ấy thương yêu em tôi mà tỏ ra là người lịch sự, nể tôi và quý tôi hết sức. Cố nhiên trong những ngày đầu, tránh sao khỏi có sự lộn xộn, không như ý...


Lài và tôi quyết định ai ở nhà người ấy, chớ không ở chung như đã từng dự tính. Lài sống rất êm đềm với chồng. Hai đứa nó thương nhau lắm. Hôm nào không có bạn rủ đi chơi, tôi vẫn thường chạy sang nhà chuyện trò với vợ chồng nó, tiện cớ ăn cơm, nghĩa là y như thể ruột thịt.


Năm Kích thấy chúng tôi đùa cợt, chuyện trò thì lấy làm vui lắm và coi chúng tôi như là trẻ em bé bỏng. Tính tôi, anh có biết, ngồi ỉu xìu ra một đống để suy nghĩ vẩn vơ, tôi không chịu được. Không chuyện trò thì tôi ca; không ca thì rủ Năm Kích và Lài đánh bài cào. Bây giờ, hồi tưởng lại, tôi còn phảng phất nhớ miệng cười của Kích và cái thói quen, sau mỗi khi đánh bài, thắng thì lại lăn ra nằm một lát, hút liền mấy hơi thuốc lá thơm. Hình như có một đôi khi tôi đã mơ tưởng vẩn vơ trong óc cũng gặp một người chồng ngoan ngoãn, cũng biết thương vợ và cư xử nhã nhặn với hàng xóm, láng giềng như y. Nếu được vậy, có lẽ hạnh phúc của hai chị em tôi sẽ đẹp đẽ hơn nhiều nữa.


Nhưng bầu không khí gia đình của Lài thỉnh thoảng lại vẩn lên một chút, không được trong trẻo hoàn toàn, Kích và tôi, đôi khi bị băn khoăn, không được yên tâm hẳn. Sau khi lấy chồng được hai năm. Lài đau luôn. Da vàng ệch. Lúc nào cũng kêu nhức xương đau mình, đi khám đủ các bác sĩ mà không hết. Đã vậy lại có thai, rồi sẩy. Nhà thương cắt dạ con: Lài không hy vọng sanh đẻ được nữa, lại càng buồn. Do đó, sức khỏe mỗi ngày sút kém đi trông thấy.


Kích hết lời an ủi vợ: “Đẻ hay không, cái đó có gì quan hệ đâu em. Nhiều khi, có con lại là cái tội, chớ quý báu gì!”.


Kích nói hùng hồn lắm, nhưng tôi biết là nói thế để cho yên lòng Lài, chớ thực tâm Kích cũng không lấy gì làm vui. Chính anh đã có lần tâm sự với tôi như vậy: Ngoài việc đó ra, không có gì đáng kể. Cuộc đời trôi đi êm đềm như thành phố Sài Gòn lúc đó: đường đi sạch sẽ, bóng mát tủa ra khắp mọi nơi; thầy thông, thầy ký kiếm mươi mười hai đồng một tháng mà sống như ông hoàng nhỏ; còn các người lao động thì trưa đến gác chân lên hàng ba đọc báo rồi ngủ, ai kêu mần công chuyện cũng không thèm làm...


Thế rồi, bỗng đâu một hôm kia... Không, một đêm thì đúng hơn...


P P P


– À, tôi đã nói – chị Tư Bình nói tiếp – tôi đã nói với anh rằng, ngoài công việc tề gia nội trợ, Lài chỉ quanh quẩn trong nhà với con chó, con mèo chưa nhỉ?


Phải, nó ưa mèo chó lắm. Ngoài công việc cơm nước và săn sóc chồng ra, nó chỉ lo tắm rửa và bắt ve cho con Ki Ki, một con chó thuộc loại chow-chow [2] và trộn cơm cá cho con Mi mẹ, một con mèo tam thể đuôi chìa khóa, có một con là Mi con, nhị thể cũng đuôi chìa khóa như mẹ. Lài ôm hai con mèo vào lòng suốt cả ngày. Còn con chó thì đóng một cái giường con, có nệm và mùng cẩn thận để cho nó ngủ. Nhưng cái giống chow-chow thật kỳ: hễ mở cửa là nó chạy ra đường đi lang thang khắp xóm, có khi ra cả đường lộ, mà bất cứ ai dù quen dù lạ cho ăn nó cũng đi theo liền. Dù cẩn thận cách nào con Ki Ki cũng lỉnh được ra ngoài để đi chơi. Có người bắt trộm đem đi mất.


Bao nhiêu tình thương loài vật, Lài dồn cả vào cho Mi mẹ, Mi con. Hai con mèo này quanh quẩn trong nhà với Lài suốt ngày.


Trong khi Lài đau yếu, Mi mẹ, Mi con ăn cơm xong lại lên nằm cuộn lấy nhau ở chân giường, nhắm mắt lại, thỉnh thoảng lại mở mắt ra y như hai người khán hộ siêng năng săn sóc bệnh nhân.


Vậy, đêm ấy tôi đương ngủ thì bỗng nghe tiếng bấm chuông ở cửa. Lập tức, tôi nghĩ ngay rằng đó là những đứa trẻ con tinh nghịch, đến phá, vì thường thường vẫn thế, chúng bấm chuông rất dữ, đến khi dậy mở cửa thì chẳng có ai.


Lần này, vừa mới chợp mắt chừng nửa tiếng đồng hồ, tôi lười biếng không thèm dậy. Tiếng chuông lại ré lên. Tôi vẫn không dậy. Ở ngoài, có tiếng người kêu: “Ủa, tiếng ai như tiếng Kích! Có chuyện gì mà bấm chuông dữ vậy?”. Tôi nghĩ thầm. Thực tình lúc đó tôi không băn khoăn hay hồi hộp trong lòng. Tôi hỏi: “Cái gì thế, dượng Năm?”. Và tôi thong thả đi xuống dưới nhà, định mở cửa thì Kích ở bên ngoài nói vọng vào: “Chị Tư, tôi phải về... Nhà tôi đau kỳ lắm... Chị sang ngay nhé!”.


Tay tôi run lên bần bật, không mở được khóa, đành phải đứng ở bên trong mà hỏi ra:


– Sao, Lài làm sao?


Kích vừa thở vừa trả lời:


– Chị sang giùm tôi đi. Kêu bác sĩ đến... Con nhỏ giúp việc nó về nhà rồi, tôi không thể để cho Lài nằm một mình. Tôi phải về...


Hai hàm răng tôi rung cộp cộp. Tôi kêu xe đến nhà một ông bác sĩ quen. Trì trệ quá là cái ông này! Tôi không thể đợi được bảo xe kéo về nhà Lài trước. Tôi còn nhớ, lúc ấy vào cuối năm. Ngày nóng như nung nấu, nhưng về đêm thì lạnh. Nhưng tôi sợ... đến nỗi mồ hôi toát ra đầy trán và cổ, tôi đập cửa. Tay tôi lại càng run. Nhưng Kích hình như đã đợi sẵn rồi lên chạy ra mở liền. Không nói năng gì hết, y dắt tôi lên lầu. Tôi ngửi thoáng thấy mùi nhang thơm. Hình như trong cơn sảng sốt vì vợ đau, Kích không biết làm gì khác, đã đốt nhang cắm lên bàn thờ bà mẹ sinh của Lài để cầu xin cho Lài thoát tai nạn, hết bịnh tật. Tôi nghĩ thầm như vậy.


Đến khi lên lầu, anh ơi tôi cảm thấy đúng là có một cái gì đâm nhói vào ngực tôi. Đứng trước giường của Lài, tôi thấy em nó sọp hẳn lại như một người già lắm, tóc xõa xuống hai vai, che lấp cả trán, còn đầu thì nghẹo về phía sau, trên cái gối vuông. Môi nó nhợt màu chì, miệng há ra như tắt thở, mà đôi mắt thì lờ đờ không có chút sinh khí.


Tôi vừa định chạy lại đỡ lấy đầu em thì một cái gì ngáng chận tôi lại, làm cho tôi chạng vạng. Thì ra đó là con Mi mẹ, không biết nhảy từ đầu giường xuống đất từ bao giờ, vừa chạy quẩn chân tôi vừa kêu “ngào ngào” làm cho tôi bị vướng. Tôi hỏi Lài, Lài không đáp. Hình như em tôi kiệt sức. Tôi cầm lấy tay nó rờ xem nóng lạnh ra sao, thì lần này con Mi mẹ nhảy hẳn lên giường, chúc đầu vào tay tôi rồi nhảy xuống sàn gác, rồi lại nhảy lên và lần này nó áp đầu vào mặt em Lài như thể muốn truyền hơi nóng của nó vào cho em vậy.


Tôi đẩy khẽ Mi mẹ sang một bên, nhưng Kích chưa vừa ý, sừng sộ nắm lấy cổ nó bóp, nghiến răng lại mà bóp cổ như điên. Tuy nhiên con mèo không chú ý đến sự tức giận của Kích, vừa toài ra thoát khỏi tay Kích lại lấy đầu vuốt tay Lài, đoạn, quay lại chúi vào lòng tôi, giương hai con mắt lên nhìn, thỉnh thoảng lại quất cái đuôi chìa khóa ngắn ngủn sang bên này, bên kia.


Đến lần này, Năm Kích không thể chịu đựng được nữa. Trong nhà có người đau nặng, không biết sống chết ra sao, mà con mèo cứ luẩn quẩn ở cạnh làm vướng tay vướng chân như thế, ai mà lại chẳng bực mình?


Năm Kích cầm cái chổi quật nó lia lịa, quật vào đầu vào cổ, vào lưng. Chưa hả giận, Năm Kích đánh nó nữa, đánh như đánh đòn hội chợ. Tôi không lấy thế làm ngạc nhiên, nhưng cơn tức giận lúc ấy của y đối với con Mi mẹ thật quả là vũ phu, tàn nhẫn. Kích túm lấy con mèo, bóp cổ nó, xoay bốn năm vòng rồi chạy ra cửa sổ, tóm bốn chân nó lại ném thật mạnh từ trên gác xuống dưới đường.


Thường thường, quăng con mèo từ trên cao xuống đất, ít khi nó bị thương nặng vì gần đến đất thì nó duỗi chân ra để đỡ được, rồi lại đứng dậy đi – cùng lắm là đi cà nhắc. Tôi không hiểu lúc Năm Kích ném con Mi mẹ xuống hè đường thì có suy nghĩ khi nắm cả bốn chân nó lại mà ném một cái rất mạnh xuống đất không, nhưng sau đó một hồi lâu, tôi không thấy nó lên gác nữa. Tôi nghĩ thầm: “Ném như thế thì nó chết mất, chớ còn gì!”. Và tôi hỏi Kích:


“Sao dượng Năm dữ thế? Ném con mèo như thế, nó sống làm sao nổi?”.


Kích nói lầm thầm trong miệng: “Chết bỏ”.


Quả nhiên tôi nói đúng: sáng hôm sau chị người làm đến thì thấy con Mi mẹ chết cong queo ở giữa đường, đầu nát ra và ở giữa miệng thì có máu trào ra cả vũng.


Nhưng đó là chuyện sau. Ném xong con Mi mẹ xuống đường rồi, Kích băn khoăn hỏi:


“Chị Tư đã kêu bác sĩ giùm chưa mà đến bây giờ vẫn chưa thấy lại.”


Tôi không dám nói to, chỉ gật đầu ra hiệu mà mắt vẫn không rời Lài. Con mắt sao kỳ quá! Cứ đảo đi đảo lại hoài. Thỉnh thoảng, tôi lại thấy em đưa lưỡi ra liếm mép, tuồng như nóng ở trong người quá độ. Tôi lo sợ hết sức, nhất là cái miệng của Lài lại hé mở như bí thở, mà thỉnh thoảng lại đưa ra mấy tiếng khè khè như người bị sặc nước. Tôi nghĩ: “Chuyển bịnh gì mà lẹ thế này! Sáng nay mới gặp đã có biến chứng gì đâu?”.


Ở bên kia giường, Kích ngồi ủ rũ trên một cái ghế bành, nắm tay lại rồi lại mở tay ra, lẩm bẩm gì ở trong miệng, tôi không nghe rõ. Sau mãi, tôi mới biết là Kích hỏi tôi:


“Chị Tư thấy thế nào? Có đáng ngại không hở chị?”.


Có đáng ngại đến mấy thì tôi cũng không dám nói thật với Kích những điều nhận xét của tôi.


May làm sao, tôi chưa kịp trả lời thì tiếng xe hơi thắng ở trước cửa. Kích vội chạy xuống dưới nhà, đưa ông bác sĩ lên. Nghe ngực, xem mắt, coi mạch, không còn thiếu thứ gì. Ông ta ngồi ở mép giường, cầm cổ tay Lài lần nữa mà mắt thì nhìn trân trân vào cái đồng hồ đeo tay của ông ta. Ông lắc đầu. Vẫn còn sợ ông ta nói gì để cho Lài có thể nghe thấy, tôi đưa một ngón tay ra hiệu cho ông đừng nói. Nhưng ông ta cứ nói: “Vô ích, bà ấy có nghe thấy gì nữa đâu!”.


P P P


Chưa bao giờ tôi thấy đau lòng đến thế! Lài chết đi, tôi đã khổ sở rồi, lại trông thấy Kích gục đầu xuống khóc, nức nở, khóc thảm thiết, thú thật tôi muốn chết luôn theo Lài lúc đó.


Đàn ông mà trông thấy người khác khóc có thể cho thế là thường nhưng đàn bà mà trông thấy một người đàn ông khóc thì là tất cả cái gì thê thảm nhất, chua xót nhất. Kích gục đầu xuống cạnh xác vợ, úp hai tay vào mặt khóc kinh khủng, khóc rùng rợn, có vẻ muốn đập đầu xuống thành giường.


Một lát sau, cả ba chúng tôi lui ra ngồi trên cái đi văng kê bên ngoài. Chúng tôi cố sức mãi mới giữ được bình tĩnh để tìm hiểu xem có những việc gì đã xảy ra. Bác sĩ an ủi Kích chớ nên sầu thảm quá. Phải can đảm để lo việc ma chay mới được. Bà ấy đau tim đã lâu quá rồi... Thôi thế cũng là giải thoát... Cho đến bấy giờ, khoa học Âu Mỹ đã tìm ra được thứ thuốc đau tim nào thực kiến hiệu đâu!


Bác sĩ đi rồi, tôi quay lại ngồi bên em Lài... Tội nghiệp, đương yêu đời như thế, được chồng thương yêu như thế, tự nhiên lăn ra chết không kịp trối trăn một lời nào với tôi!


Tôi nhìn từng nét ở trên mặt Lài. Da em xanh nhợt, môi tím, hai bàn tay trước kia đẹp là thế, bây giờ cứng đơ như hai bàn tay gỗ. Nước mắt tôi chảy xuống ròng ròng. Tôi không muốn cho người ta liệm Lài. Mọi người kéo tôi ra chỗ khác.


Liệm Lài, họ dắt tôi ra chỗ khác. Tôi vào nhìn mặt em một lần chót thì... thì có phải tôi hoa mắt, hay là thực sự như thế. Tôi thấy mặt em tươi hẳn lại và đẹp không kém gì lúc sống.


Sau hôm mở cửa mả, Kích mời tôi về nhà ăn cơm vì có mời thầy chùa về làm lễ cầu siêu ở nhà.


Chúng tôi ngồi ở trong phòng khách dưới nhà. Tôi nghe thấy tiếng Mi con kêu “meo meo” ở trên gác. Con Mi sốp vờn một mảnh giấy ở trước cửa ra vào. Trông thấy con Mi sốp và nghe thấy tiếng Mi con, sực nhớ đến Mi mẹ bị quật từ trên gác xuống đường, giập óc ra ra mà chết, tôi nhớ lại lúc em Lài còn sống, yêu thương ba mẹ con Mi vô hạn, và tự nhiên tôi thấy thương Mi con, muốn kêu nó xuống cho ăn một chút sữa hay vứt cho một miếng đồ. Mi sốp còn nhỏ, vô tư lự, nhưng Mi con! Tôi biết rằng lúc em Lài bịnh, Mi mẹ và Mi con không rời em tôi, quanh quanh quẩn quẩn hết ở chân giường lại lên đầu giường nằm cạnh em Lài ra cái vẻ hai nữ khán hộ chăm nom cho người bịnh. Bây giờ, Mi mẹ chết rồi, tôi thương Mi con và coi như nó sống lẻ loi, trơ trọi, bồ côi, bồ cút. Phải, tôi định kêu nó xuống, nhưng chưa kịp gọi Mi con xuống, Kích đã rơm rớm nước mắt hỏi tôi:


“Chị Tư, bây giờ tôi còn biết làm ăn ra thế nào? Sống làm sao nổi hở chị Tư?”.


“Việc đời lắm lúc, tưởng bí hết, không còn lối thoát, nhưng rút lại rồi cũng đâu vào đấy hết. Trường hợp của dượng Năm thường lắm: tôi ở gần đó, sẽ chăm nom nhà cửa cho dượng, sai bảo người làm phải chu đáo miếng ăn giấc ngủ cho dượng, và tôi sẽ đi đi về về như trước, chớ có gì đâu?”.


Kích bảo tôi đem con Mi con và Mi sốp về nhà nuôi. Để ở đây, không ai trông nom coi sóc nó. Tôi đi vắng luôn, sợ chúng nó buồn, phải không hở chị? Thêm nữa, ở nhà này, nó nhớ mẹ và nhớ cả vợ tôi trước kia săn sóc trông nom chu đáo, chúng nó cứ ngao ngao cả ngày, nhất là con Mi con, nó gào cả đêm, rợn tóc gáy luôn, không ngủ được.


Gọi là Mi con nhưng bây giờ nó đã lớn gần bằng mẹ nó rồi. Không biết làm sao khác tôi đành phải đem về nhà nuôi vậy. Thú thực, tôi cũng yêu mèo yêu chó, nhưng vừa vừa thôi, chứ không quý hóa, tưng tiu như Lài. Không hiểu vì thương em mà thương lây đến con mèo của em, hay vì lý do gì khác, tôi thấy trìu mến Mi con một cách lạ và lắm lúc tôi đã nghĩ rằng sinh thời Lài có lẽ em cũng chỉ quý Mi mẹ, Mi con đến thế là cùng.


Bây giờ, Mi con không rời tôi nửa bước. Tôi nhớ lại lúc sống, Lài đã nói với tôi: “Giống mèo nó khôn ngoan và bí mật không chỗ nói, chị Tư à?”. Đến lúc này, tôi thấy lời nói của Lài có lẽ đúng. Ai cũng cho rằng chỉ có chó mới khôn, nhưng tôi thì thấy có trường hợp mèo cũng khôn như chó, mà có khi khôn hơn chó nữa. Tôi nhớ đêm mưa lạnh, tôi không ngủ được, ngồi đọc chuyện, con Mi con ngồi ở trên vai tôi. Nếu là mười một mười hai giờ khuya, không nói làm gì, nhưng nếu tôi thức đến một hai giờ sáng, nó nhảy xuống, đè lên cuốn truyện của tôi, có vẻ như buộc tôi đi ngủ.


Tôi đi ngủ, bao giờ nó cũng nằm ở ngoài mùng, sát cái gối đầu của tôi. Cứ đúng bảy giờ sáng, nó lấy một bàn tay khẽ quào vào đầu tôi, kêu dậy – mà không phải một lần hay hai lần, nhưng cả tháng trời như thế.


Lại có một hôm khác, tôi có việc đi vội, quên không khóa cửa. Mi con chạy theo tôi, quấn lấy chân; bảo đi về, nó chạy về liền nhưng ngay sau đó, quay lại, đuổi theo tôi. Tôi lấy làm lạ đi theo nó về xem có chuyện gì thì ra cái cửa chỉ khép lại mà chưa khóa. Tôi khóa cẩn thận rồi đi, lần này nó mới chịu thôi, không theo nữa.


Kỳ quá, phải không anh? Thế là nghĩa làm sao? Anh đọc sách, có phải vẫn thấy nói giống mèo có “giác quan thứ sáu” phải không? Giác quan thứ sáu là cái gì? Để hôm nào rảnh rỗi, anh phải giải thích cho tôi nghe mới được?”.


P P P


Bây giờ nói tiếp chuyện của tôi và Kích. Đó, Kích và tôi hồi ấy sống như thế đó, cả hai cùng buồn khổ, nhưng tôi còn có con mèo làm bạn và một số “mèo” bao ăn bao chơi, khi thì lên Thủ Đức ăn nem, tắm suối Xuân Trường, khi thì vào Kim Chúng đánh bài tài sỉu, ru lét, lúc lại coi hát bội, xem cập với kép Hai Thắng (sau này là Bầu Thắng).


Còn Kích thì ra sao? Tôi không biết kỹ, nhưng nghe các cô bạn tôi kể lại thì từ khi vợ chết, y không dính cô nào hết, làm công việc gì xong xuôi thì về nhà, uống một hai ly cô-nhắc, thế thôi!


Cách một vài ngày, tôi lại sang thăm Kích hay là Kích tới thăm tôi. Thế rồi... việc đó xảy ra lúc nào không biết – Anh đã nghe kịp tôi nói gì chưa? Phải, việc đó đã xảy ra.


Thoạt đầu, tôi nhận thức không mấy rõ ràng. Tôi cứ tưởng mình coi sóc, trông nom cho một người góa vợ là chuyện thường, chứ có gì lạ đâu. Hơn thế, hai đứa chúng tôi há chẳng cùng yêu thương Lài đó sao?


Miền Nam, không có bốn mùa như ở Bắc, mà chỉ có hai mùa mưa và nắng. Thời giờ trôi đi êm đềm. Hồi đó người ta sống thanh thản, chớ không vất vả tối ngày như bây giờ. Mưa thì ở nhà, chẳng tội vạ gì mà ra ngoài đường. Nằm nghe mưa lê thê, mưa dầm dề, lòng người có là sắt đá nhiều lúc cũng “Nghe thấy trời nặng nặng, nghe thấy ta buồn buồn”. Người ta bảo rằng mùa mưa ở đây khơi dậy ở trong lòng tình cảm vô vàn; đúng thật!


Tôi nghiệm thấy có lần tôi bâng khuâng chờ đợi Kích và tự hỏi tại sao Kích đến chậm thế. Có một hôm, tôi sang nhà Kích, thấy anh ta đứng tì vào cửa sổ trông ra đường, vào lúc mặt trời đang lặn. Đột nhiên tôi thấy lòng se lại! Tôi nghĩ lan man đến cuộc đời của một người đàn ông cô độc. Tôi nghĩ cứ đứng mà trông hoài ra ngoài đường như thế thì lòng buồn biết chừng nào. Tôi lại nghĩ đến các cụ ngày xưa nói không sai: “Đời có ba cái đại bất hạnh: thiếu niên đắc chí, lớn lên chôn vợ, về già chôn con”... Và lâu lắm, lâu lắm rồi, tôi thấy rằng đây là lần đầu tiên tôi thấy Kích mà không nghĩ tới em Lài!


Anh Hoàng ơi (Hoàng là người kể lại chuyện này), xin anh chớ xét lầm tôi, mà cũng đừng khắc nghiệt quá với tôi, tội nghiệp! Lúc ấy tôi đang ở vào tuổi hồi xuân. Mà nói có Trời Phật chứng minh, tôi chưa hề biết yêu bằng một mối tình chân thật bao giờ hết. Bao nhiêu chuyện mèo mỡ chỉ là một trò tiêu khiển có lợi cho mình. Yêu thật tình, yêu để mà yêu, thực quả tôi chưa biết. Hôm nay, tự nhiên tôi thấy lòng xao động và óc tôi vụt nảy ra một cái gì mới lắm lạ lắm. Có phải là tôi thương Kích và yêu Kích? Có thể, ngay lúc này tôi có thể ngã vào lòng Kích? Có thể Kích chỉ cần nói một câu, một câu mà thôi, tôi sẽ là vợ chàng, tôi sẽ đem cả cuộc đời của tôi trao cho chàng?


Nghe thấy tiếng dép của tôi bước vào phòng, Kích ngoảnh lại, và tiến về phía tôi mấy bước. Mắt chàng sáng một tia sáng khác mọi ngày. Phải chăng tình yêu đã làm cho óc chàng sáng suốt và nhìn thấy tất cả ý nghĩ đang dồn dập trong lòng tôi lúc đó? Kích tiến lại sát tôi, cầm lấy tay tôi hôn một cách thiết tha như chưa có ai hôn như thế bao giờ. Đột nhiên, có một tiếng mèo kêu ở đàng sau tôi. Tôi quay lại. Thì ra Mi con, theo dõi tôi sang nhà Kích lúc nào không biết, quấn lấy chân tôi và chân Kích, khiến anh giật mình. Chẳng biết Mi con có bị chân tôi hay chân Kích giẫm lên chân nó hay không, nhưng tôi nghe thấy nó gào lên một cách khác thường. Tưởng là gào lên vài tiếng rồi thôi, không ngờ nó cứ gào mãi, vừa nhìn tôi vừa gào, mà mắt thì xanh lè lè. Kích sôi lên, chàng bỏ tay tôi ra, nhìn bên này bên kia xem có đồ vật gì để đánh không nhưng không có gì hết, đành đuổi theo, đá nó vào bụng, nhưng không trúng đích, Mi con tránh được chui xuống gầm đi văng. Tưởng là trốn được vào đó thì nằm yên, không ngờ một lát sau, nó lại quấn lấy chân tôi và nhìn tôi với đôi mắt sáng quắc rồi lại gào lên, gào lên như không biết có Kích còn ở đó.


Tôi không nhìn Kích nhưng tôi cảm thấy anh tức giận hết sức vì hai tay anh run lên mà giọng nói của anh thì xa lạ, có vẻ như sôi máu. Thấy thế, tôi khoan thai bảo Kích:


– Anh giận làm chi cho mệt. Anh lên lầu nghỉ đi để tôi đưa nó về nhà khóa cửa lại rồi sang nói tiếp câu chuyện đang bỏ dở.


Kích gật đầu, lên gác. Còn tôi thì định đưa Mi con về nhà thật, nhưng khác hẳn thường ngày, tôi gọi, nó không chịu theo, cứ nhìn tôi mà gào.


Không hiểu ra sao, tôi đứng im một lát. Nó chạy trước tôi, vừa chạy vừa quay nhìn lại. Chiều ý nó, tôi đi theo. Nó đi chậm lại quay nhìn tôi nữa, xem có theo nó hay không. Biết tôi theo, nó đi xuống phía bếp. Tôi vẫn không hiểu nó muốn gì, nhưng cứ đi theo.


Mi con xuống bếp. Muốn vào bếp phải đi qua một cái sân đất nhỏ bằng bàn tay, có để mấy chậu cây. Ở giữa có một cây Hoàng lan, mọc cao hơn đầu người. Đến dưới gốc Hoàng lan, Mi con dừng lại, nhìn tôi. Tôi lấy tay vuốt đầu nó. Nó cúi xuống, giơ hai chân trước ra cào dưới gốc Hoàng lan. Cào một lúc khá lâu, tôi thấy một cái lọ con. Quá ánh đèn điện ở ngoài chiếu vào tôi thấy đó là một lọ thuốc, có dán một nhãn hiệu chữ nhỏ trông không rõ, nhưng tôi thấy rõ ở phía bên trái cái nhãn đó có một vạch đỏ. Tôi ngờ ngợ... Mi con nhìn tôi. Bây giờ nó không gào nữa. Tôi nhặt lấy cái lọ con, cho vào túi áo. Mi con chạy trước, tôi theo sau. Trống ngực tôi đập thình thịch. Tôi muốn té xỉu nhưng cố gắng đi ra được đến cầu thang. Tôi đứng dưới cố nói to:


– Dượng Năm ơi! Tôi về, hình như con Mi đau bụng. Tôi phải đi kiếm thuốc cho nó uống. Mai, tôi sang dượng nhé!


Về đến nhà, không kịp rửa chân tay, tôi đóng cửa bật đèn ngủ lên, giở cái lọ ra coi thì đúng như tôi nghĩ: cái vạch đỏ bên tay trái là dấu của nhà thuốc cho biết đây là thuốc độc. Ở dưới nhãn hiệu có kèm mấy dòng chữ đỏ: “Thuốc Độc, phải để xa tầm tay của trẻ em”.


P P P


Chị Tư Bình ngồi lặng một hồi, uống nước. Rồi nhìn tôi, nói:


– Nghe câu chuyện đến đây, chắc anh đã hiểu hết rồi. Đúng như vậy, lọ ấy là một lọ thuốc độc, giơ lên coi còn một ít cặn. Ngay lúc ấy tôi không biết nghĩ ra thế nào. Chẳng lẽ nào lại có thể như thế được! Tôi cố nhớ lại đời sống gia đình đã qua của Lài. Tuyệt nhiên không có gì đáng nghi ngờ, nhưng về phần tôi... Lúc ấy, tôi mới nhớ dần dần... Tôi không để ý... Đã nhiều lần, Kích phàn nàn với tôi là đời y cô quạnh quá, vợ ốm quanh năm... Rồi tôi nhớ từng cử chỉ, từng lời nói. Thì ra sống quen với đàn ông, tôi cho những lời nói ấy, những cử chỉ ấy thường, nhưng bây giờ nghĩ kỹ hơn, sâu xa hơn một chút thì ra Kích đã để ý đến tôi lâu lắm, mà chưa dám ngỏ lời. Biết đâu y chẳng có lúc đã nghĩ rằng nếu Lài còn sống, không bao giờ tôi chịu làm bạn y. Có lẽ... có lẽ lắm... Lài chết oan uổng là vì vậy. Tôi nghĩ thế, nhưng chỉ để bụng, không nói với ai.


Anh Hoàng, anh thừa biết tính đàn bà ra sao. Không có gì giữ trong lòng lâu được. Một hôm đi ăn cháo trắng tôi gặp ông Cò Mi Khánh. Tôi đem chuyện Mi con và lọ thuốc cùng cái chết của Lài ra mà kể cho ổng nghe – và tôi cũng chỉ muốn ổng nghe thôi – Nhưng sự việc đã không diễn ra đúng như tôi dự tính. Ngay đêm ấy, ông Cò Mi về nhà tôi, lấy lọ thuốc ra coi rồi gói lại, cho vào túi xách. Tôi hỏi ông lấy lọ thuốc làm gì, ông chỉ nghiêm nét mặt lại mà không nói. Ba hôm sau, Nha Công An kêu tôi, bảo khai hết đầu đuôi cái chết của Lài ra sao và nguyên nhân tìm ra lọ thuốc ở đâu. Tôi thực tình khai hết.


Kích bị bắt, về sau này nghe mấy anh em làm báo thuật câu chuyện lại, tôi mới biết là thoạt đầu Kích chối, không chịu đã đầu độc vợ, nhưng nhờ sự lèo lái khôn khéo của các nhà hữu trách và cùng những chứng cớ rành rành, không chối được. Tòa kết án Kích hai mươi năm tù.


Tôi đọc báo thấy Kích bị giam ở đường Catina. Đến khi thành án, người ta đưa y đến một trại giam không ai biết. Được chừng hai năm, tôi nghe thấy nói vì có chuyện lôi thôi ở trong trại giam, y bị một bọn anh chị lấy một thanh tre vót nhọn đâm vào hai con mắt. Hình như anh đã chết không ai biết.


Tôi trở lại sống cuộc đời khi trước, nhưng chán nản hơn vì mỗi ngày mỗi già đi, bạn bè cũ mỗi người đi một ngả, không còn đâu những ngày vui cũ nữa. Tôi lập cái miếu thờ hai mẹ con con Mi rồi bán nhà đi lên trên đây lập cái am này lấy tiếng mõ câu kinh để dẹp niềm tục lụy và chờ ngày chết.


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học, 2002.


www.trieuxuan.info








[1] Trà Vinh.




[2] Một loại chó nhỏ, mặt tròn, tai nhỏ, trông nửa như cocker nửa như épagneuil.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Anh Nhoàng - Triệu Văn Đồi 07.07.2017
Thần sông - Trịnh Bích Ngân 30.06.2017
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
Nghĩa địa bên sông Chanh - Ngọc Toàn 07.06.2017
Hoa khôi xứ Mường - Ngọc Toàn 01.06.2017
Ông chéo ngà, Bà rách tai - Ngọc Toàn 01.06.2017
Kẻ vô ơn - Ngọc Toàn 01.06.2017
Đầu Phạm Nhan - Ngọc Toàn 01.06.2017
Rắn hổ mang chúa - Ngọc Toàn 01.06.2017
xem thêm »